1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Ảo tưởng vượt đỉnh 630 của một số chiên da CK

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi vikki, 17/02/2010.

1284 người đang online, trong đó có 32 thành viên. 01:13 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 3805 lượt đọc và 20 bài trả lời
  1. Viva97

    Viva97 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    28/09/2007
    Đã được thích:
    17
    TS Cao Sỹ Kiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia: Ba việc cần làm Thứ bảy, 13/02/2010, 20:18 (GMT+7) * Ông nhận định gì về kinh tế Việt Nam năm 2009?

    * TS CAO SỸ KIÊM: 2009 là một năm khó khăn nhất nhưng vẫn là năm thành công của kinh tế Việt Nam. 2 mục tiêu quan trọng nhất: GDP và lạm phát đều đạt được. Nguyên nhân thành công ở đâu? Chủ yếu là do điều hành, từ chống lạm phát sang chống giảm phát với hệ thống giải pháp rất đồng bộ, sát với tình hình Việt Nam. Chúng ta cũng đã huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của dân, của doanh nghiệp để lãnh đạo, thực hiện đồng bộ các giải pháp, có điều chỉnh, bổ sung liên tục.

    [​IMG]
    TS Cao Sỹ Kiêm
    * Bước sang năm 2010, theo ông đâu là thách thức lớn nhất?

    * Tất cả các mặt đều phát triển nhưng chưa bền vững, cân đối vĩ mô chưa ổn định, bội chi ngân sách còn cao, nhập siêu lớn… Đó là tiềm ẩn, là mầm mống cho lạm phát trở lại. Mặt khác, việc chậm giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc cũng là những thách thức lớn. Tuy nhiên, cũng phải nhìn thấy những thuận lợi. Việt Nam vẫn là nơi có sức hút về đầu tư, xuất khẩu, mở rộng thị trường trong nước. Mặt khác, kinh tế thế giới và Việt Nam đều sẽ cấu trúc lại, đó là cơ hội để phát triển.

    * Thưa ông, phải làm gì để năm 2010 chúng ta có thể cập bến thành công?

    * Năm 2010, dứt khoát phải làm được 3 việc: phục hồi kinh tế nhanh, GDP không nên chỉ dừng ở 6,5% mà có thể cao hơn; chặn được lạm phát và hội nhập kinh tế phù hợp. Muốn thế, phải chuyển cơ cấu kinh tế nhanh, nâng sức cạnh tranh cho cả nền kinh tế và doanh nghiệp. Bội chi ngân sách phải giảm xuống nữa, thâm hụt và nhập siêu ít đi. Song song, phải tập trung nhiều cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Đồng thời, phải tạo bước chuyển mới về thủ tục hành chính, tạo sự hài hòa giữa tăng trưởng và an sinh, môi trường.

    Rút kinh nghiệm từ năm 2009, năm 2010 phải cụ thể hóa thật nhanh các chủ trương, chính sách, nhất là đối với việc tái cấu trúc nền kinh tế. Điều hành chính sách tiền tệ cũng cần linh hoạt hơn, để vừa chặn được lạm phát vừa kích được tăng trưởng.

    * Xin cảm ơn ông.

    LÂM NGUYÊN
  2. Viva97

    Viva97 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    28/09/2007
    Đã được thích:
    17
    Tư duy mới sau hai thập niên đổi mới

    17/02/2010 06:49:05
    Sau hai thập niên thực hiện cải cách kinh tế, nhiều thành tựu đã được chứng minh qua những con số thống kê tốt đẹp và thảo luận khá đầy đủ trong nhiều tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước
    TIN LIÊN QUAN
    Kinh tế Việt Nam đang ở đâu?
    Sau hai thập niên thực hiện cải cách kinh tế, nhiều thành tựu đã được chứng minh qua những con số thống kê tốt đẹp và thảo luận khá đầy đủ trong nhiều tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước (1). Đặc biệt là thu nhập tính theo đầu người đã tăng hơn gấp ba từ khoảng mức 300 USD năm 1989 lên mức trên 1.000USD cho năm 2008.
    Tuy nhiên trong một thế giới toàn cầu hoá, những tiến bộ của Việt Nam cần phải được đặt khung cảnh của một cuộc tranh đua, chúng ta tiến trong khi thiên hạ cũng tiến, riêng trong khu vực Đông Á, có thể các nước láng giềng còn đi nhanh hơn chúng ra.
    Có hai cách để phân tích. Thứ nhất, phân tích mổ xẻ những đặc điểm của bản thân để rút ra những điểm yếu, điểm mạnh, hay các cơ hội và thách thức có ý nghĩa quan trọng để tìm ra hướng đi phù hợp.
    Một cách khác để phân tích là so sánh bản thân và các nước xung quanh để biết được tương quan về lực lượng, những lợi thế và nguy cơ. Hiện nay, một vài vấn đề quan trọng cần đặt ra trong bối cảnh hội nhập là:
    Trong 20 năm qua, đổi mới đã đem lại những chuyển dịch cơ cấu kinh tế ra sao và những thách thức gì đang đặt ra trong bối cảnh hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu?
    Có cần một tư duy mới để “phát triển toàn bộ nền kinh tế xã hội” thay vì chỉ nhắm độ tăng trưởng cao hàng năm?
    Như đã nêu trên, kể từ năm 1989, Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng về tăng trưởng và giảm đói nghèo. GDP trung bình đầu người đã tăng trên 10 lần trong hai thập niên vừa qua từ dưới 100 USD năm 1990 lên đến 1.000 USD năm 2008, để được xếp hạng chung vào các quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp.
    Về chuyển dịch kinh tế, các số thống kê mới đây cho thấy, tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong GDP đã tăng từ 36,7% năm 2000 lên 39,7% năm 2008; tỷ trọng khu vực nông nghiệp đã giảm từ 24,5% xuống còn 22,1%; và tỷ trọng dịch vụ giảm nhẹ từ 38,7% xuống 38,2% trong cùng thời kỳ (2).
    Mặc dù vậy, nếu nhìn vào cơ cấu kinh tế tổng quát thì biểu hiện đáng lo ngại nhất là về cơ bản Việt Nam vẫn còn là một quốc gia nông nghiệp, với trên 60% lao động nông nghiệp và 70% dân số sống ở khu vực nông thôn.
    Nếu nói về mức sống, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam còn rất khiêm tốn so với khu vực. Vào cuối năm 2008, lúc GDP/đầu người của Việt Nam vừa vượt trên 1.000 USD, thì chỉ ngang với các mức của Thái Lan, Indonesia, Malaysia từ 15 – 20 năm trước.
    [​IMG] Ảnh minh họa: VNN
    Nhìn lại đổi mới – tổng quan kết quả và những thách thức
    Cái nhìn tổng hợp
    Nhìn chung sau hơn hai thập kỷ Đổi mới, ngoài hai mục tiêu chính yếu đã đạt được trong thu nhập bình quân và giảm nghèo đói (như đã bàn ở trên), các thành tựu hay thử thách của nền kinh tế có thể tóm tắt như sau:
    Việt Nam đã thực hiện được nhanh chóng: (i) Cuộc cải cách giá cả, bao gồm: giá cả hàng hoá, giá lao động (lương bổng), giá của tiền nội tệ (tỷ giá), hay giá tư bản (lãi suất); (ii) Ổn định được nền kinh tế vĩ mô một cách tương đối; (iii) Nỗ lực mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế; (iv) Thành công trong giảm tỷ lệ nghèo đói.
    Các cải cách cơ cấu tương đối chậm chạp hơn như trong: (i) Hệ thống pháp lý; (ii) Cải cách hành chính; (iii) Cải cách hệ thống thuế; (iv) Tự do hoá thương mại trong nước cũng như nền mậu dịch quốc tế.
    Chậm nhất là cải tổ: (i) Cổ phần hoá các xí nghiệp quốc doanh,; (ii) Hệ thống nhân hàng quốc doanh; (iii) Xây dựng thể chế.
    Các vấn đề vĩ mô trong bối cảnh hội nhập
    Lạm phát và vấn đề điều tiết kinh tế vĩ mô
    Lạm phát vẫn là vấn đề kinh tế vĩ mô hàng đầu cho đến năm 2009. Thực tế cho thấy Việt Nam đã bước vào cơ chế thị trường, đã chuyển từ kế hoạch hoá tập trung theo mệnh lệnh sang dần cơ chế thị trường sau 20 năm qua.
    Cùng với đó là tiến trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào thị trường quốc tế. Hai xu thế này sẽ khiến những chỉ số vĩ mô chịu tác động của những biến thiên của thị trường, trong khi Việt Nam đang ngày càng rất cần một nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định để duy trì môi trường kinh doanh hấp dẫn, thu hút đầu tư trong và ngoài nước.
    Như vậy, đã đến lúc cần một tư duy mới về điều hành nền kinh tế và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng để đưa ra các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô hợp lý hàng năm.
    Từ nhiều năm qua, khi nói đến điều tiết vĩ mô, chúng ta thường chỉ cần đặt vấn đề với mục đích đạt mức tăng trưởng GDP cao hàng năm, nhất là mới đây, trong các năm sau 2000, phải áp dụng liên tục chính sách kích cầu nhằm gia tăng mức tổng cầu thay vì lo đến lạm phát.
    Nhưng kinh nghiệm ba năm 2007 – 2009 vừa qua cho thấy, điều tiết kinh tế vĩ mô không chỉ là khúc hát đơn điệu kích cầu lúc kinh tế suy yếu, mà còn là ngăn chặn để nền kinh tế không phát triển quá nóng.
    Thực tế cho thấy, vai trò phối hợp quan trọng chặn bớt lạm phát và điều tiết vĩ mô của các cơ quan như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính là rất cần thiết.
    Một phần áp lực của lạm phát có thể đã đến từ bên ngoài do giá cả nhập khẩu xăng dầu và vật liệu như trong vài tháng đầu năm 2008, nhưng mục đích chính của điều tiết vĩ mô là dùng các biện pháp tiền tệ và tài khoá để làm giảm bớt áp lực đó kịp thời và ngăn chặn “tâm lý lạm phát” như kinh nghiệm trong các tháng cuối năm 2008 và 2009. Đây sẽ là điều kiện cốt lõi để duy trì được tăng trưởng bền vững.
    Kinh nghiệm tăng trưởng của 20 năm qua cho thấy 3 vấn đề nổi bật và liên hệ mật thiết sẽ được phân tích dưới đây: chiến lược tăng trưởng dựa vào tích luỹ hay đầu tư cao hàng năm của khu vực công gây nhiều thất thoát, làm cho đầu tư thiếu hiệu quả, biểu hiện bởi hệ số ICOR rất cao, và đồng thời làm cho nền kinh tế thiếu tính cạnh tranh cần thiết.
    Đầu tư
    Vấn đề hiệu quả đầu tư của khu vực nhà nước là vấn đề gây sôi nổi quanh việc bàn đến tỷ lệ thất thoát, lãng phí hay thiếu hiệu quả trong đầu tư. Thất thoát có nguyên nhân quan trọng từ sự thúc đẩy mức tăng trưởng cao hàng năm bằng đầu tư của khu vực nhà nước (nhất là các tập đoàn quốc doanh lớn), cùng sự chồng chéo, phiền nhiễu của thủ tục hành chính.
    Muốn chống thất thoát có hiệu quả, trước hết phải có bước đột phá trong cải cách hành chính, tách cơ quan quản lý khỏi kinh doanh.
    Đây là vấn đề tế nhị để bàn cãi nếu không có các số liệu chính xác. Nhưng dựa vào vài tính toán đơn giản để thiết lập hệ số ICOR khá phổ thông dùng trong các mô hình tăng trưởng dài hạn để định nghĩa mối tương quan giữa đầu tư và tăng trưởng (3) thì vấn đề thiếu hiệu quả của đầu tư ở Việt Nam khá nghiêm trọng, và đây sẽ là vấn đề số một cho việc hội nhập.
    Hệ số này cao có nghĩa là cần nhiều vốn đầu tư để tạo được cùng mức tăng dự kiến cho tổng sản phẩm GDP. Điều này giải thích tỷ lệ đầu tư/GDP rất cao và tăng nhanh từ 28% năm 1999 đến 42% các năm 2008 – 2009 (trong đó khu vực Nhà nước luôn giữ tỷ lệ cao nhất).
    Nguyên do chính là hệ số ICOR của Việt Nam đã tăng gấp đôi từ mức 3 trong các năm 1990 – 1991 lên đến 5 – 6 trong các năm gần đây. Con số gia tăng này mang ý nghĩa đáng lo ngại khi so sánh với các nước láng giềng.
    Khi ở trình độ phát triển thấp tương đương với Việt Nam vào những năm từ 1950 đến 1975, hệ số ICOR của Hồng Kông, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc chỉ dao động trong khoảng 1 đến 2, thấp hơn nhiều so với ICOR của Việt Nam hiện nay.
    Nếu giả thử Việt Nam duy trì được cùng hệ số ICOR như các nước láng giềng và từ đó tính ra được con số đầu tư cần thiết nhỏ hơn nhiều để đạt được cùng độ tăng trưởng GDP như trong thập niên vừa qua, thì có thể tính ra con số thất thoát hay lãng phí rất lớn.
    Vấn đề đầu tư thiếu hiệu quả
    Ngoài vấn đề thất thoát, vốn đầu tư còn kém hiệu quả vì Việt Nam đã và đang quá tập trung phát triển các ngành sử dụng nhiều vốn, ít lao động.
    Phải có giải pháp căn bản điều chỉnh cơ cấu để chuyển sang phát triển các ngành sử dụng ít vốn, nhiều lao động vì nguồn lao động dồi dào là một lợi thế so sánh rất lớn của Việt Nam và đồng thời giúp giải quyết nạn thất nghiệp là vấn đề xã hội lớn nhất bây giờ. Ngoài ra cần tăng cường vấn đề đào tạo lao động có năng suất cao, nhất là ở nông thôn.
    Các nước Đông Á theo đuổi chiến lược phát triển các ngành có hệ số vốn thấp nhưng sử dụng nhiều lao động trong suốt ba thập niên qua nên có được những tỷ lệ tăng trưởng kinh tế rất cao, nhưng lại giữ được hệ số ICOR rất thấp, đồng thời cũng thu hút được một lượng lao động rất lớn.
    Như vậy, vốn đầu tư ở đây không bị sử dụng lãng phí mà được tập trung vào đúng các ngành nghề phù hợp với giai đoạn đầu của công nghiệp hoá: các ngành nghề sử dụng nhiều lao động, đặc biệt là các ngành nghề làm hàng xuất khẩu.
    Kết quả là, mặc dù tỷ lệ đầu tư/GDP tăng lên rất cao từ 28% năm 1999 tới 39% năm 2004 và 43% - 44% các năm 2007 – 2008, Việt Nam vẫn chỉ đạt được tỷ lệ tăng trưởng khoảng 7% hàng năm, so với Thái Lan đã có tốc độ tăng trưởng cao nhất trên thế giới là 11,4%/năm trong giai đoạn 1987 – 1991 lúc thực hiện được mức độ đầu tư cao.
    Sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
    Môi trường đầu tư Việt Nam đã khá hấp dẫn để thu hút FDI so với các nước láng giềng, nhưng giải ngân vẫn là vấn đề nan giải do các nút thắt cổ chai về cơ sở hạ tầng, tiến độ cải cách hành chính và trình độ giáo dục nhân lực. Các cải cách cơ cấu chậm vẫn tiếp tục gây ra hiệu quả chưa cao trong điều hành đất nước.
    Vài tiền đề cho tư duy mới
    Tựu trung, như TS.Trần Văn Thọ đã đề cập (4), kinh tế Việt Nam đã có được “tăng trưởng" với độ tăng GDP hàng năm cao trong thập niên qua, nhưng vẫn chưa “phát triển” được theo đúng nghĩa toàn bộ của nó với sự thiếu tính bền vững, thiếu chất lượng cao với các vấn đề xã hội như môi trường xấu và đang trên đà huỷ hoại nghiêm trọng; nền giáo dục mỗi ngày xuống dốc, cần thay đổi để tạo sức cạnh tranh cần thiết cho nền kinh tế cho thập niên sắp tới.
    Vấn đề căn bản nhất cho tư duy kinh tế Việt Nam của thập niên tới đây là chọn lựa thể chế thích hợp cho sản xuất.
    Chúng ta nên tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu sản xuất và phân bố tài nguyên qua khu vực nhà nước bằng các tổng công ty nhà nước như đang làm mạnh mẽ, hay cần thật sự tăng cường vai trò chủ động của khu vực doanh nghiệp tư nhân? Và muốn hướng tới chiến lược sau thì cần sửa soạn ra sao trong hai năm đầu của thập niên tới?
    Yếu tố cốt lõi là mô hình tăng trưởng từ 20 năm qua, dựa trên khuyến khích xuất khẩu và đầu tư cao với FDI và đầu tư của khu vực công, cần được tái cấu trúc với một chiến lược mới nhằm vào một mô hình phát triển hài hoà hơn nhắm vào thị trường nội địa.
    Để dựa vào phát triển “nội lực”, yếu tố căn bản nhất là phải cải thiện hệ thống lương bổng và mức lương căn bản để tăng mãi lực tiêu thụ trong nước. Đây là đề tài đã được bàn cãi nhiều nhưng chưa có giải pháp cụ thể.
    Trong đề tài về tái cấu trúc nền kinh tế, TS Nguyễn Đình Cung phân tích là nền kinh tế nước ta hiện chủ yếu “phát triển theo chiều rộng” dựa vào các ngành tài nguyên và lao động chi phí thấp, và nhấn mạnh cần một “quá trình thay đổi có tính hệ thống trung và dài hạn, thiết lập nên một cơ cấu mới về phân bố và sử dụng nguồn lực của nền kinh tế một cách hợp lý và hiệu quả hơn” (5).
    Hay mới đây nhất là các kêu gọi khẩn trương tăng tốc phát triển khu vực nông thôn, nhất là nhu cầu phát triển một nền nông nghiệp sạch để giải quyết đồng thời vấn đề môi trường và hướng vào xuất khẩu các nông sản sạch đang có nhu cầu tăng cao trên thị trường khu vực (như từ Nhật Bản và Hàn Quốc) và quốc tế.
    Đây mới chỉ là vài tiền đề góp ý vào thao thức và mạch nghĩ chung hiện nay của cả nước đang ý thức được sự cần thiết của thay đổi, của một tư duy mới cho nền kinh tế xã hội nói chung và một chiến lược phát triển cho 10 năm tới nói riêng, nhưng thật sự chúng ta vẫn loay hoay quanh việc tìm ra những ý kiến và hướng đi cụ thể.
    Bài học lớn nhất cho tương lai là Việt Nam cần thay đổi tư duy lẫn chiến lược phát triển, nếu muốn phát triển bền vững trong thập niên tới để đạt các chỉ tiêu đã đề ra cho năm 2020. Chủ đề này sẽ là đề tài của rất nhiều hội thảo bàn luận kinh tế tương lai.
    TS. Phạm Đỗ Chí (Theo Đầu tư số Tết 2010)
    1. Thí dụ xem thêm sách “Đánh Thức Con Rồng Ngủ Quên”, Phạm Đỗ Chí và Trần Nam Bình (chủ biên), Thời báo Kinh tế Sài Gòn (tái bản, 2002); hay “Kinh Tế Việt Nam Trên Đường Hoá Rồng”, Phạm Đỗ Chí (chủ biên), nhà xuất bản Trẻ (2004)
    2. Báo Đầu tư, ngày 26/10/2009, trang 4; xem bài “Tái cơ cấu kinh tế: Áp lực nội tại” của tác giả Bảo Duy phỏng vấn TS. Nguyễn Đình Cung của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương.
    3. Xem Phạm Đỗ Chí, Kinh tế Việt Nam Trên Đường Hoá Rồng, chương 10, Nhà xuất bản Trẻ, 2004
    4. TS. Trần Văn Thọ (Giáo sư Đại học Waseda, Tokyo), “Qua Rồi Một Thời Đổi Mới”, bài viết dự thảo chưa in
    5. Báo Đầu tư, ngày 26/10/2009, trang 4, đã dẫn.
  3. gongchuan

    gongchuan Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    05/10/2007
    Đã được thích:
    26
    Pak nay dang co dim gia SAM de gom hang ne! Ba ban rau cung biet hoat dong kinh doanh chinh cua Sam da chin mui va dang di xuong! Nhung hoat dong kinh doanh phu dang dan dan co doanh thu va tao loi nhuan du de hap dan dau tu! Chua ke nam vua qua Sam da nhap kho Nguyen lieu dong gia re se sinh loi nhuan trong nam 2010. Thang du tam 2000ty/ vdl 600 ty thi chia dau cho het! Dem gui ngan hang, cho ngan hang vay thoa thuan cung du nuoi song ca doanh nghiep noi chi dem rai tien dau tu dai han!
  4. Buratino-buratino

    Buratino-buratino Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    05/02/2010
    Đã được thích:
    0
    Muốn xuống thì phải lên đã,muốn lên thì phải xuống đã.Cái nhìn bi quan và cái nhìn lạc quan.với bối cảnh này,người bi quan cho rằng vẫn còn nhiều khó khăn,người lạc quan thì cho rằng mọi sự đang tốt dần lên.Vậy mới là TT[r2)][r2)][r2)]
  5. dongdatu

    dongdatu Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    12/07/2007
    Đã được thích:
    8.309
    [r23)][r23)]
  6. vikki

    vikki Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    08/01/2010
    Đã được thích:
    35
    ndt nên có quyết định hợp lý trước khi có tin CPI và LSCB
  7. NTbonsai

    NTbonsai Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    09/09/2008
    Đã được thích:
    0

    Muộn mất roài ... 22 mới mở sòng :-"
  8. nguyenuong

    nguyenuong Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    29/01/2008
    Đã được thích:
    0
    Hôm nay thấy Vikki đứng ở dưới ga gào thét: Mía đây mía đây ai mua không?????^:)^
  9. goldenchance

    goldenchance Thành viên rất tích cực Not Official

    Tham gia ngày:
    13/10/2006
    Đã được thích:
    106
    Ai cũng đoán được sau tết sẽ tăng LSCB hết, còn CPI thì sau tết lúc nào cũng tăng mạnh, ngoài ra ko có tin gì hỗ trợ thị trường lên mạnh hết, vậy nên em mạn phép đoán sau tết thị trường sẽ tèo vài phiên, nhưng khó tèo sâu được. Em còn 30% tiền sẽ giải ngân nếu thị trường tiếp tục xuống 2 phiên nữa!

Chia sẻ trang này