1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Bàn về Phật học trong những ngày không buôn chứng ... (xin phép mod)

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi doquoccuong, 30/01/2011.

Có 2974 người đang online, trong đó có 15 thành viên. 04:34 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1764 lượt đọc và 30 bài trả lời
  1. doquoccuong

    doquoccuong Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    25/01/2010
    Đã được thích:
    0
    năm vừa qua em thua chứng nên buồn quá, ngồi uống cà phê với thằng bạn thân nó bảo mày nên tìm hiểu về Phật giáo đi, nó có thể giúp mày kiềm chế cảm xúc, giảm bớt lo âu, hiểu được cuộc sống, ... nói chung là nó có rất nhiều lợi ích.

    Và em đã nghe lời thằng bạn nên mấy bữa nay rãnh rỗi lên mạng đọc sách thấy cũng đỡ buồn thật các bác, đầu óc bớt căng thẳng, ... nên muốn cùng chia sẻ với các bác, không biết có bác nào giống em không.

    Đây là một trong những bài em đã đọc qua và hiểu được phần nào ... xin giới thiệu với các bác, nếu bác nào cùng quan điểm thì xin chỉ giáo hoặc giao lưu ...


    Duyên khởi và tính bất khả phân của hiện tượngÝ niệm về duyên khởi là cái nhìn trung tâm của Phật giáo về bản chất của thực tại. Nó chỉ rõ rằng “không có gì hiện hữu một cách tự thân, hoặc do bởi chính nó.” Một vật thể chỉ có thể được xác định do bởi những vật thể khác và chỉ hiện hữu trong mối liên hệ cùng nhau. Nói một cách khác, cái này sanh bởi vì cái kia sanh. Duyên khởi là tất yếu trong sự xuất hiện của hiện tượng giới.


    1. Trung Đạo.

    Kinh nghiệm sống hàng ngày khiến chúng ta cho rằng mọi sự vật đều sở hữu một cái gì đó có thực, độc lập khách quan có vẻ như là chúng hiện hữu bởi chính nó với những bản sắc tự thân. Thế nhưng Phật giáo quan niệm rằng cách nhìn thế giới hiện tượng như vậy chẳng qua chỉ là do tâm tạo. Họ gọi sự nhận thức về một hiện tượng riêng biệt do những nhân và duyên biệt lập tạo nên là “tục đế” hay “huyễn ảo”. Thay vào đó, Phật giáo đưa ra ý niệm về luật nhân quả hổ tương: một sự kiện chỉ có thể xảy ra bởi vì nó nương tựa vào những yếu tố khác. Bởi vì tất cả mọi sự vật đều là một bộ phận của cái toàn thể, thế nên không cái gì có thể xảy ra một cách riêng rẽ. Bất cứ một sự vật nào trên thế giới này chỉ có thể xuất hiện bởi vì nó được nối kết, duyên sanh và thế rồi trùng trùng duyên khởi, cùng có mặt, cùng vận hành trong một dòng chuyển biến không ngưng nghỉ.

    Cái khía cạnh vi tế nhất của duyên khởi liên quan đến mối liên hệ giữa “danh” và “danh tướng” của một sự vật. Danh tướng của một vật thể bao gồm vị trí, chiều kích, hình dáng, màu sắc hay bất cứ những đặc tính nào có thể trông thấy được. Tập hợp lại cùng nhau, chúng tạo nên cái “danh” của vật thể, tức là một sản phẩm tâm tạo gán cho một thực tại cá biệt của một vật thể nào đó. Trong đời sống hàng ngày, khi chúng ta trông thấy một vật thể, chúng ta không hề bị ấn tượng bởi sự hiện hữu của nó mà là cái giả danh của vật thể đó. Bởi vì chúng ta cảm nghiệm nó, Phật giáo không hề cho rằng nó không hiện hữu. Tuy nhiên họ cũng không bảo rằng nó có một thực tại tự thân. Phật giáo đưa ra quan điểm rằng vật thể hiện hữu (như thế tránh được chủ nghĩa hư vô đoạn kiến mà Tây phương thường nhầm lẫn gán cho Phật giáo), tuy nhiên hiện hữu này là thuần túy duyên khởi. Đây là cái mà Đức Phật gọi là Trung Đạo. Một hiện tượng giới không có một hiện hữu độc lập thế nhưng cũng không hoàn toàn phi hữu, có thể hoạt động và hành xử chức năng đúng theo luật nhân quả.


    2. Tính phi-cục-bộ của thế giới lượng tử.

    Một ý niệm gây ấn tượng tương tự như duyên khởi của Phật giáo đó là khái niệm về tính “bất khả phân” hay “phi-cục-bộ” trong Cơ học lượng tử được khám phá qua một cuộc thí nghiệm tưởng tượng nổi tiếng do Einstein, Podolsky và Rosen (EPR) đưa ra vào năm 1935 trong một nỗ lực muốn chứng tỏ rằng xác suất lý giải về cơ học lượng tử là sai lầm và học thuyết này như vậy là chưa hoàn chỉnh. Thí nghiệm này có thể được mô tả lại một cách giản dị như sau: Tưởng tượng ra một hạt phân hủy một cách tự phát thành ra 2 photon A và B. Luật đối xứng nêu rõ rằng chúng sẽ di chuyển ngược chiều nhau. Nếu A đi về hướng Tây, chúng ta sẽ khám phá ra B đi về hướng Đông. Tất cả có vẻ như bình thường, tuyệt hảo. Thế nhưng đó là ta đang quên đi tính chất kỳ lạ của thế giới lượng tử. Cũng giống như Janus, ánh sáng mang hai mặt khác nhau. Nó có thể là sóng hay hạt. Trước khi bị khám phá bởi máy dò, lý thuyết lượng tử cho ta biết rằng A xuất hiện dưới dạng sóng. Luồng sóng này không được cục bộ hóa, đã không có một xác suất cho thấy rằng A có thể được tìm thấy ở bất cứ hướng nào. Chỉ khi bị bắt gặp, A mới “biết” là nó đang di chuyển về hướng Tây. Thế nhưng, nếu như A đã không “biết” được trước khi bị khám phá là mình đi về hướng nào thì làm sao B có thể “đoán” được A đang làm gì để có thể điều chỉnh cách ứng xử cho phù hợp để được bắt gặp vào cùng một thời điểm ở hướng đối diện của A? Đây là điều khó có thể xảy ra trừ phi A thông báo cho B một cách đồng bộ về phương hướng mà nó đang đi. Điều này hàm ý rằng có một tín hiệu ánh sáng được phóng ra ở một tốc độ vô hạn, và như vậy hoàn toàn trái ngược với luật tương đối tổng quát. Bởi vì không hề có chuyện “Thượng Đế phóng ra những tín hiệu cảm ứng từ xa” cũng như không thể có “hành động quỷ ma nào ở gần”, Einstein kết luận rằng cơ học lượng tử đã không cung cấp một sự mô tả hoàn chỉnh về thực tại, rằng A phải “biết” hướng nào mình sẽ đi đến và “báo” cho B biết trước khi tách rời nhau. Ông nghĩ rằng mỗi hạt đều có chứa “những ẩn số” mà cơ học lượng tử đã không nắm được điều này, thế nên nó không hoàn chỉnh.

    Trong gần 30 năm, thí nghiệm EPR vẫn được xem như là một thí nghiệm tưởng tượng bởi vì những nhà vật lý đã không biết phải làm thế nào để thực hiện nó. Mãi cho đến năm 1964 thì nhà vật lý học John Bell mới tìm ra một phương cách để đưa cái ý tưởng chính yếu của EPR từ nghiên cứu trừu tượng thành một dự trình có thể kiểm chứng được trong phòng thí nghiệm. Ông đưa ra một định lý toán học, bây giờ được gọi là “Bất đẳng thức Bell”, có thể kiểm chứng được bằng thí nghiệm nếu như những hạt thực sự đã có chứa những ẩn số. Vào đầu thập niên 80, nền khoa học kỹ thuật cuối cùng đã chín mùi đủ để cho nhà vật lý Alain Aspect và những người trong nhóm của ông tại Paris có thể thực hiện một loạt những thí nghiệm trên một cặp photon “tương tác” nhau -tức là những photon có những tác động qua lại với nhau- Họ khám phá rằng Bất đẳng thức Bell luôn luôn bị vi phạm. Điều này chứng minh rằng đã không có những ẩn số và như vậy có nghĩa là Cơ học lượng tử đã đúng và Einstein sai lầm. Trong những thí nghiệm của Aspect, photons A và B được giữ cách xa nhau 12m, và người ta thấy B luôn luôn “biết” ngay lập tức những gì A đang làm và có những phản ứng tương xứng. Những nhà vật lý cũng đảm bảo rằng không có một tín hiệu ánh sáng nào có thể được trao đổi giữa A và B, bởi vì những đồng hồ nguyên tử được gắn vào những máy dò nhằm khám phá A và B, cho phép họ đo lường được thời điểm đến của từng photon một cách cực kỳ chính xác. Sự cách biệt giữa hai thời điểm đến của hai photons chưa đến 10 phần tỷ giây –trong thực tế là zero, bởi vì những đồng hồ nguyên tử hiện nay chỉ mới cho phép ta đo đến mức 10^-10 giây. Bây giờ, trong khoảng 10^-10 giây đó, ta biết được rằng ánh sáng chỉ mới di chuyển được 3cm, ngắn hơn là khoảng cách 12m giữa A và B. Hơn thế nữa, người ta vẫn có cùng kết quả nếu như khoảng cách giữa hai photon “tương tác” này được gia tăng. Trong một thí nghiệm gần đây nhất do nhà vật lý Nicolas và những đồng sự của ông thực hiện tại Geneva vào năm 1998, hai photons được giữ cách xa nhau 10km, thế nhưng những ứng xử của chúng vẫn tương quan tuyệt hảo. Đây sẽ chỉ là một điều nghịch lý khi nào, như Einstein suy nghĩ, chúng ta cho rằng thực tại đã được cắt ra và cục bộ hóa trong mỗi photon. Vấn nạn này sẽ không còn nữa khi chúng ta nhìn nhận rằng A và B, một khi đã tương tác cùng nhau, trở thành một bộ phận của một thực tại bất khả phân, không cần biết đến chúng cách xa nhau bao nhiêu, ngay cả mỗi hạt ở mỗi đầu vũ trụ. A không cần phải gởi tín hiệu đến cho B bởi vì chúng cùng chia xẻ chung một thực tại. Ngành Cơ học lượng tử như thế đã loại trừ mọi ý tưởng về cục bộ và mang đến cho ta một cái nhìn tổng thể về không gian. Với hai cái photons tương tác này, ý niệm về “nơi này” và “chỗ kia” trở thành vô nghĩa bởi vì “nơi này” cũng chính là “chỗ kia”. Đó là những gì mà nhà vật lý gọi là “tính bất-khả-phân” hay “phi-cục-bộ” của không gian. Điều này cũng tương tự với ý niệm duyên sanh, duyên khởi của thế giới hiện tượng trong Phật giáo.

    3. Thí nghiệm đồng hồ quả lắc của Foucault và tính duyên khởi của thế giới vĩ mô.

    Một thí nghiệm vật lý hấp dẫn và nổi tiếng khác cho thấy tính duyên khởi của hiện tượng không phải chỉ giới hạn trong thế giới của các hạt nhưng lan rộng ra đến cả toàn thể vũ trụ là thí nghiệm về quả lắc được thực hiện bởi nhà vật lý Léon Foucault vào năm 1851 tại điện Panthéon, Paris nhằm giải thích về việc Trái Đất quay. Tất cả chúng ta hầu như ai cũng đều biết đến đặc tính của quả lắc. Với thời gian trôi, phương hướng của quả lắc cũng thay đổi theo. Nếu ta bắt đầu cho nó lắc theo hướng bắc-nam, chỉ vài giờ sau nó sẽ lắc theo hướng đông-tây. Nếu cái đồng hồ quả lắc này được đặt ở Bắc hay Nam cực, nó sẽ quay đủ một vòng 24 tiếng đồng hồ (tại Paris, do ảnh hưởng của vĩ độ, cái đồng hồ quả lắc của Foucault chỉ thực hiện được một phần của vòng quay trong ngày). Foucault nhận thức rằng, trong thực tế, cái quả lắc đã lắc cùng một hướng, chỉ có Trái Đất là đang quay.

    Tuy nhiên vẫn còn một vấn đề nan giải mà mãi cho đến nay người ta vẫn chưa hiểu được rõ ràng. Cái quả lắc của đồng hồ được thiết trí cố định trong một không gian, nhưng mà cố định tương ứng đối với cái gì? Chúng ta biết rằng cái đồng hồ quả lắc được gắn vào trong một tòa nhà và toà nhà này thì dính vào Trái Đất. Trái Đất mang chúng ta di chuyển với vận tốc 30km/giây một vòng chung quanh Mặt Trời và Mặt Trời thì cũng đang quay trong không gian với một vận tốc 230km/giây trên quỹ đạo chung quanh trung tâm của giải Ngân Hà, mà chính nó cũng đang chuyển động hướng đến giải thiên hà Andromeda với vận tốc khoảng chừng 90km/giây. Nhóm Địa Phương (Local Group) của những thiên hà, trong đó những quần tụ hùng vĩ nhất như là Galaxy và Andromeda, cũng đang di chuyển với vận tốc 600km/giây dưới sức hút trọng lực của nhóm Virgo và siêu nhóm Hydra-Centaurus. Thế nhưng nhóm sau này lại cũng đang quay hướng về Great Attractor, một quần tụ tương đương với hàng chục ngàn giải thiên hà. Như vậy cái quả lắc đồng hồ của Foucaults đã được điều khiển bởi cái nào trong những cơ cấu này? Để tìm hiểu xem thiên thể nào đã điều khiển cái quả lắc của đồng hồ Foucault, việc giản dị là chúng ta đặt con lắc hướng về phía thiên thể đó. Nếu như thiên thể đó đang di động trong bầu trời, mà vẫn luôn luôn nằm ở trong hướng chỉ của con lắc, ta có thể kế luận rằng thiên thể đó là tác nhân chính trong sự vận hành của con lắc. Bây giờ chúng ta hãy để con lắc hướng về phía Mặt Trời. Sau một tháng, ngôi tinh cầu này đã chệch ra khỏi hướng của quả lắc 15 độ. Bây giờ chúng ta quay quả lắc về hướng ngôi sao gần nhất, Proxima Centauri, cách xa khoảng 4 năm ánh sáng. Ngôi sao này lưu lại trong hướng chỉ của quả lắc lâu hơn, nhưng chỉ được vài năm, kết quả cũng giạt đi. Giải thiên hà Andremoda, cách chúng ta 2.3 triệu năm ánh sáng, cũng đi giạt ra khỏi hướng nhưng chậm hơn. Thời gian duy trì trong hướng chỉ của con lắc lâu hơn và độ chệch cũng trở nên nhỏ hơn nếu khoảng cách đến thiên thể càng lớn hơn. Và rồi chỉ có những thiên hà có khoảng cách lớn nhất, tọa lạc tận cùng bờ mép của vũ trụ mà chúng ta có thể biết được, cách xa ta đến hàng tỉ năm ánh sáng là không hề đi ra khỏi hướng chỉ của con lắc.

    Kết luận mà chúng ta rút ra được từ thí nghiệm này rất mực đặc biệt: Hoạt động của con lắc đồng hồ Foucault không hề dựa vào thái dương hệ này mà là vào những giải thiên hà xa nhất, hay nói một cách đúng đắn hơn, vào toàn thể vũ trụ, điều này cho thấy rằng hầu như tất cả vật chất biểu kiến được tìm thấy trong những giải thiên hà xa xôi nhất mà không phải là những tinh tú gần ta. Như thế cái gì xảy ra ở đây, trên Trái Đất này, đều được quyết định bởi cả toàn thể vũ trụ bao la. Cái gì xuất hiện trên ngôi hành tinh nhỏ bé này đều nương tựa vào toàn thể cấu trúc của vũ trụ.

    Tại sao cái quả lắc đồng hồ lại ứng xử như vậy? Giống như thí nghiệm EPR buộc chúng ta chấp nhận rằng những tương tác hiện hữu trong thế giới vi mô vốn khác biệt với những gì được mô tả bởi khoa vật lý mà ta biết, cái đồng hồ quả lắc Foucault cũng hành xử tương tự như thế đối với thế giới vĩ mô. Những tương tác như thế không hề đặt cơ sở trên một lực hay một sự trao đổi năng lượng, và chúng nối kết với toàn thể vũ trụ. Một lần nữa, chúng ta lại đi đến một kết luận rất gần gũi với ý niệm về duyên khởi của Phật giáo: mỗi bộ phận đều chứa đựng cái toàn thể, và mỗi bộ phận đều nương tựa vào tất cả các bộ phận khác.

    4. Tánh Không hay là sự vắng mặt của một thực tại tự thân.

    Ý niệm về duyên khởi dẫn ta đi thẳng đến một cái ý niệm quan trọng thứ ba của Phật giáo (hai cái kia là vô thường và duyên khởi): đó là “Tánh Không” hay “trống rỗng”. “Tánh không” ở đây không nên hiểu là “trống không”, “hư không” hay “vắng mặt của thế giới hiện tượng” như các nhà chú giải Tây phương trước đây quan niệm, nhưng là một vắng mặt của hiện hữu tự thân. Phật giáo không hề tán thành bất cứ hình thái nào của chủ nghĩa hư vô. Tánh không chẳng hề mang ý nghĩa là không hiện hữu. Nếu bạn đã không thể bàn về thực hữu thì bạn cũng không thể nói về phi hữu. Thế nên theo Phật giáo, tìm hiểu về bản chất phi thực của vạn pháp là một bộ phận thiết yếu trên hành trình tâm linh. Tánh không như vậy không phải chỉ là bản tánh chân thật của thế giới hiện tượng, mà còn ẩn chứa tiềm năng cho phép sự biểu hiện của cái thế giới thiên hình vạn trạng đó. Thánh giả Long Thọ của Phật giáo trong thế kỷ thứ hai đã nói: “Khi đã là không thì không có gì là không có” hay như một câu kinh nổi tiếng trong Bát Nhã Tâm Kinh: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Nếu thực tại là thường hằng bất biến thì tất cả phẩm tánh của chúng cũng thế, chẳng có gì thay đổi. Như vậy, thế giới hiện tượng đã không thể hiện bày. Tuy nhiên do bởi vạn pháp không hề có một thực tại tự thân, chúng có thể hiện bày ra muôn vẻ.

    Về vấn đề vắng mặt của một thực tại tự thân, khoa vật lý lượng tử một lần nữa cũng đã có những phát biểu tương tự khá đậm nét. Theo Bohr và Heisenberg, những nhân vật nhiệt thành ủng hộ của cái gọi là “Chú giải Copenhagen” về cơ học lượng tử, thì bây giờ chúng ta không còn có thể xem nguyên tử (atoms) và điện tử (electrons) như là những thực thể với những phẩm tánh xác định cụ thể, chẳng hạn như tốc độ, vị trí, vạch ra đồng đều trên những quỹ đạo xác định rõ. Ngược lại chúng ta phải xem chúng như là bộ phận của một thế giới được cấu thành bởi những tiềm lực chứ không phải là những vật thể hay sự kiện. Ánh sáng và vật chất có thể được xem là không có thực tại tự thân bởi vì chúng mang tính chất lưỡng tánh: có thể xuất hiện dưới dạng sóng hay hạt tùy theo thiết bị đo lường. Cái hiện tượng chúng ta gọi là “photon” sẽ là một luồng sóng khi chúng ta tắt hết máy đo và không quan sát nó. Nhưng ngay lập tức khi ta cho thiết bị hoạt động làm công việc đo lường, nó lại xuất hiện như là một hạt. Những mặt của hạt và sóng không thể cách ly được. Ngược lại, chúng bổ túc lẫn nhau. Đó là điều mà Bohr gọi là “nguyên lý bổ túc”. Như thế, ngay trong bản tánh thực sự của ánh sáng và vật chất cũng đã tùy thuộc vào những mối liên hệ duyên khởi. Nó không còn là một tự thân mà thay đổi tùy theo sự tương tác giữa người quan sát và vật thể được quan sát. Như thế nói đến thực tại tự thân của một hạt, hay là cái thực tại mà nó sở hữu khi không được quan sát là điều hoàn toàn vô nghĩa bởi vì chúng ta không hề nắm bắt được nó. Và như vậy, theo Bohr, cái ý niệm về “nguyên tử” chẳng qua chỉ là một hình ảnh tiện dụng giúp cho những nhà vật lý tổng hợp những quan sát khác nhau về thế giới hạt, thành một phối hợp chặt chẽ, luận lý có hệ thống. Ông nhấn mạnh đến tính bất khả vượt ra khỏi những kết quả của những thí nghiệm và đo lường: “Trong khi mô tả về thế giới tự nhiên, mục đích của chúng ta không phải là để khám phá ra bản chất thực của hiện tượng, mà chỉ nhằm theo dõi mối liên hệ giữa rất nhiều khía cạnh của cuộc thí nghiệm, được chừng nào hay chừng nấy.” Schrodinger cũng đã từng cảnh báo chúng ta chống lại một cái nhìn thuần tuý vật chất về nguyên tử và những yếu tố cấu thành của chúng: “Tốt nhất là không nên nhìn về hạt như là một thực thể bất biến, mà ngược lại như là một sự kiện tức thời. Thỉnh thoảng những sự kiện tức thời này được nối kết lại cùng nhau và tạo ra cái ảo tưởng về những thực thể bất biến.” Ngành cơ học lượng tử như thế đã duyệt xét lại một cách cơ bản cái ý niệm của chúng ta về một vật thể, khi cho nó phụ thuộc vào sự đo lường, hay nói cách khác, vào một sự kiện. Cũng giống như trong Phật giáo, vạn pháp không hiện hữu, chỉ có mối liên hệ của chúng là hiện hữu.


    GS. Trịnh Xuân Thuận
    (Nguồn: Tạp chí Tia Sáng)​



  2. doquoccuong

    doquoccuong Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    25/01/2010
    Đã được thích:
    0
    Bà lão nghèo ngộ pháp Duyên khởi

    Viết bởi Thích Tâm Nhãn DẪN NHẬP: Ví dụ, ta vẽ một hình Tam giác đều ABC, rồi kẻ một đường trung tuyến AH, điểm H nằm trên cạnh BC, là ta có thêm hai Tam giác vuông ABH và ACH. Hai Tam giác này đều có chung một cạnh AH, tức Tam giác ABH có cạnh AH của Tam giác ACH và ngược lại. Vậy, nếu nói đến Tam giác này thì có sự ẩn tàng của Tam giác kia, nghĩa là chúng có mặt trong tương giao, hiện khởi qua nương tựa — “Cái này có thì cái kia có; cái này sanh thì cái kia sanh. Cái này không thì cái kia không; cái này diệt thì cái kia diệt”, lý ấy gọi là Duyên khởi".



    Khi đức Phật đang giảng pháp tại trú xứ Lạc-âm nước Tỳ-xá-ly (Vaiśāli), thì có một bà lão nghèo đến chỗ đức Phật đảnh lễ sát đất, bạch Phật:
    - Thưa Thế Tôn! Con có điều muốn hỏi.
    - Lành thay! Bà cứ hỏi.
    - Sanh từ đâu đến và đi về đâu? Già, bệnh, chết từ đâu đến và đi về đâu?…
    Đức Phật bảo: “Hay thay! Hỏi như vậy rất hay. Sanh không từ đâu đến và cũng không đi về đâu. Già, bệnh, chết không từ đâu đến cũng không đi về đâu... Các pháp đều như vậy. Ví như hai thanh cây cọ xát vào nhau phát ra lửa, lửa lại đốt hai thanh cây. Cây cháy hết lửa cũng tắt.”
    Đức Phật hỏi lại bà lão:
    - Ngọn lửa từ đâu đến và đi về đâu?
    Bà lão thưa:
    - Nhân duyên hòa hợp được lửa, nhân duyên ly tán thì lửa cũng mất.
    Phật dạy:
    - Các pháp cũng như vậy. Nhân duyên hòa hợp mới thành, nhân duyên ly tán tức diệt. Pháp không chỗ đến và không chỗ đi… Ví như cái trống không phải do một thứ mà thành. Khi khởi sự muốn thành phải có da, có cây, người cầm dùi đánh vào trống thì trống mới có âm thanh… Âm thanh đó không phải từ da, không phải từ cây, không phải từ dùi trống của người cầm, phải hợp các thứ lại mới thành tiếng trống. Âm thanh từ chỗ không, nên cuối cùng là không. Vạn vật đều như vậy, vốn thanh tịnh không có nhân tạo ra pháp, pháp cũng không có sở hữu… Các pháp không chỗ đến và không chỗ đi… Sanh tử cũng vậy, mỗi thứ tùy theo sự hoạt động của nó mà thành. Như tai họa, đọa vào địa ngục, sinh lên trời hay làm người thế gian cũng thế... không phải tự nhiên mà có.
    Bà lão nghe rồi vui mừng hớn hở nói:
    - Nhờ hồng ân của đức Thế Tôn con đắc được pháp nhãn, tuy thân thể già yếu cũng được khai ngộ.
    A-nan chỉnh y phục quỳ gối bạch Phật:
    - Thưa Thế Tôn! Vì sao bà lão có trí tuệ như vậy, vừa mới nghe Phật thuyết liền khai ngộ?
    Phật bảo A-nan:
    - Bà lão này tiền thân đời trước là mẹ của ta. Bà có phát tâm học đạo.
    A-nan lại hỏi:
    - Là mẹ tại sao bần cùng khốn khổ thế?
    Phật bảo: “Thuở quá khứ, vào thời đức Phật Câu-lưu-tần. Ta muốn làm Sa-môn nhưng Từ mẫu thương mến không cho ta đi, ta buồn rầu bỏ ăn một ngày. Vì thế, năm trăm đời bà sanh ở thế gian bị nghèo khổ. Đời này thọ mạng hết, bà lão sẽ sanh về cõi Phật A-di-đà, trải qua sáu mươi tám kiếp mới thành Phật, hiệu là Ba-kiền. Nước đó gọi là Hóa Hoa.”
    Đức Phật nói kinh xong, bà lão, A-nan, các vị Bồ-tát, Tỳ-kheo Tăng… đều vui mừng đảnh lễ thối lui.
    Phật thuyết kinh bà lão nghèo ngộ pháp Duyên khởi.
    LỜI KẾT:
    Vào mùa hè, nghe tiếng ve sầu kêu râm ran, nhìn các sân trường hoa phượng nở rộ, cảnh trí ấy càng gợi nhớ nhiều về tuổi học trò. Rồi Thu sang, Đông đến, tiếng ve im bặt, phượng vĩ thay lá, tuổi học trò qua đi, có mấy ai tự thắc mắc thế giới hiện tượng xung quanh: những chú ve kia đi đâu lúc đổi mùa, và lẽ nào màu phượng đỏ chỉ có khi hè về?
    Song, cách đây gần ba ngàn năm, có người tư duy về thế giới hiện tượng ấy: “Do đâu mà có già, chết?... Do sanh mà có già, có chết… Không sanh thì không già, không chết, sanh diệt thì già, chết diệt”. Đó là lý Duyên khởi mà đức Thế Tôn tư duy, chứng ngộ dưới cội Bồ-đề.
    Tất cả sự vật trong thế giới hiện tượng đều do những điều kiện nhân duyên mà có đến, có đi, có sanh, có diệt; khi đủ điều kiện nhân duyên thì chúng biểu hiện, nhân duyên vắng mặt thì chúng rút lui. Bản chất thực tại của chúng không đến, không đi, không sanh, không diệt. Cho nên đức Phật giải thích, sanh, già, bệnh, chết, không từ đâu đến cũng không đi về đâu. Lửa cháy trong cây, âm thanh tiếng trống cũng thế; đọa vào địa ngục hay sanh lên trời, làm người thế gian… cũng thế, do vô minh duyên hành (tạo nghiệp thiện hay bất thiện) mà có như vậy.
    Thuyết Duyên khởi trên là tư tưởng đặc hữu của đức Phật chứng ngộ, về sau các Luận sư lấy đó làm giáo lý căn bản, phát triển thành các giáo thuyết thuộc hệ thống Duyên khởi luận, như: Nghiệp cảm duyên khởi, tức do sức nghiệp thiện hoặc ác mà có quả báo thiện hoặc ác. A-lại-da duyên khởi, là do chủng tử (hạt giống) tích chứa trong A-lại-da thức (tàng thức), gặp duyên thì hiện hành, từ hiện hành huân lại chủng tử, như thế làm nhân làm quả xoay vần. Do đó mà bà lão tuy già, nghèo khổ nhưng hạt giống học đạo tiền kiếp của bà không mất, khi nghe Phật giảng liền giác ngộ. Và do đời trước lúc làm mẹ gây cái nhân không cho đức Phật xuất gia mà chịu cái quả nghèo khổ nhiều kiếp.
    Bà lão thương mến ngăn cản Phật xuất gia bị nghèo khổ là hình ảnh ẩn dụ giống chuyện thí dụ trong kinh Pháp hoa (phẩm Thọ ký 500 vị đệ tử): Một người nghèo có viên ngọc quý (Phật tính) trong chéo áo mà không hề hay biết, cứ sống đời bần hàn. Mười lăm năm sau, người nghèo kia gặp lại bạn thân mách bảo, có viên ngọc trong áo, mới hết nghèo khổ, trở thành giàu sang. Cũng thế, con của bà lão là vị Phật tương lai, tức Phật tính trong người bà, bà lại ngăn cản, như đánh mất Phật tính (viên ngọc) của bà, nên bị khổ năm trăm kiếp, rồi được Phật khai thị, thọ ký đời sau thành Phật. Ý kinh ở đây là nói đến Chân như duyên khởi, Như lai tạng duyên khởi, tức hết thảy chúng sanh đều có Phật tính, vì duyên nhiễm tịnh mà sinh các pháp, nhưng Phật tính không mất.
    Năm xưa, đức Thế Tôn giảng lí Duyên khởi cho bà lão ngộ. Nay chúng tôi vay mượn văn tự diễn đạt cho mọi người hiểu. Song chúng ta muốn hiểu và ngộ phải vượt thoát khỏi phạm trù ý niệm ngôn ngữ, thể nghiệm qua đời sống thực tại, sống với cái muôn đời của cuộc sống, trước sự sống-chết, vui-buồn, còn-mất, thắng-thua, có-không… tịch tĩnh, vắng lặng.
    Nguồn: Tập san Pháp luân 54



  3. NameoftheRose

    NameoftheRose Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    28/04/2010
    Đã được thích:
    7
    Những điều này nếu muốn tìm hiểu kỹ thì nên đọc cuốn "Cái vô hạn trong lòng bàn tay" của GS Trịnh Xuân Thuận và Mattheiu Richard,rất hay.Nhưng theo tôi,đạo Phật chủ trương dùng sự chiêm nghiệm của bản thân để tìm hiểu về con đường đạo,tức dùng cái trí tuệ "Bát Nhã' để thấu hiểu về con đường Đạo,hơn là dùng kiến thức bình thường để lý giải về Đạo.Chúc vui[};-[r2)]
  4. doquoccuong

    doquoccuong Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    25/01/2010
    Đã được thích:
    0
    Cám ơn bác đã chia sẻ, nhất định em sẽ đọc "Cái vô hạn trong lòng bàn tay", vì những bài viết của GS Trịnh Xuân Thuận rất hay. Chúc bác một năm mới vạn sự như ý. ... [r2)]
  5. 7272

    7272 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    12/04/2010
    Đã được thích:
    4
    thế e mạo muội hỏi bác một câu đơn giản nhé,...mục đích của bác khi học Phật là gì nào?
  6. skipchus

    skipchus Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    23/01/2010
    Đã được thích:
    0
    đạo phật có thể lý giải 1 cách thuyết phục mọi sự vật sự việc tồn tại trên cõi đời, đây là điều tuyệt diệu nhất trong lịch sử hàng ngàn năm của loài người :)
  7. 7272

    7272 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    12/04/2010
    Đã được thích:
    4
    Đạo Phật là đạo giải thoát và tuyệt nhiên rất bình đẳng,...Đức Phật đã từng tuyên bố : "Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành" ..con người vốn dĩ khi lọt lòng bản chất đã chất chứa Phật tính bên trong,.nhưng do trôi lăn lâu ngày trong cuộc sống tấp nập nên đa số đã không còn nhận thức được những việc cần làm,..
  8. solidvnt

    solidvnt Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    23/12/2010
    Đã được thích:
    0
    nhầm rồi, vấn đề với mỗi người là pải tự lo cho mìmh thôi
  9. ttvndotcom

    ttvndotcom Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/09/2008
    Đã được thích:
    0
    Đạo Phật dùng chiêm nghiệm định tính giác ngộ bản chất vũ trụ.
    Khoa học phương Tây dùng toán học định lượng để tìm hiểu bản chất vũ trụ.
    Hy vọng đến 1 lúc nào đó, cả 2 đều đi đến cùng 1 cái đích duy nhất. Đó là lúc nền văn minh loài người diệt vong/
  10. NameoftheRose

    NameoftheRose Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    28/04/2010
    Đã được thích:
    7
    Câu hỏi này của bác chả đơn giản chút nào[:D] Nhưng cái mong muốn đầu tiên của đại đa số những người mới bắt đầu tìm hiểu đạo Phật chính là tìm cho mình sự bình yên cho tâm hồn của mình(sự thanh tịnh về TÂM) do trong cuộc sống có nhiều phiền não(mà Đức Phật Thích Ca gọi là KHỔ:-??)
    Ai chưa thấy cuộc đời là khổ thì thường khó chấp nhận các thuyết của nhà Phật[:D]

Chia sẻ trang này