1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Bất động sản khi nào phục hồi

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by shamanho, Nov 17, 2010.

Có 3433 người đang online, trong đó có 31 thành viên. 01:18 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 1)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. shamanho

    shamanho Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Dec 23, 2007
    Likes Received:
    0
    Cổ phiếu bất động sản có còn sức hấp dẫn?

    http://*********.vn/ImageView.aspx?ThumbnailID=23012

    (*********) - Kết thúc 9 tháng đầu năm, kết quả kinh doanh của hầu hết doanh nghiệp bất động sản niêm yết tương đối khả quan, thậm chí nhiều công ty lãi lớn. Tuy nhiên, cổ phiếu bất động sản không hấp dẫn do bối cảnh chung của nền kinh tế và sự đi xuống của thị trường chứng khoán. Việc dành lại “ngôi vương” của nhóm cổ phiếu ngành này còn phải cần thêm nhiều thời gian.








    Rủi ro ngắn hạn nhưng hấp dẫn là dài hạn


    Hòa chung “số phận” cùng thị trường chứng khoán, đặc biệt, không ít cổ phiếu bất động sản giảm rất mạnh dù có kết quả kinh doanh khá tốt. Tuy nhiên, triển vọng dài hạn của cổ phiếu bất động sản tương đối khả quan do thị trường bất động sản của Việt Nam còn tiềm năng lớn.
    Trong ngắn hạn nhiều doanh nghiệp bất động sản đang phải đối mặt với nhiều khó khăn rất lớn. Thị trường nhà đất gần như đóng băng trong suốt năm 2010. Trong khi đó, lãi suất đang tăng cao khiến cho dòng tiền đổ vào bất động sản bị hạn chế. Bên cạnh đó, một số quy định của Thông tư 13 do NHNN ban hành cũng sẽ tác động mạnh tới thị trường bất động sản. Trong năm 2010, dòng vốn FDI đầu tư vào bất động sản cũng có xu hướng giảm mạnh so với những năm trước.
    Như vậy, trong ngắn hạn ngành bất động sản không mấy sáng sủa. Tuy nhiên, những phân khúc nhà giá thấp, hoặc mặt bàng bán lẻ vẫn đang thu hút được sự quan tâm của người mua.
    Hiện nay, giá của nhiều cổ phiếu bất động sản lùi về vùng khá sâu. Do vậy, nhà đầu tư có thể xem xét chọn những doanh nghiệp có chỉ số cơ bản khá tốt trong ngành này cho đầu tư giá trị.


    Xuân Anh



  2. dunglotus

    dunglotus Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Aug 22, 2009
    Likes Received:
    1
    Chú này cũng có blog nữa ah. Lãi suất và lạm phát dự kiến sao chú
  3. shamanho

    shamanho Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Dec 23, 2007
    Likes Received:
    0
    Bác có nhời thì em xin thưa

    Tình hình có lẻ còn rất ban căng nhưng với "cú đấm" mạnh của NHNN thì xem ra tình hình cũng đỡ căng thăng hơn.

    Còn chú lạm phát thì ngấp nghé 10% là cái chắc
  4. Speakers

    Speakers Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Mar 26, 2010
    Likes Received:
    3
    Chờ VNI vượt 650 thì dòng tiền sẽ ồ ạt quay sang BĐS bác ạ
  5. dunglotus

    dunglotus Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Aug 22, 2009
    Likes Received:
    1
    thế ôm cổ là ôm bom ah? " Cú đấm" của NHNN tuy mạnh nhưng trúng chỗ nào bác? mịa, nó mà trúng ngay xyz thì chỉ có ăn cám. =))=))=))
  6. ctck_ssi

    ctck_ssi Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Jun 17, 2010
    Likes Received:
    0
    "Cứ loay hoay vàng, đôla, đất nước sẽ đi xuống… ruộng"
    17/11/2010 9:25:02 AM


    [​IMG]



    Nhìn nhận câu chuyện tỷ giá và vàng hiện nay, tiến sĩ Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho rằng, đáng sợ nhất là làm chính sách mà không dám giải trình với thị trường, không dám chịu trách nhiệm.



    Không thể chạy theo cơn thịnh nộ của vàng

    PV: Ông có quan niệm như thế nào về việc ứng phó với thị trường vàng lại nhảy múa điên đảo hiện nay?

    TS Võ Trí Thành: Trong những cơn bùng nổ thịnh nộ của vàng thế giới, Việt Nam vốn là nền kinh tế có năng lực còn hạn chế, dự trữ ngoại hối mỏng mà lại định chạy theo giá vàng là điều không tưởng, thậm chí là sai lầm.

    Giá vàng Việt Nam cơ bản là theo giá vàng thế giới và đó là thứ không thể điều khiển được, lực chúng ta yếu mà chúng ta chạy theo nó, thì không thể địch lại được.

    Chúng ta phải nói rõ cho người dân rằng, vàng là loại hàng hóa đặc biệt, chấp nhận cho lưu chuyển tự do, chấp nhận theo kinh tế thị trường thì đằng sau câu chuyện giá vàng nhảy múa điên đảo ấy, sẽ không chỉ do giá vàng thế giới điều khiển mà còn do thế lực đầu cơ điều chỉnh.

    Với một thị trường có đặc thù như vậy, anh là nhà đầu tư, là người chơi vàng, thì chịu trách nhiệm về kết của cuộc chơi phải chính là anh, đừng nghĩ Nhà nước đứng ra bảo hiểm cho anh khi anh bị rủi ro, thua lỗ vàng. Không có chuyện người dân nào chơi vàng mà lúc nào cũng thắng. Đến như, người nông dân một nắng hai sương, trồng cây còn có lúc thua lỗ. Đó là luật chơi thị trường.

    Cái mà Nhà nước có thể "can thiệp", giúp cho người dân là khi giá vàng thế giới nhảy nhót như thế, Nhà nước phải "chế ngự" được cơn nhảy múa ấy bằng việc hạn chế những bất ổn kinh tế vĩ mô. Bởi khi kinh tế vĩ mô ổn định, nguồn lực sẽ được phân bổ tốt hơn. Đồng tiền đó đi vào sản xuất, kinh doanh, tạo ra giá trị gia tăng, sẽ tốt hơn.

    Còn trong bối cảnh bất ổn về kinh tế vĩ mô, rất dễ hiểu là người dân chỉ lo giữ giá trị tài sản, hoặc đầu cơ thôi. Mặc dù, đầu cơ không phải là xấu, nhưng nếu một nền kinh tế còn nghèo như Việt Nam, còn cần tiết kiệm mà suốt ngày loay hoay với câu chuyện đôla, vàng, bất động sản thì đất nước ấy về dài hạn là sẽ xuống... ruộng.

    - Thưa ông, thông điệp của Chính phủ đã rõ, như giữ nguyên tỷ giá, bơm USD và cho nhập khẩu vàng. Ông có bình luận gì về động thái này?


    Tôi gọi đó là giải pháp tình huống thôi. Cách mà Nhà nước cho nhập khẩu vàng chính là giảm độ chênh lệch so với giá thế giới chứ không phải là biện pháp làm thay đổi giá vàng.

    Sự đi xuống của giá vàng sau khi có quyết định cấp quota nhập khẩu vàng chẳng hạn, là xuống trong khoảng chênh lệch với giá thế giới, chứ không phải xuống trong tổng thể xu hướng giá vàng thế giới. Bởi, giá vàng của ta vẫn do giá vàng thế giới quyết định.

    Nhưng vì bị cuốn theo giá vàng, cộng với áp lực cơ bản về lạm phát, thâm hụt thương mại,.. nên chúng ta phải chứng kiến xu hướng đồng Việt Nam mất giá nhiều.

    Việc Chính phủ tung tiền ra là nhằm bình ổn phần nào tỷ giá VND trên thị trường chính thức, qua đó, giảm bớt áp lực mất giá đồng tiền Việt Nam nhưng sẽ gây ra vòng xoáy sắp tới là lạm phát tăng.

    Đồng thời, với việc dự trữ ngoại tệ của ta mỏng, thì việc bơm tiền ấy là có thời hạn nhất định thôi, chứ Nhà nước không bơm tiền ra cho nền kinh tế mãi được.

    Cách ứng xử giỏi là ta ổn định với chính nền kinh tế của mình, hạn chế tác động của cơn nhảy múa giá vàng thế giới chứ đừng bị cuốn theo nó. Vì thị trường mạnh lắm.

    Lạm phát năm 2010 có thể là 9%

    - Có người đem VND so sánh với vàng để kêu là tiền mất giá nhiều quá. Ông nghĩ sao?


    Tôi thì không thích so giá đồng tiền của Việt Nam với vàng, mà tôi nhìn vào mức lạm phát của Việt Nam, so sức mua của tiền Việt Nam với đồng tiền nước khác. Nếu nói so với giá vàng như vậy, thì tất cả đồng tiền trên thế giới đều mất giá so với vàng hết.

    Quan trọng là chúng ta so sánh sự "mất giá" đồng tiền với thời điểm nào, với những năm 80, 90 thì sẽ là ý nghĩa khác. Như vậy, ta hiểu mất giá đồng tiền ấy là hiểu trong sự ngắn hạn thôi. Nếu ta hiểu không đúng, mà lấy chính sách chạy theo điều không đúng đó thì thật không phải, tức lấy giá trị đồng tiền Việt Nam chạy theo giá vàng mà đưa ra chính sách là hoàn toàn không nên.

    Giá trị đồng tiền của ta so với tiền nước khác và sức mua trong nền kinh tế là liên quan lạm phát. Hai vấn đề này không phải lúc nào cũng là một.

    Về đối ngoại, giá trị của đồng tiền Việt Nam với đồng khác, liên quan dòng thương mại, dòng vốn, chế độ tỷ giá với sự linh hoạt của chính sách tiền tệ. Nếu anh giữ tỷ giá cố định mà trong trung chuyển vốn, bị đôla hóa mạnh thì hiệu lực của chính sách tiền tệ là rất thấp.

    Tỷ giá là câu chuyện rất phức tạp. Mỗi biến số của chính sách tỷ giá thay đổi sẽ gây tác động nhiều chiều khác nhau. Giả sử, tiền đồng có các biến số khác thay đổi, mất giá so với USD thì người gửi USD phấn khởi, người gửi tiền đồng thì chắc cáu , anh xuất khẩu vui mừng, anh nhập khẩu buồn bực.

    Nên, tôi nói rằng, người làm chính sách vĩ mô là rất dũng cảm, chịu áp lực nhiều nhóm trong xã hội, nhưng không thể chiều lòng theo áp lực xã hội được. Anh phải quyết, làm chính sách vĩ mô thì về tổng thể, nền kinh tế được cái lợi chung. Và để làm được như vậy, nhà hoạch định chính sách phải minh bạch, giải trình với thị trường.

    - Vậy làm thế nào để ổn định nội tệ, phục hồi niềm tin với đồng Việt Nam, thưa ông?


    Phục hồi niềm tin với tiền VND cũng chính là vấn đề lạm phát và phải ổn định kinh tế vĩ mô. Bản chất của lạm phát là phản ánh sự mất giá đồng tiền thôi. Muốn ổn định và giữ lạm phát ở mức thấp, là phải thực hiện các chính sách liên quan đến cung ứng tiền tệ, chi ngân sách, tỷ giá ra sao, thời điểm điều chỉnh thế nào?

    Thứ 2 là việc ổn định kinh tế vĩ mô. Ở đó, không chỉ là vấn đề lạm phát mà còn là các biến số khác nhau như cán cân thương mại, cán cân thanh toán, thâm thụt ngân sách, rủi ro hệ thống tài chính…

    Nếu ta đang bình ổn nền kinh tế mà hệ thống tài chính có sự đổ vỡ nào đó, nợ xấu cao là gây ra bất ổn, và sẽ có nhiều hệ lụy. Không loại trừ, hệ lụy là lạm phát. Người cuối cùng đứng ra cứu sự bất ổn đó là Ngân hàng, và trong nhiều cách của Ngân hàng là tung tiền ra, lại sinh ra lạm phát, nhà đầu tư lại mang tiền đi vào tài sản tài chính khác. Người ta gọi là vòng xoáy lạm phát và đôla hóa.

    Người dân lại có thiên hướng chuyển sang đô la, tiền đồng Việt Nam càng mất giá, thì càng có xu hướng chuyển sang đôla, càng lạm phát lại càng đôla hóa nền kinh tế.

    Nhưng tâm lý người dân Việt Nam rất “hay”. Ở các nước, khi bất ổn kinh tế, người dân thắt chặt chi tiêu, còn ở ta, 5 năm qua, một mặt người dân không tin vào sự ổn định kinh tế vĩ mô, một mặt, vẫn có tốc độ tiêu dùng cao hơn cả tỷ lệ tiết kiệm, kể cả lúc bất ổn như năm ngoái do tác động khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Có thể, người Việt Nam không tin kinh tế vĩ mô ổn định trong ngắn hạn nhưng lại tin có khả năng ấy trong dài hạn?

    - Vậy, ông đánh giá thế nào về khả năng lạm phát năm nay?


    So với tháng 12/2009, lạm phát là 7,6%. So với năm 2009 là trên 9%. Nếu lạm phát tính ở thời điểm cuối năm, so tháng 12 năm nay với tháng 12 năm ngoái thì lạm phát quanh mức trên dưới 10% là có thể.

    Nếu ta xử sự chính sách đúng thì có thể giữ được mức lạm phát dưới 2 chữ số. Tuy nhiên, mục tiêu lạm phát của Chính phủ nào là 7%, rồi đổi tháng 8%, thì gần như chắc chắn không thể thực hiện được trong năm nay.

    Vài tháng trước, lạm phát có 0,2- 0,3%/tháng thì có ý kiến lạc quan cho rằng năm nay, lạm phát dưới 7%. Nhưng ngay thời điểm đó, dự báo của tôi và một số chuyên gia ở Viện cho là, lạm phát Việt Nam cuối năm nay là 8,5- 9%.

    Thông điệp chính sách phải nhất quán, đàng hoàng

    - Trở lại vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô, theo ông, đâu sẽ là khó khăn để thực hiện mục tiêu này?

    Đó là việc những vấn đề nền tảng gây bất ổn kinh tế vĩ mô của Việt Nam là lớn. Như tôi đã nói, đó không chỉ là lạm phát mà còn là vấn đề ngân sách, là thâm hụt, cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối, liên quan rủi ro hệ thống tài chính ngân hàng. Cái khó là vấn đề xử lý chính sách phải rất tổng thể, nó liên quan đến việc cần một cuộc cải cách rất lớn.

    Trong khi đó, áp lực xã hội lớn, nhiều chiều nên xử lý chính sách không dễ dàng. Trong bối cảnh như hiện này, nhiều biến số, thì bất kỳ xử lý nào cũng có thể khiến cho nhóm này được lợi, nhóm kia thiệt hơn một chút.

    Cái khó thứ 2 là nền kinh tế Việt Nam là khá mở, không chỉ là thương mại, xuất nhập khẩu, dòng vốn mà còn là vàng. Không phải biến số nào ta cũng có khả năng kiểm soát tốt được. Cách chơi của một nước mà nguồn lực không tốt, còn nhiều rủi ro bất ổn vĩ mô như nước ta, lại chơi với giá của loại hàng hóa nhảy nhót, điên loạn như vàng mà loại hàng hóa đó người Việt Nam lại rất chuộng, thì không phải dễ.

    Chúng ta không thể chạy theo vòng xoáy của vàng và đôla vì chúng ta không đủ lực. Nó nằm ngoài tầm với của ta. Khi chúng ta phải chấp nhận nền kinh tế có 2 tỷ giá chênh nhau khá lớn và như vậy, sẽ gây méo mó việc phân bổ nguồn lực.

    Nhưng cái đằng sau quan trọng hơn. Vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô là thường xuyên, lâu dài chứ không phải là nhất thời. Chúng ta phải kiên trì hơn, nhẫn nại hơn để tạo lập lòng tin cho thị trường vững chắc hơn.

    - Vậy theo ông, chúng ta nên giải quyết những vấn đề nền tảng của sự bất ổn kinh tế vĩ mô như thế nào?

    Những vấn đề nền tảng không thể giải quyết ngay một ngày nhưng có nhiều vịêc phải bắt đầu từ ngày hôm nay được. Ví dụ như thông điệp chính sách phải nhất quán, đàng hoàng.

    Biện pháp kỹ thuật của chính sách và mục đích của chính sách phải rõ ràng, không được nhầm lẫn với nhau,. Ví dụ, mục đích của ta là thắt chặt tiền tệ, chi tiêu, thì điều ấy không ngăn cản việc chúng ta đưa ra những biện pháp kỹ thuật để ******** hình bớt khó khăn đi. Khi đó, ta chấp nhận đánh đổi tăng trưởng giảm. Mà tăng trưởng chính là do đầu tư, sản xuất kinh doanh làm ra thôi, điều đó cũng nghĩa là điều kiện sản xuất kinh doanh khó khăn hơn. Nhưng với biện pháp kỹ thuật, tốt, đáng nhẽ, doanh nghiệp khó khăn 10, thì ta làm sao để họ khó khăn 6- 7 thôi.

    Sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ cần phải tốt hơn. Chính sách tài khóa là dài hạn, mất thời gian, phải chờ Quốc hội thông qua, còn chính sách tiền tệ là có thể đưa ra, áp dụng ngay. Nhưng thường thì, hai cái này là có khoảng cách với nhau. Phải làm sao, cùng một mục tiêu thắt chặt tiền tệ, một mức chi tiêu tài chính thì nguồn lực được sử dụng tốt hơn, đỡ khó khăn hơn. Nhưng ta không được lẫn biện pháp kỹ thuật và thông điệp chính sách.

    Thông điệp vừa rồi, ta chấp nhận thâm hụt 5,3% GDP nhưng còn một điều tôi chưa thấy rõ lắm là cơ chế phối hợp chính sách tiền tệ, tài khóa sẽ như thế nào. Đó còn là câu hỏi để ngỏ.

    Bài học vừa qua cho thấy, nguồn lực trong nhân dân rất nhiều. Nếu bất ổn, nguồn lực ấy sẽ không được sử dụng, thậm chí, do lợi ích, do hành vi bình thường của thị trường phản ứng trước bất ổn mà còn càng làm cho tình hình phức tạp hơn. Tôi cho đó là bài học lớn nhất.

    Với nhà hoạch định chính sách vĩ mô, đáng sợ nhất không phải là chính sách sai mà đáng sợ nhất là không dám giải trình và không dám chịu trách nhiệm. Phải rất thẳng thắn với thị trường, tôi làm chính sách này, có người có khó khăn, nhưng tôi tin là tổng thể sẽ tốt lên sau 1-2 năm nữa, và giờ, phải chịu khổ 1-2 năm.

    Rất khó có một chính sách mà ai cũng được lợi.
    (Theo VEF)​

  7. thachanhisc

    thachanhisc Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Mar 29, 2010
    Likes Received:
    0
    giờ này BDS lại chết
  8. ctck_ssi

    ctck_ssi Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Jun 17, 2010
    Likes Received:
    0
    Điều hành chính sách theo kiểu này thì chết cũng đúng thôi.
  9. shamanho

    shamanho Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Dec 23, 2007
    Likes Received:
    0
    Bác có cách nào hay không, em gửi kiến nghị lên bác Rich :-??:-??:-??
  10. shamanho

    shamanho Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Dec 23, 2007
    Likes Received:
    0
    IMF, WB "can" Việt Nam đánh đổi ổn định lấy tăng trưởng

    Tác giả: VEF



    (VEF) - "Tập trung ổn định vĩ mô, tái điều chỉnh chiến lược theo hướng tăng trưởng bền vững, thì chẳng có lý do gì Việt Nam không đạt được tăng trưởng như 20 năm qua", đại diện IMF bình luận trong cuộc bàn tròn trực tuyến hôm 12/11 trên VEF.


    LTS:
    Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2010, lựa chọn nào trong chính sách điều hành năm tới đã được đại diện WB, IMF và Viện Kinh tế Việt Nam mổ xẻ, phân tích trong cuộc bàn tròn với chủ đề "Điểm nghẽn nào cản trở kinh tế Việt Nam" hôm 12/11, do Diễn đàn Kinh tế Việt Nam - báo VietNamNet thực hiện.


    Trong phần 1
    đã được đăng tải hôm 15/11, ông Benedict Bingham, đại diện thường trú cao cấp của Quỹ tiền tệ quốc tế tại Việt Nam, đã "mổ xẻ" nguyên nhân dẫn tới sự mất giá của tiền đồng. Theo ông, Chính phủ phải nỗ lực hơn nữa để đưa ra những chính sách mạnh nhằm hồi phục lại niềm tin của những người tiết kiệm tiền đồng.

    Ở phần 2 của bàn tròn, bà Victoria Kwakwa, Giám đốc World Bank Việt Nam, đã cắt nghĩa việc Việt Nam quá tập trung vào con số tăng trưởng, không phải do áp lực từ phía WB mà do truyền thống từ lịch sử nền kinh tế tập trung của Việt Nam, một nền kinh tế quá tập trung vào kế hoạch, vào mục tiêu, vào thành tích.

    Diễn đàn Kinh tế Việt Nam trân trọng giới thiệu tiếp tới bạn đọc phần 2 với nội dung chính xoay quanh câu chuyện tăng trưởng của Việt Nam.

    [​IMG]


    Nhà báo Việt Lâm:
    Thưa ông Trần Đình Thiên, là nhà tư vấn kinh tế cho chính phủ, ông nhận thấy tư duy từ bỏ việc chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá đã có hay chưa?

    Ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam:


    Với câu hỏi này là tôi muốn bổ sung vào cách trả lời của bà Victoria. Thực tế mà nói, nước nào cũng muốn tăng trưởng cao cả, nhưng vấn đề là tăng trưởng tốn bao nhiêu nguồn lực, câu hỏi này bà Victoria đã trả lời.
    Thực tiễn cho thấy rằng, Việt Nam chúng ta tăng trưởng khá tốn vốn, vì 8, 9 đồng bỏ ra mới được 1 đồng tăng trưởng. Cái thứ hai là rất tốn tài nguyên, cái thứ ba là rất tốn lao động rẻ tiền.
    Như vậy, làm thế nào để thay đổi tăng trưởng. Tại sao lại ưu tiên tốc độ tăng trưởng mà không ưu tiên cái khác, nền kinh tế cần tăng trưởng cao nhưng nhà nước với tư cách điều hành thì ưu tiên cái nào là chính, hay tốc độ cao có phải là ưu tiên của Chính phủ không.

    Chúng ta thấy chính phủ VN hay ưu tiên tăng trưởng, khi nào thấy bất ổn thì lại ưu tiên ổn định vĩ mô. Khi tăng trưởng thấp chính phủ lại đổ tiền ra ưu tiên tăng trưởng, lúc ấy chính phủ đã hy sinh, đánh đổi cái ổn định bằng cái tăng trưởng, coi tăng trưởng làm mục tiêu trực tiếp.
    Tôi thấy nền kinh tế vẫn cần tăng trưởng cao, nhưng để thực hiện mục tiêu đó nhà nước phải ưu tiên cho ổn định vĩ mô chứ không phải ưu tiên việc đổ tiền ra để đạt được mục tiêu tăng trưởng.
    Khi nhà nước giúp cho ổn định vĩ mô, lòng tin sẽ tốt và doanh nghiệp sẽ đầu tư nhiều, lúc đó nền kinh tế sẽ tăng trưởng cao.
    Nếu nhà nước không lo ổn định mà cứ lo tăng trưởng thì cũng giống như nhiều trường hợp làm đường rất nhiều nhưng mấy ngày sau có cái hố, ô tô đi gặp phải đổ nhào ngay.
    Như vậy cách tư duy về mục tiêu của nền kinh tế đến mục tiêu gắn với chức năng của Nhà nước không phải hoàn toàn đồng nhất. Trong nền kinh tế nhiều bộ phận chức năng, mỗi ông làm một việc để cho nền kinh tế đạt được mục tiêu tăng trưởng cao một cách hợp lý, khi đó phân bổ nguồn lực mới hợp lý được, phân bổ vai vế khi đó mới hợp lý được.
    Ai đóng vai anh hề là anh hề, ai đóng vai vua là vua, ai đóng vai quan là quan, ai dân là dân chứ nếu không ai cũng thích vai vua cả thì không được.

    Tôi cho điều này là không khó thực hiện, vấn đề là nhà nước làm đúng chức năng của mình trong nền kinh tế thị trường.
    Nhưng cái khó là ở chỗ Nhà nước có đủ năng lực để làm việc đó tốt không? Thì đúng như vị đại diện IMF nói, khi Việt Nam vào WTO cái là mọi thứ phức tạp hơn, mình phải rèn luyện, ngày nào cũng phải tập thể dục thì mới khỏe được chứ!

    Phải nâng cao năng lực thường xuyên chứ cứ nghĩ rằng như thế là ổn rồi thì sẽ rất khó. Nền kinh tế thế giới bây giờ ngày càng phức tạp, nền kinh tế mở của Việt Nam cũng ngày càng phức tạp, vì vậy năng lực quản trị của Nhà nước cũng phải được nâng lên.
    Đó là vấn đề hiện nay đang đặt ra và tôi nghĩ rằng khi chúng ta xác định thay đổi mô hình tăng trưởng, thay đổi vai trò của các khu vực kinh tế thì điều này cũng đã hàm ý rằng sẽ có một sự chuyển dịch cơ bản để đáp ứng câu trả lời chất lượng hay tốc độ.
    Chúng ta không được phép bỏ cái nào cả, nếu bỏ tốc độ thì làm sao đuổi kịp thể giới được.

    Bà KwaKwa, Giám đốc Ngân hàng thế giới tại Việt Nam:

    Tôi muốn bổ sung thêm một điểm nhận định những điều mà ông Trần Đình Thiên vừa nêu, đó là về sự hy sinh như ông nói, đánh đổi ổn định để tăng trưởng có vẻ chỉ được áp dụng trong ngắn hạn thôi, còn về dài hạn, chính sự ổn định của nền kinh tế mới là tạo nền tảng cho tăng trưởng.
    Vậy nên nếu chúng ta tập trung vào các yêu cầu và những vấn đề cơ bản để ổn định vĩ mô, cuối cùng, chúng ta sẽ đạt được mục tiêu tăng trưởng.
    Những bất ổn vĩ mô về mặt lâu dài sẽ tạo ra tác dụng tiêu cực lên tăng trưởng.
    Theo cách đó, nếu chúng ta xử lý một số vấn đề mang tính cơ cấu giúp mang lại chất lượng cho tăng trưởng, có thể sẽ rất khó trong ngắn hạn nhưng trong dài hạn, chính điều ấy mới nuôi dưỡng tăng trưởng nhanh hơn trong thời gian dài hơn.
    Tôi muốn nhấn mạnh rằng chúng ta cần phải có những hành động ngay từ bây giờ.
    Có thể ngay bây giờ làm không dễ dàng nhưng đó là sự đầu tư dài hạn cho tương lai.

    [​IMG]



    Nhà báo Việt Lâm:
    Thưa ông Trần Đình Thiên, ông nghĩ sao về các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô vừa được Quốc hội thông qua, liệu có gì mâu thuẫn giữa việc chúng ta đặt ra mục tiêu tăng trưởng 7,5 % và lạm phát dưới 7%, trong khi theo nhận định của các chuyên gia kinh tế thì đối với các nước khác, lạm phát 7% là một vấn đề rất lớn, ông bình luận gì?

    Ông Trần Đình Thiên:


    Các mục tiêu này dự kiến cho một nhiệm vụ cho nên phải căn cứ vào thực tiễn năm nay để đặt ra cho năm nay.
    Tôi thấy Việt Nam muốn tăng trưởng cao không khó, Việt Nam chắc muốn tăng trưởng 10% cũng được, cho nên theo tôi hiện nay đà tăng trưởng của Việt Nam rất tốt.
    Chúng ta xuống đáy vào tháng 1/2009, từ đó đến nay hết năm 2010, cứ tháng sau tăng hơn tháng trước, đà tăng rất tốt nên việc đạt được mức tăng 7,5% là không khó cho nên ta mới cần tập trung vào những việc khó. Chứ nếu cứ tập trung vào việc dễ rồi việc khó bỏ đó là nguy hiểm.
    Việc khó bây giờ là ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát.

    Câu chuyện là thế này, Tôi vẫn nói cái quan trọng nhất để tăng trưởng chính là lòng tin, mà lòng tin trực tiếp ngay ở chỉ số CPI.
    Cho nên để làm được việc tăng trưởng tốt trong dài hạn chứ không phải chỉ một năm rồi sau đó vất vả tốn bao nhiêu tiền để chống lạm phát, mục tiêu sang năm là cố gắng kéo lạm phát xuống thấp hơn nữa.
    Ở đây tôi muốn nói hai vấn đề.

    Thứ nhất là Việt Nam hiện nay chỉ quan tâm đến mỗi chỉ số CPI, tôi cho rằng về mặt ổn định vĩ mô cần quan tâm đến giá của các tài sản như giá chứng khoán, giá đất đai, giá vàng... những cái này là giá vốn, ta rất ít để ý nhưng thực ra nó rất bất ổn, còn đang bất ổn hơn cả CPI nhưng chưa được quan tâm đúng mức.

    Vì vậy để ổn định vĩ mô không chỉ quan tâm đến chỉ số CPI rồi kéo nó xuống mà còn phải ổn định giá của các loại tài sản.
    Điểm thứ hai tôi muốn nói là nếu đặt mục tiêu kéo lạm phát xuống 5% có khó không, đương nhiên là khó nhưng phải cố để làm được việc ấy.
    Câu hỏi là cơ sở nào để làm được việc ấy?
    Tôi nói có hai yếu tố giúp Việt Nam mà nếu quyết tâm làm thì vẫn có thể ổn định được:
    Thứ nhất là hãy bớt chi tiêu ngân sách đi! Tức là không thể duy trì mức chi tiêu ngân sách năm nào cũng 42, 43% GDP, chúng ta phải quyết tâm hạ chi tiêu ngân sách xuống.
    Ngoài ra còn phải cắt giảm các hạng mục đầu tư công để quản trị hiệu quả. Làm cái này bằng cách để các chi tiêu ấy có thể kiểm soát được. Hiện nay chúng ta chi tiêu quá nhiều dự án, nên không quản trị được, vừa kém hiệu quả vừa tốn kém. Đó chính là dư địa chính sách lớn nhất để chúng ta kéo lạm phát xuống.

    Cái thứ hai là chúng ta nên bớt tham vọng tăng trưởng, chúng ta nén nó lại, nén chưa chắc đã thấp nhưng chúng ta không cần cố mục tiêu tăng trưởng cao. Chúng ta phải cố ổn đinh, lúc đó tăng trưởng 5 hoặc 6% vẫn tốt. Nếu ổn định thì sang năm nó sẽ tăng trưởng tốt hơn vì lòng tin tốt.
    Tức là chuyển hướng mục tiêu ưu tiên của Chính phủ, lúc đó chúng ta sẽ có những thay đổi rất mạnh trong tương quan tăng trưởng nhanh và ổn định.
    Giống như yêu cô nào nhưng nhìn cô ấy ít thôi, nhìn cô khác nhiều hơn thì lập tức cô ấy dễ tán hơn.

    Ông Bernedict Bingham, Đại diện thường trú cao cấp của IMF tại Việt Nam


    Tôi cũng đồng ý với nhận định của ông Trần Đình Thiên ở chỗ là nếu như chúng ta có thể chuyển đổi được ưu tiên giữa tăng trưởng và chất lượng, chúng ta tập trung vào việc điều hành thì mục tiêu tăng trưởng của chúng ta hoàn toàn có thể đạt được. Vấn đề không phải ở thiếu vốn, thách thức là tạo ra một môi trường vĩ mô ổn định cho các nhà đầu tư..
    Còn về lạm phát thì tôi đồng ý mục tiêu 7% là vẫn quá cao, Chính phủ Việt Nan cần có mục tiêu tham vọng hơn, phải gửi tới các nhà đầu tư thông điệp rằng chính phủ cam kết quyết liệt hơn trong việc giảm lạm phát xuống bằng mức trung bình với các nước trong khu vực Châu Á là 3 hoặc 4%.
    Không những thế tôi nghĩ Chính phủ Việt Nam cần phải quyết liệt hơn nữa đối với việc chi tiêu cho các Doanh nghiệp nhà nước, cần phải gây sức ép cho họ để giảm lạm phát hơn nữa thì mới có thể tạo dựng được lòng tin trong nhà đầu tư và nhân dân.
    Về thâm hụt công, một mục tiêu tham vọng hơn cũng là cần thiết. Chính phủ cũng phải gửi thêm một thông điệp nữa cho nhà đầu tư rằng Việt Nam cam kết giảm thâm hụt công, Tôi đồng ý với ông Thiên rằng kỷ luật trong chi tiêu ngân sách sẽ giúp giảm thâm hụt nhà nước một cách đáng kể.

    Vơi việc tập trung nhiều hơn vào ổn định vĩ mô, tái điều chỉnh chiến lược theo hướng tăng trưởng bền vững hơn là tăng trưởng bằng con số trên giấy, tôi cho rằng chẳng có lý do gì Việt Nam không đạt được tăng trưởng như 20 năm qua.

    [​IMG]


    Nhà báo Việt Lâm:
    Trở lại với đầu tư công, đã bao giờ Ngân hàng thế giới nói với Chính Phủ Việt Nam là chúng tôi thấy các ông chi tiêu chưa hiệu quả, có cần phải vay thêm nhiều tiền như thế từ World Bank hay không?

    Bà Victoria KwaKwa, Giám đốc Ngân hàng thế giới tại Việt Nam:


    Chúng tôi vẫn làm việc với Chính Phủ Việt Nam về thương thảo các khoản vay, các chính sách của chúng tôi phụ thuộc vào bản thân các dự án cải cách của chính phủ. Chúng tôi luôn bàn thảo với chính phủ xem chương trình cải cách của họ như thế nào, đưa ra biện pháp nào là hợp lý. Chúng tôi cố gắng gây ảnh hưởng bằng cách đối thoại với chính phủ, tư vấn và phân tích chính sách. Đương nhiên, vấn đề hiệu quả trong đầu tư và chi tiêu công là vấn đề lớn trong các đối thoại của chúng tôi.
    Trong những năm gần đây chúng tôi tiến hành nhiều hoạt động như chương trình cải cách đầu tư công, trong đó chúng tôi hỗ trợ chương trình kích thích kinh tế của chính phủ. Hoạt động này tập trung rất mạnh vào việc cải thiện tính hiệu quả của đầu tư công. Chúng tôi đã làm xong phần 1 và chuẩn bị thực hiện phần 2 cuối năm nay.
    Các bạn thấy Ngân hàng thế giới đã và đang làm việc với chính phủ Việt Nam về đầu tư công và tính hiệu quả của chi tiêu công. Chúng tôi còn làm việc cả về quản lý tài chính công nữa.
    Chúng tôi thảo luận với chính phủ những nguyên tắc đang được sử dụng trên phạm vi toàn cầu để đánh giá chất lượng của quản trị chi tiêu công. Chính phủ tự đánh giá phương diện quản trị tài chính công của mình trên tương quan với các nước khác. Chúng tôi còn phối hợp với chính phủ thực hiện các Đánh giá tài chính tổng quan. Ngân hàng có nhiều công cụ để thảo luận với chính phủ Việt Nam trong hai vấn đề đặc biệt quan trọng là tính hiệu quả của đầu tư và chi tiêu công.

    Nhà báo Việt Lâm:
    Nếu Chính phủ Việt Nam đề nghị World Bank cấp khoản vay cho đường sắt cao tốc thì bà nghĩ sao?

    Bà Victoria KwaKwa, Giám đốc Ngân hàng thế giới tại Việt Nam:


    Chúng tôi sẽ xem liệu dự án lớn này có nhận được sự đồng thuận trong xã hội hay không. Để dự án được thông qua ở cấp lãnh đạo, nó phải nhận được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân.
    Bên cạnh sự đồng thuận đó, chúng tôi cũng sẽ tự mình chủ động đưa ra những phân tích về mặt kinh tế: xem việc đầu tư này có hiệu quả hay không, chúng ta có đủ nguồn lực để đầu tư cho dự án hết sức lớn và tốn kém này hay không
    Dự án đường sắt cao tốc sẽ tiêu tốn rất nhiều tiền trong khi chúng ta còn rất nhiều lĩnh vực khác phải quan tâm như giáo dục, y tế. Chúng ta phải cân nhắc xem liệu có nên đánh đổi như thế hay không.
    Nhưng điều quan trọng hơn cả vẫn là những đánh giá và phân tích kinh tế, liệu dự án này có mang lại lợi nhuận kinh tế hay không.
    Hầu hết các dự án chúng tôi đang hỗ trợ ở Việt Nam hiện nay như các dự án cơ sở hạ tầng, chúng tôi đặt ra tiêu chuẩn ít nhất phải thu được 12% lợi nhuận. Nếu bắt tay vào dự án này, mức lợi nhuận của nó cũng phải đạt được như trên.

    Và vấn đề đặt ra là nếu đem tiền đầu tư cho dự án này thì có lẽ sẽ chẳng còn nhiều tiền để đầu tư cho các dự án khác nữa, nên chúng tôi sẽ phải hết sức cân nhắc cẩn trọng xem có nên đổ hết tiền hết vào một dự án lớn như vậy hay không.

Share This Page