1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Bó tay với bác Nguyễn Đình Cung

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by hhoangmai, Jun 9, 2010.

Thread Status:
Not open for further replies.
1345 người đang online, trong đó có 73 thành viên. 13:30 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 1)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. hhoangmai

    hhoangmai Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Jun 16, 2008
    Likes Received:
    0
    Dự thảo Nghị định 139

    (Điều 28) Khoản 1, quy định: “Nếu Điều lệ công ty không quy định khác hoặc cổ đông có liên quan không có ý kiến khác bằng văn bản, các thành viên độc lập của Hội đồng quản trị đương nhiên là người đại diện theo ủy quyền của tất cả các cổ đông không tham dự họp Đại hội đồng cổ đông.”.

    Như vậy là nếu các bác cổ đông không đi dự đại hội cổ đông thì có nghĩa là đương nhiên các bác đã uỷ quyền cho HĐQT thay mặt mình biểu quyết. Sau này người ta có biểu quyết thế nào các bác cũng phải chịu, cấm các bác kêu ca gì nữa. Mà mấy cái chú thành viên độc lập HĐQT lại thường là nhân viên cấp thấp ở công ty, vì thế GĐ nó bảo gì mà chẳng phải nghe
  2. hhoangmai

    hhoangmai Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Jun 16, 2008
    Likes Received:
    0
    Không thể sửa đổi luật bằng nghị định

    Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp đã đưa ra nhiều quy định mới mang tính đột phá, nhằm hóa giải nhiều trường hợp bế tắc cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, để xây dựng lên những quy định ấy, nhiều điều khoản của dự thảo Nghị định lại trở thành trái luật.

    Không công nhận, vẫn đủ tư cách?


    Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là một cơ chế pháp lý đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp. Thông qua người đại diện theo pháp luật để xác định tư cách hợp pháp của người thay mặt doanh nghiệp trong các giao dịch kinh tế, dân sự.

    Một doanh nghiệp hoạt động bình thường, thì không thể thiếu người đại diện theo pháp luật, dù chỉ trong một thời gian ngắn. Nếu không có người đại diện theo pháp luật, thì sẽ dẫn đến nguy cơ đình trệ hoạt động của doanh nghiệp, thậm chí rơi vào tình trạng bế tắc, không có lối thoát.

    Xét trên tổng thể mấy trăm ngàn doanh nghiệp, thì sự cố này xảy ra rất thường xuyên, phổ biến. Lý do thì vô khối, chẳng hạn do người đại diện bị chết, mất tích, bị cách chức, bị mất khả năng làm việc, trong khi chưa thể hoàn tất được thủ tục bổ nhiệm nhân sự mới và thay đổi đăng ký người đại diện theo pháp luật. Luật Doanh nghiệp đã không thiết kế các quy định cần thiết để xử lý tình huống éo le, do vậy, rất cần được giải quyết trong nghị định.

    Tuy nhiên, dự thảo Nghị định lại đi quá xa bằng việc đưa ra một loạt quy định như: Người được ủy quyền sẽ được “làm người đại diện theo pháp luật” của doanh nghiệp trong trường hợp người đại diện pháp luật vắng mặt trên 30 ngày.

    Hay nếu thành viên là người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH có hai thành viên mà bị tạm giữ, tạm giam, bỏ trốn, bị mất năng lực hành vi dân sự, thì thành viên còn lại sẽ đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty.

    Điều này là trái với nguyên tắc xác lập người đại diện theo pháp luật đã được quy định trong Bộ luật Dân sự và Luật Doanh nghiệp.

    Đặt ra điều kiện thay thế vai trò của người đại diện theo pháp luật là cần thiết, nhưng chỉ có thể quy định các trường hợp được phép chỉ định và thủ tục chỉ định người tạm thời thay thế để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật, chứ không thể biến một người đương nhiên trở thành người đại diện theo pháp luật mà không qua thủ tục pháp lý tối thiểu nào.

    Quy định như vậy, trong nhiều trường hợp có thể xuất hiện tình trạng một doanh nghiệp đồng thời có hai người đại diện theo pháp luật. Điều này sẽ gây ra sự xung đột pháp lý rất phức tạp, không biết phải thừa nhận người nào.

    Nếu phản đối, coi như đồng ý?


    Dự thảo Nghị định đưa ra một trong những quy định như sau: “Tất cả thành viên, người đại diện thành viên dự họp phải ký vào biên bản họp Hội đồng thành viên. Trường hợp thành viên, người đại diện thành viên không đồng ý về một hoặc một số nội dung đã được Hội đồng thành viên thông qua và từ chối ký biên bản cuộc họp đó của Hội đồng thành viên, thì chữ ký xác nhận việc tham dự họp của họ được coi là chữ ký của họ tại biên bản họp Hội đồng thành viên”.

    Đây là một quy định trái với nguyên tắc của pháp luật, phủ nhận hoàn toàn ý chí của thành viên công ty, vì đã biến chữ ký xác nhận việc tham dự cuộc họp thành chữ ký đồng ý vô điều kiện với nội dung biên bản cuộc họp. Như vậy, tất cả thành viên hay chỉ có thiểu số ký vào biên bản họp, thì cũng luôn cho cùng một kết quả giống nhau.

    Trường hợp này, chỉ có thể quy định theo hướng, coi thành viên không ký đồng nghĩa với việc không đồng tình với toàn bộ nội dung biên bản, đồng thời xem xét sửa luật theo hướng, không nhất thiết phải yêu cầu tất cả thành viên ký vào biên bản họp, mà chỉ cần chữ ký của chủ tọa và thư ký, còn ý chí của các thành viên đã được thể hiện thông qua thủ tục và kết quả biểu quyết.

    Giữ lại quyền, là đã ủy quyền?


    Một trong những khó khăn vướng mắc lớn đối với các công ty là phải bảo đảm được tỷ lệ tham dự hợp pháp để tiến hành cuộc họp và thông qua các quyết định Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên. Luật Doanh nghiệp đòi hỏi tỷ lệ này khá cao, tối thiểu phải đạt mức 65% hoặc 75%.

    Sau đó một văn bản có giá trị pháp lý ngang luật, là Nghị quyết số 71/2006/QH11 ngày 29-11-2006 của Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã chỉ rõ việc cho phép áp dụng các tỷ lệ 51% đối với một số điều khoản cụ thể của Luật Doanh nghiệp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp không dám áp dụng tỷ lệ 51% này do sự giải thích không chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

    Cộng đồng doanh nghiệp mong chờ dự thảo Nghị định khẳng định chính thức việc cho phép áp dụng tỷ lệ 51% theo nghị quyết của Quốc hội để gỡ rào cản không đáng có này của Luật Doanh nghiệp. Tuy nhiên, thay vì hướng dẫn áp dụng tỷ lệ trên cho phù hợp, dự thảo Nghị định lại chọn cách giải quyết vấn đề trái Luật Doanh nghiệp một cách nghiêm trọng.

    Đó là quy định: “Nếu điều lệ công ty không quy định khác hoặc cổ đông có liên quan không có ý kiến khác bằng văn bản, các thành viên độc lập của hội đồng quản trị đương nhiên là người đại diện theo ủy quyền của tất cả các cổ đông không tham dự họp đại hội đồng cổ đông”.

    Quy định này trái ngược và vô hiệu hóa những quy định rất rõ ràng, cụ thể tại điều 101 của Luật Doanh nghiệp: “Việc ủy quyền cho người đại diện dự họp Đại hội đồng cổ đông phải lập thành văn bản theo mẫu của công ty và phải có chữ ký” của cổ đông ủy quyền và người được ủy quyền dự họp. Và “người được ủy quyền dự họp đại hội đồng cổ đông phải nộp văn bản ủy quyền trước khi vào phòng họp”.

    Quy định này sẽ cho ra một đáp số đồng dạng là, dù cho tỷ lệ tham dự cuộc họp trên thực tế chỉ là một vài phần trăm, nhưng kết quả vẫn luôn đạt con số sát 100%. Như vậy, thì quan điểm không chịu hạ xuống 51% mà cứ giữ nguyên tỷ lệ 65% để bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nhỏ sẽ trở thành ý tưởng hoàn toàn vô nghĩa.

    Đối với những vấn đề trên, ngay cả việc dùng một đạo luật để phủ quyết Luật Doanh nghiệp cũng là sự bất hợp lý. Càng không thể chấp nhận sửa luật bằng một nghị định.

    Rối rắm 65% và 51%

    Tại hội thảo lấy ý kiến góp ý cho dự thảo nghị định thay thế Nghị định 139/2007 do VCCI tổ chức cuối tuần trước tại Hà Nội, luật gia Cao Bá Khoát (Công ty TNHH Tư vấn doanh nghiệp K và cộng sự) đã dẫn chứng ra một loạt văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về sự không nhất quán trong quy định về tỷ lệ cổ đông có quyển biểu quyết theo điều 104 của Luật Doanh nghiệp.

    Luật Doanh nghiệp 2005 quy định tỷ lệ này là 65%. Tháng 11-2006, Nghị quyết 71 cho phép áp dụng tỷ lệ 51%. Sau đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đệ trình dự thảo Nghị định hướng dẫn Nghị quyết 71 và các cam kết WTO (sửa Luật Doanh nghiệp 2005) áp dụng 51%.

    Bốn tháng sau , tháng 3-2007, Bộ Tài chính ban hành Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết lại áp dụng tỷ lệ 65%. Cũng thời gian này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có công văn hướng dẫn các ngân hàng thương mại cổ phần thực hiện theo yêu cầu về tỷ lệ 65%. Nhưng sáu tháng sau đó, chính NHNN lại có công văn hướng dẫn các ngân hàng thương mại cổ phần có thể áp dụng tỷ lệ là 51%.

    Đến cuối năm 2007, Bộ KH-ĐT ban hành một công văn giải thích rằng chỉ có một số liên doanh được áp dụng tỷ lệ 51%, còn lại các doanh nghiệp phải áp dụng tỷ lệ 65%.

    Đến đầu năm 2009, Ủy ban Chứng khoán hướng dẫn các công ty niêm yết áp dụng tỷ lệ 65%. Tháng 7-2009, nghị định của Chính phủ hướng dẫn hoạt động của ngân hàng thương mại (do NHNN soạn thảo) cũng quy định áp dụng tỷ lệ 65%. Nhưng đến dự thảo Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi chỉ hai tháng sau đó, tỷ lệ áp dụng lại sửa là 51%.

  3. vcbhane

    vcbhane Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Jun 9, 2008
    Likes Received:
    0
    Mình thấy đa số anh em bên Bộ Kế hoạch Đầu tư đều là những người thông minh, sao cái anh Cung này lại kém thế nhỉ?
  4. MaiAnTiem1

    MaiAnTiem1 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Nov 27, 2008
    Likes Received:
    310
    Cực lực quan ngại và phản đối Điều 28, khoản 1 này. Nếu Cổ đông không tham dự đc và không đủ tỷ lệ để tổ chức Đại hội thì phải hoãn. Đương nhiên rồi. Cứ theo Luật DN mà làm
  5. stox999

    stox999 Thành viên tích cực

    Joined:
    May 12, 2010
    Likes Received:
    1
    con việc chia cổ tức bằng thị giá thì sao ? với các cty chưa niêm yêt thì điều chỉnh theo luật nào đây ? bác Cung suy nghĩ một chiều wá !!!!
  6. MaiAnTiem1

    MaiAnTiem1 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Nov 27, 2008
    Likes Received:
    310


    Về tỷ lệ 65% hay 51% để đủ quyền, cách vận dụng thật đơn giản. Luật DN 2005cquy định tỷ lệ 65%. Trong khi đó, VN vào WTO muộn hơn năm 2005. Theo cam kết của VN, tỷ lệ này có thể đc điểu chỉnh xuống 51% đối với DN có vốn đầu tư nước ngoài. Vậy trong trường hợp này, điều ước quốc tế đã có quy định khác luật, vì thế cứ áp dụng điều ước quốc tế (51%), với đối tượng là các DN có sự tham gia của Nhà đầu tư NN. Hướng dẫn phải theo tinh thần này.
  7. lelylan

    lelylan Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    May 30, 2008
    Likes Received:
    0
    Bác Cung từng lên báo tuyên bố sẽ bảo vệ đến cùng ý định chia cổ tức bằng cổ phiếu là phải theo thị giá
  8. F300

    F300 Thành viên mới

    Joined:
    Apr 30, 2010
    Likes Received:
    0
    Sao cái thằng cung này ko về vườn đi.
  9. chuki

    chuki Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Apr 30, 2010
    Likes Received:
    15,643
    cãi vã chi cho mệt mấy bác ơi,ng ta đã lập trình xong rồi,mới công bố ra,có phản đối cũng là số không,như cái vụ đường sắt cao tốc đó,đã thông qua từ đời nào rồi,bây giờ đem ra QH bàn cho có thôi,dự án chắc chắn phải làm.
  10. lelylan

    lelylan Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    May 30, 2008
    Likes Received:
    0
    "Tôi sẽ bảo vệ đến cùng ý tưởng trả cổ tức theo thị giá"
    29/05/2010 09:05:02
    [​IMG]
    (ĐTCK-online) Trong Dự thảo sửa đổi Nghị định 139 hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp đang lấy ý kiến lần cuối để chuẩn bị ban hành có một quy định thu hút sự quan tâm của TTCK, đó là chi trả cổ tức theo thị giá.
    Mặc dù nội dung này vấp phải sự không đồng tình của không ít DN và NĐT, nhưng TS. Nguyễn Đình Cung, đại diện Ban soạn thảo, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương khẳng định: "Tôi sẽ bảo vệ đến cùng ý tưởng trả cổ tức theo thị giá".

    Đâu là những lý lẽ để bảo vệ đến cùng ý tưởng trên, thưa ông?
    Sau khi tiếp thu ý kiến của các bên liên quan, sở dĩ Ban soạn thảo vẫn bảo lưu quy định: "Giá trị của cổ phiếu được sử dụng để thanh toán cổ tức phải được tính theo giá trị trường tại ngày quyết định chi trả cổ tức; mỗi cổ đông được nhận số cổ phiếu có giá trị tương đương với số cổ tức như trường hợp công ty chi trả cổ tức bằng tiền mặt", là bởi nhiều lý do.
    Trước hết là xuất phát từ mô hình quản trị công ty. Theo đó, lợi ích của cổ đông chỉ được đảm bảo trên cơ sở lợi ích bền vững của DN được duy trì và ngày càng phát triển. Điều này có nghĩa là lợi ích của cổ đông luôn gắn rất chặt với lợi ích của DN và nó được chứng minh qua thực tiễn: DN làm ăn có lãi mới có thể chia cổ tức, nếu không thì ngược lại.
    Hơn nữa, nếu chia cổ tức theo mệnh giá thì vừa dẫn đến tình trạng lạm dụng quyền của cổ đông nhằm "rút ruột" DN, vừa tác động xấu đến kế hoạch phát hành thêm cổ phần để tăng vốn của DN. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của DN, qua đó tác động tiêu cực đến quyền lợi của chính các cổ đông. Cách chia cổ tức theo mệnh giá đang "ủng hộ" nhà đầu cơ lướt sóng, trong khi chia cổ tức theo thị giá nhằm hướng đến mục tiêu ngược lại, qua đó đảm bảo lợi ích hợp lý cho cả NĐT, DN, cũng như Nhà nước, ngay cả khi giá trị cổ phiếu bị pha loãng.

    Như phân tích của ông, nếu chia cổ tức theo mệnh giá thì sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng phát hành thêm cổ phần để huy động vốn của DN, trong khi đó nhiều DN lại có ý kiến ngược lại. Ông giải thích ra sao về mâu thuẫn này?
    Không loại trừ tâm lý "thích" chia cổ tức theo mệnh giá để phục vụ cho mục đích "bòn rút" giá trị của DN càng nhanh càng tốt của một số đối tượng. Bởi vậy, với tư cách là nhà xây dựng luật, chúng tôi phải bảo vệ các giá trị để giúp DN phát triển bền vững.
    Tôi khẳng định, nếu chia cổ tức theo mệnh giá sẽ khuyến khích NĐT chạy theo các lợi ích ngắn hạn, ảnh hưởng đến nỗ lực gia tăng sức mạnh nội tại, nhất là tiềm lực tài chính của DN. Trong khi đó, cách chia này rất có hại cho DN, bởi ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng phát hành thêm cổ phần tăng vốn của DN.
    Nếu chia cổ tức theo thị giá sẽ giúp DN có nhiều cơ hội phát hành cổ phần để tăng vốn, bởi khi thị giá cổ phiếu cao, DN có thể chọn phương án phát hành cổ phần mới, hoặc đem bán số cổ phần thặng dư từ việc chia cổ tức theo thị giá ra thị trường với giá cao. Hơn nữa, khi nhận thấy tiềm năng phát triển tốt, ban lãnh đạo DN hoàn toàn có thể thuyết phục cổ đông giữ lại cổ tức, để giúp DN có thêm nguồn lực cho mục tiêu phát triển hiệu quả hơn.

    Theo ông, làm thế nào để xác định được thị giá cổ phiếu khi chứng khoán niêm yết có 3 mức giá là giá trần, giá sàn và giá tham chiếu?
    Chọn mức giá nào trong 3 loại giá trên cũng đảm bảo yếu tố thị trường. Bởi vậy, lấy mức giá nào làm căn cứ tính tỷ lệ chi trả cổ tức là hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của DN tại ngày quyết định chi trả cổ tức.
  11. lelylan

    lelylan Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    May 30, 2008
    Likes Received:
    0
    "Tôi sẽ bảo vệ đến cùng ý tưởng trả cổ tức theo thị giá"
    29/05/2010 09:05:02
    [​IMG] (ĐTCK-online) Trong Dự thảo sửa đổi Nghị định 139 hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp đang lấy ý kiến lần cuối để chuẩn bị ban hành có một quy định thu hút sự quan tâm của TTCK, đó là chi trả cổ tức theo thị giá. Mặc dù nội dung này vấp phải sự không đồng tình của không ít DN và NĐT, nhưng TS. Nguyễn Đình Cung, đại diện Ban soạn thảo, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương khẳng định: "Tôi sẽ bảo vệ đến cùng ý tưởng trả cổ tức theo thị giá".

    Đâu là những lý lẽ để bảo vệ đến cùng ý tưởng trên, thưa ông?
    Sau khi tiếp thu ý kiến của các bên liên quan, sở dĩ Ban soạn thảo vẫn bảo lưu quy định: "Giá trị của cổ phiếu được sử dụng để thanh toán cổ tức phải được tính theo giá trị trường tại ngày quyết định chi trả cổ tức; mỗi cổ đông được nhận số cổ phiếu có giá trị tương đương với số cổ tức như trường hợp công ty chi trả cổ tức bằng tiền mặt", là bởi nhiều lý do.
    Trước hết là xuất phát từ mô hình quản trị công ty. Theo đó, lợi ích của cổ đông chỉ được đảm bảo trên cơ sở lợi ích bền vững của DN được duy trì và ngày càng phát triển. Điều này có nghĩa là lợi ích của cổ đông luôn gắn rất chặt với lợi ích của DN và nó được chứng minh qua thực tiễn: DN làm ăn có lãi mới có thể chia cổ tức, nếu không thì ngược lại.
    Hơn nữa, nếu chia cổ tức theo mệnh giá thì vừa dẫn đến tình trạng lạm dụng quyền của cổ đông nhằm "rút ruột" DN, vừa tác động xấu đến kế hoạch phát hành thêm cổ phần để tăng vốn của DN. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của DN, qua đó tác động tiêu cực đến quyền lợi của chính các cổ đông. Cách chia cổ tức theo mệnh giá đang "ủng hộ" nhà đầu cơ lướt sóng, trong khi chia cổ tức theo thị giá nhằm hướng đến mục tiêu ngược lại, qua đó đảm bảo lợi ích hợp lý cho cả NĐT, DN, cũng như Nhà nước, ngay cả khi giá trị cổ phiếu bị pha loãng.

    Như phân tích của ông, nếu chia cổ tức theo mệnh giá thì sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng phát hành thêm cổ phần để huy động vốn của DN, trong khi đó nhiều DN lại có ý kiến ngược lại. Ông giải thích ra sao về mâu thuẫn này?
    Không loại trừ tâm lý "thích" chia cổ tức theo mệnh giá để phục vụ cho mục đích "bòn rút" giá trị của DN càng nhanh càng tốt của một số đối tượng. Bởi vậy, với tư cách là nhà xây dựng luật, chúng tôi phải bảo vệ các giá trị để giúp DN phát triển bền vững.
    Tôi khẳng định, nếu chia cổ tức theo mệnh giá sẽ khuyến khích NĐT chạy theo các lợi ích ngắn hạn, ảnh hưởng đến nỗ lực gia tăng sức mạnh nội tại, nhất là tiềm lực tài chính của DN. Trong khi đó, cách chia này rất có hại cho DN, bởi ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng phát hành thêm cổ phần tăng vốn của DN.
    Nếu chia cổ tức theo thị giá sẽ giúp DN có nhiều cơ hội phát hành cổ phần để tăng vốn, bởi khi thị giá cổ phiếu cao, DN có thể chọn phương án phát hành cổ phần mới, hoặc đem bán số cổ phần thặng dư từ việc chia cổ tức theo thị giá ra thị trường với giá cao. Hơn nữa, khi nhận thấy tiềm năng phát triển tốt, ban lãnh đạo DN hoàn toàn có thể thuyết phục cổ đông giữ lại cổ tức, để giúp DN có thêm nguồn lực cho mục tiêu phát triển hiệu quả hơn.

    Theo ông, làm thế nào để xác định được thị giá cổ phiếu khi chứng khoán niêm yết có 3 mức giá là giá trần, giá sàn và giá tham chiếu?
    Chọn mức giá nào trong 3 loại giá trên cũng đảm bảo yếu tố thị trường. Bởi vậy, lấy mức giá nào làm căn cứ tính tỷ lệ chi trả cổ tức là hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của DN tại ngày quyết định chi trả cổ tức.
Thread Status:
Not open for further replies.

Share This Page