1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Bốn cảnh báo khẩn cấp đối với kinh tế Mỹ

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi tiencua68, 01/07/2010.

1508 người đang online, trong đó có 259 thành viên. 10:39 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1281 lượt đọc và 11 bài trả lời
  1. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    4 cảnh báo khẩn cấp đối với kinh tế Mỹ

    01/07/2010 17:14:28
    [​IMG]- Chuyên gia kinh tế kỳ cựu Alan Greenspan, nguyên Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ liên bang Mỹ (FED), vừa đưa ra 4 cảnh báo khẩn cấp đối với nền kinh tế Mỹ.


    Một là, cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp là tấm gương cảnh tỉnh đối với Mỹ và hầu hết thế giới phát triển. Các nước này cần rút ra bài học từ tấm gương khủng hoảng nợ của Hy Lạp để đẩy nhanh những thay đổi về cơ cấu chính sách tài chính.

    Tạp chí Tiền tệ và Thị trường (MAM) của Mỹ 16 tháng trước đây đã cảnh báo rằng các bong bóng tín dụng nổ tung ở Ireland, Tây Ban Nha, Hy Lạp và Bồ Đào Nha sẽ dẫn các nước này đến nguy cơ vỡ nợ và sẽ có ít nhất một nước trong số này vỡ nợ. Hy Lạp nay đã vỡ nợ và các nước khác cũng đang đứng trước nguy cơ này. Thâm hụt ngân sách tài khóa 2009 của Mỹ lên tới 1,4 nghìn tỷ USD, một kỷ lục trong lịch sử kinh tế Mỹ. MAM dự báo nạn nhân lớn nhất sắp tới đi theo con đường của Hy Lạp có thể là Mỹ vì đã đến lúc nền kinh tế Mỹ không còn khả năng cứu trợ tài chính nữa.

    [​IMG]
    Ông Alan Greenspan: "Mỹ hãy trông gương Hy Lạp"
    Hai là, các virus gây những căn bệnh tài chính đã lan đến nước Mỹ. Các chuyên gia phân tích lãi suất cảnh báo cuộc khủng hoảng nợ chính phủ đã tác động đến nền kinh tế Mỹ do Chính phủ Mỹ phải trả lãi suất các khoản tiền vay nợ cao hơn lãi suất của các khoản vay nợ mà các công ty tư nhân vay. Chuyên gia kinh tế Alan Greenspan cho biết hiện tại, Chính phủ Mỹ phải trả lãi của công trái thời hạn 10 năm cao hơn 0,13% so với các nhà vay nợ tư nhân. Trong khi đó, nhà kinh tế Mike Larson của MAM cảnh báo nguy cơ công trái Mỹ biến thành giấy lộn.

    Ba là, lãi suất có thể tăng vọt giống như thời kỳ thập kỷ 1989 của thế kỷ 20. Ông Alan Greenspan cảnh báo lãi suất dài hạn có thể tăng bất ngờ không thể kiểm soát. Từ tháng 10/1979 đến tháng 1/1980, lãi suất công trái 10 năm tăng 4% và lãi suất công trái 30 năm tăng 5%. Trong tình hình nền kinh tế Mỹ và thế giới hiện nay, lãi suất chỉ cần tăng một phần nhỏ so với mức tăng của thập kỷ 1980, hậu quả sẽ vô cùng thảm khốc.

    Bốn là, giá vàng tăng vọt báo hiệu sự sụp đổ của đồng USD trong tương lai. Ông Alan Greenspan cho rằng mặc dù USD chưa phải là đồng tiền mất giá tồi tệ nhất trong số các đồng tiền quan trọng của thế giới nhưng do giá vàng tăng không ngừng, ngày càng nhiều nhà đầu tư đang tìm nơi an toàn để tích trữ tài sản của họ mà không hào hứng tích trữ các đồng tiền giấy đang lưu hành nữa.
    [​IMG]
    Giá vàng tăng vọt báo hiệu sự sụp đổ của đồng USD?
    Các nhà kinh tế của MAM từ lâu cũng đã cảnh báo nguyên nhân đẩy giá vàng lên cao không chỉ do đồng USD mất giá mà còn do các đồng tiền quan trọng khác của thế giới mất giá, đặc biệt là đồng euro. Nếu gộp cả nghĩa vụ trả nợ trong tương lai của mỗi chính phủ, số nợ của Mỹ đã lên tới 580% GDP; Đức và Pháp 255% GDP; còn Anh là 530% GDP.

    Minh Tâm (Theo MAM)


    http://www.baomoi.com/Home/TaiChinh/bee.net.vn/4-canh-bao-khan-cap-doi-voi-kinh-te-My/4489783.epi
  2. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://www.baomoi.com/Info/Paul-Krugman-Cuoc-khung-hoang-lan-thu-Ba/45/4486537.epi
    Paul Krugman: Cuộc khủng hoảng lần thứ Ba

    Xem tin gốc
    StoxPlus - 11 giờ trước 96 lượt xem
    [​IMG]
    Trong bài bình luận mới nhất trên New York Times vào hôm thứ Hai, Paul Krguman cho rằng thế giới đang tiến vào thời kỳ của một cuộc khủng hoảng kinh tế lần thứ Ba. Nguyên do chủ yếu là vì các sai lầm chính sách về thắt chặt ngân sách quá sớm.
    Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này
    Tình trạng suy thoái kinh tế thì thường phổ biến nhưng khủng kinh tế lại hiếm gặp. Theo như tôi được biết, chỉ có hai kỷ nguyên trong lịch sử kinh tế được mô tả rộng rãi như là cuộc khủng hoảng kinh tế tại thời điểm đó: thứ nhất là những năm giảm phát và bất ổn theo sau nỗi kinh hoàng năm 1873 và thứ hai là những năm với tình trạng thất nghiệp liên miên theo sau cuộc Đại Khủng hoảng thời kì 1929-1931.
    Tuy nhiên, cả cuộc khủng hoảng kinh tế lâu dài của thế kỷ 19 hay cuộc Đại Khủng Hoảng của thế kỷ 20 đều không phải là thời kỳ suy giảm liên miên, mà trái lại, cả hai thời kỳ suy thoái đó đều có những khoảng thời gian mà nền kinh tế vẫn tăng trưởng. Mặc dù vậy, những khoảng thời gian tăng trưởng này không bao giờ đủ để khôi phục những tổn thất từ sự đình trệ trước đó, và thường những khoảng thời gian hồi phục này đều có những tái phát theo ngay sau.
    Tôi lo lắng rằng vào thời điểm hiện tại, chúng ta đang ở vào những giai đoạn đầu tiên của một cuộc khủng hoảng kinh tế lần thứ ba trong lịch sử. Cuộc khủng hoảng này có lẽ sẽ giống với cuộc suy thoái lâu dài sau thời điểm năm 1873 hơn là cuộc Đại Khủng Hoảng khủng khiếp của thế kỷ 20. Tuy nhiên, những hao tổn của cuộc suy thoái sắp tới đối với nền kinh tế thế giới và hơn thế là đối với hàng triệu con người phải chịu tai họa của việc thất nghiệp chắc chắn sẽ rất to lớn.
    Cuộc khủng hoảng kinh tế lần thứ ba này chủ yếu sẽ là một sự thất bại về mặt chính sách. Trên toàn thế giới, gần đây nhất là tại cuộc gặp gỡ G20 vô cùng nhàm chán vào cuối tuần trước, các chính phủ đang bị ám ảnh về tình trạng lạm phát, trong khi mối đe đọa thật sự lại nằm ở tình trạng giảm phát, và chính phủ rao giảng về sự cần thiết của việc thắt chặt chi tiêu trong khi vấn đề thực sự lại nằm ở việc chi tiêu không hợp lý.
    Vào năm 2008 và 2009, chúng ta dường như đã học được một số bài học từ lịch sử. Không giống những người tiền nhiệm đã tăng lãi suất nhằm đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính, các nhà lãnh đạo hiện thời của Cục dự trữ liên bang Mỹ và Ngân hàng trung ương châu Âu giảm lãi suất và tiến đến việc giúp đỡ thị thường tín dụng. Không giống như các chính phủ trước đây cố gắng cân đối ngân sách nhằm đối mặt với nền kinh tế đang chìm dần, các chính phủ ngày nay cho phép tăng thâm hụt ngân sách. Những chính sách hợp lý hơn đã giúp nền kinh tế thế giới tránh được sự sụp đổ hoàn toàn: tình trạng suy thoái gây ra bởi cuộc khủng hoảng tài chính có thể cho rằng đã chấm dứt vào mùa hè vừa qua.
    Tuy nhiên, các nhà lịch sử của tương lai sẽ cho chúng ta biết rằng đây vẫn chưa phải là kết thúc của cuộc khủng hoảng kinh tế lần thứ ba, cũng giống như sự hồi phục kinh tế bắt đầu vào năm 1933 cũng không phải là điểm cuối của cuộc Đại khủng hoảng. Sau tất cả, tình trạng thất nghiệp, đặc biệt là thất nghiệp trong thời gian dài, sẽ vẫn tiếp tục tồn tại ở một mức độ lẽ ra đã được coi là thê thảm không lâu trước đây, và cũng không có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm nhanh. Cả nước Mỹ cũng như châu Âu đang tiến bước trên con đường đến cái bẫy giảm phát giống như nước Nhật.
    Đối mặt với bức tranh kinh tế đáng lo ngại như thế này, chúng ta lẽ ra có thể hy vọng vào việc những nhà hoạch định chính sách sẽ nhận ra rằng họ vẫn chưa làm tốt việc khôi phục lại nền kinh tế. Tuy nhiên không phải vậy: trong những tháng vừa qua đã có những sự hồi sinh vô cùng ấn tượng về tiền mặt và cân đối ngân sách chính thống.
    Theo như lối nói hoa mỹ, lối hành xử truyền thống thể hiện rõ ràng nhất ở khu vực châu Âu, bao gồm những khẳng định rằng việc tăng thuế vào cắt giảm chi tiêu sẽ thật sự có thể làm nền kinh tế phát triển bằng cách tăng sự tự tin của các nhà kinh doanh. Tuy nhiên, là một vấn đề thực tiễn, nước Mỹ lại không thực hiện được hành động này một cách khá khẩm gì hơn. Cục dự trữ liên bang Mỹ dường như nhận ra được những mối lo giảm phát nhưng những gì nó định làm nhằm đối phó với mối lo này lại chẳng mang ý nghĩa gì. Chính quyền Obama thấu hiểu được mối đe đọa của việc thắt chặt tài khóa vội vã, nhưng vì những người ở Đảng Cộng hòa và đảng viên bảo thủ ở Đảng Dân Chủ trong Quốc hội sẽ không thông qua những gói trợ giúp thêm cho các chính phủ bang, việc thắt chặt này dù sao cũng sẽ phải tiến hành với hình thức cắt giảm ngân sách bang và các địa phương.
    Vì sao có những sai lầm chính sách?
    Vì sao lại có những sai lầm trong chính sách như vậy? Những người cứng rắn thường viện dẫn chứng về những khó khăn mà Hy Lạp cũng như các nước khác ở khu vực châu Âu đang gặp phải nhằm biện hộ cho những hành động của họ. Sự thật rằng các nhà đầu tư trái phiếu đang quay đầu lại chính phủ với các thâm hụt khó giải quyết. Cũng không có bằng chứng nào cho rằng sự thắt chặt tài khóa ngắn hạn nhằm đối mặt với nền kinh tế đang khủng hoảng có thể làm yên lòng các nhà đầu tư. Trái lại, Hy Lạp đã đồng ý với việc thắt chặt vô cùng cứng rắn chỉ để thấy rằng những mối đe dọa đang lan rộng hơn; Ailen đã áp dụng những cắt giảm nghiêm khắc trong chi tiêu công cộng chỉ để được nhận lại sự đối xử của thị trường như là một mối hiểm họa tồi tệ hơn cả Tây Ban Nha, nước vô cùng dè dặt trong việc chữa bệnh bằng phương thuốc của những nhà làm chính sách cứng rắn
    Có vẻ như thị trường tài chính đang hiểu những vấn đề mà các nhà hoạch định chính sách dường như không hiểu: trong khi những trách nhiệm về tài khóa dài hạn vô cùng quan trọng thì việc cắt giảm chi tiêu vào giai đoạn giữa của cuộc suy thoái kinh tế có thể làm trầm trọng hơn cuộc suy thoái và dọn đường cho khả năng giảm phát, đã thật sự là một hành động gậy ông đập lưng ông, hại chính bản thân mình.
    Vì vậy, tôi thật sự không nghĩ đây là vấn đề về Hy Lạp, hay là vấn đề về bất cứ một sự nhận thức thực tiễn nào về sự đánh đổi đổi qua lại giữa thâm hụt và việc làm. Thay vào đó, sự chiến thắng của một thể chính thống chẳng có sự liên quan gì đến những phân tích dựa trên lý trí cả, những phân tích mà nguyên tắc của nó dựa trên việc một người thể hiện năng lực lãnh đạo của họ trong những thời điểm khó khăn bằng cách để cho những người khác phải chịu đựng sự đau đớn.
    Ai sẽ là người trả giá cho chiến thắng của quan điểm chính thống này? Câu trả lời là hàng chục triệu người bị mất việc, nhiều người trong số đó sẽ không có việc làm trong nhiều năm trời, và có những người sẽ thất nghiệp vĩnh viễn.
    Liên Phạm/ Nguyên Bùi
  3. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://cafef.vn/20100701094623934CA32/kinh-te--tai-chinh-the-gioi-thang-62010.chn
    Kinh tế – Tài chính thế giới tháng 6/2010 ​
    [​IMG]

    TTCK thế giới chưa thoát chuỗi ngày sụt giảm; bức tranh kinh tế châu Âu thêm nhiều "sắc màu" mới; Trung Quốc đưa ra quyết định tỷ giá bước ngoặt.



    1.Thị trường chứng khoán thế giới
    Thị trường Mỹ
    Nhìn lại TTCK Mỹ tháng 5/2010
    Tính cả tháng 5/2010, chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ gần 872 điểm tương đương 7,9% - mức giảm điểm trong tháng 5 chưa từng có tiền lệ. Chỉ số S&P 500 hạ 8,2%. Cả hai chỉ số có mức giảm theo tháng tệ hại nhất từ tháng 2/2009 – tháng trước khi thị trường chứng khoán Mỹ hồi phục từ mức thấp nhất trong 12 năm.
    Thị trường Mỹ tháng 5/2010 chứng kiến rất nhiều "cái nhất": tháng 5 giảm điểm sâu nhất từ năm 1940, ngày giao dịch kinh hoàng nhất trong lịch sử (ngày 06/05).
    TTCK Mỹ tháng 6/2010 chưa sáng sủa hơn
    Đặc điểm chung: Kịch bản của các phiên giao dịch thời kỳ đỉnh cao khủng hoảng tài chính năm 2009 tái diễn khi nhà đầu tư sau khi phân vân hoặc lạc quan trong phiên vẫn quyết định bán tháo cổ phiếu trong giờ giao dịch cuối.
    Hết tuần đầu tiên của tháng 6/2010, Dow Jones chính thức mất mốc 10 nghìn điểm.
    Tháng 6/2010: Chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ 3,58%. Chỉ số S&P 500 hạ 5,38% còn chỉ số Nasdaq hạ 6,54%.
    Quý 2/2010: Chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ 1.082,61 điểm tương đương 9,97%, chỉ số S&P 500 hạ 138,72 điểm tương đương 11,85% còn chỉ số Nasdaq hạ 288,72 điểm tương đương 12,03%.

    [​IMG]
    Diễn biến 3 chỉ số chính trên thị trường chứng khoán Mỹ tháng 6/2010 (Nguồn: Google Finance)
    Thị trường châu Âu
    Tháng 6/2010, chỉ số FTSE của thị trường Anh hạ 5,23%. Chỉ số CAC-40 của thị trường Pháp hạ 1,84%.
    Thị trường châu Á
    Tháng 6/2010, chỉ số Shanghai Composite của thị trường Trung Quốc giảm 9,79%. Chỉ số Nikkei 225 của thị trường Nhật hạ 3,9%. Chỉ số Hang Seng của thị trường Hồng Kông tăng 1,85%. Chỉ số S&P/ASX của thị trường Úc hạ 3,5%. Chỉ số Bombay SE Sensitive của thị trường Ấn Độ tăng 4,97%.
    Yếu tố tác động đến thị trường chứng khoán thế giới trong tháng 6/2010
    Số liệu kinh tế từ Mỹ liên tục phát đi tín hiệu tích cực; sản xuất khu vực New York tăng trưởng tháng thứ 11 liên tiếp; sản xuất đi đầu đà phục hồi của kinh tế Mỹ; số lượng nhà xây mới tháng 5 tiếp tục giảm, chỉ số giá nhà đất 20 thành phố tại Mỹ tháng 6 tăng.
    Nhà đầu tư thất vọng với việc kinh tế không tăng trưởng mạnh như họ dự đoán vào đầu năm nay. Nhiều người đã kỳ vọng kinh tế phục hồi theo hình chữ V, đó là bật dậy mạnh mẽ sau khi lập đáy. Dù vậy, theo ông, nhà đầu tư đã bán tháo quá mức.
    Khả năng dự thảo luật cải tổ ngành tài chính được thông qua. Tuy nhiên giới đầu tư vui mừng vì kế hoạch đánh thuế các ngân hàng và cấm ngân hàng tham gia kinh doanh đã bị loại bỏ. Giữa tháng 7/2010, dự thảo sẽ được Tổng thống ký thành luật.
    Hy Lạp giảm thành công thâm hụt ngân sách và gánh nặng tài chính; Tây Ban Nha phát hành thành công trái phiếu
    Sản xuất công nghiệp châu Âu tháng 4/2010 tăng trưởng vượt dự báo, sản xuất công nghiệp tháng 5 lên mạnh; ngành ngân hàng châu Âu không tệ như người ta tưởng, thị trường việc làm Đức phục hồi tốt…
    2. Thị trường vàng, dầu thế giới
    Tuần thứ 2 của tháng 5/2010: Chốt tuần giá vàng giao tháng 8/2010 trên sàn New York tăng 1%, giá vàng tính theo đồng bảng Anh, euro, franc Thụy Sỹ lập kỷ lục.
    Tuần thứ 3 của tháng 5/2010: Giá vàng trong tuần chứng kiến 2 phiên giảm, 3 phiên tăng trong đó có 2 phiên lập kỷ lục mới; 2 kỷ lục lần lượt là 1.248,70USD/ounce và 1.258,30USD/ounce. Trong phiên đã có lúc giá vàng lên mức 1.263,70USD/ounce. Giá vàng tăng 2,3% trong tuần. So với cuối năm 2009, giá vàng tăng 15%.
    Chốt lại phiên cuối cùng của tháng 6/2010, giá vàng giao tháng 8/2010 tăng 3,50USD/ounce tương đương 0,3% lên mức 1.245,90USD/ounce tại thị trường New York. Giá vàng tăng 2,5% trong tháng 6/2010 và tăng 14% trong năm nay.

    [​IMG]
    Diễn biến giá vàng giao ngay trên thị trường New York trong tháng 6/2010 (Nguồn: Kitco)

    Lượng nắm giữ vàng tại quỹ SPDR GoldTrust liên tiếp lập kỷ lục mới, tính tháng 6/2010 đạt 1.320,44 tấn.
    Yếu tố tác động đến giá vàng
    Thị trường lo lắng về kế hoạch thanh tra các ngân hàng của châu Âu; khả năng nợ của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha có thể tăng cao
    Số lượng người thất nghiệp lần đầu tại Mỹ tăng; doanh số bán nhà mới tháng 5 giảm vượt dự báo
    Nhà đầu tư rót tiền vào vàng bởi tin rằng vàng có thể giữ giá trị tốt hơn các loại tài sản khác như cổ phiếu trong bối cảnh tình hình kinh tế còn nhiều bất ổn;
    Nhà đầu tư ngoài ra còn mất niềm tin vào các loại tiền giấy; đặc biệt là xét đến biến động của đồng euro và đồng USD thời gian qua;
    Trung Quốc và Nga có thể tăng dự trữ vàng; lãi suất cơ bản thấp khiến đầu tư vào vàng mang lại lợi tức hấp dẫn hơn.
    3. Kinh tế toàn cầu hồi phục chậm
    IMF: Rủi ro đối với kinh tế toàn cầu tăng lên nhưng sẽ không có suy thoái lần 2 Giám đốc và phó giám đốc điều hành Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), cho rằng rủi ro rối với triển vọng kinh tế toàn cầu đã tăng lên và hiện nay các nhà hoạch định chính sách không còn nhiều biện pháp có thể sử dụng để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên dòng vốn đầu tư vào nhiều, rủi ro kinh tế tăng trưởng quá nóng lên cao nếu các nhà hoạch định chính sách không đưa ra biện pháp phù hợp.
    Kinh tế châu Á được dự báo tăng trưởng mạnh? Theo ADB, các nền kinh tế mới nổi tại Châu Á có thể đạt tốc độ tăng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tới 7,5% trong năm 2010 và 7,3% trong năm tiếp theo. Liên hợp quốc dự báo các nền kinh tế đang phát triển tại châu Á có thể đạt mức tăng trưởng 7% trong năm nay.
    Kinh tế toàn cầu ra sao nếu lĩnh vực ngân hàng đi xuống? Theo nghiên cứu của Viện tài chính quốc tế (IIF) đến năm 2015, việc áp dụng quy định mới đối với ngành ngân hàng sẽ lấy đi 3,1% tăng trưởng GDP của Mỹ, khu vực đồng tiền chung châu Âu và Nhật. Nguyên nhân chính là bởi với quy định mới, các tổ chức tài chính có thể sẽ hạn chế tín dụng. Báo cáo từ IIF cho thấy những quy định mới đối với ngành ngân hàng có thể khiến số lượng việc giảm 9,7 triệu trong 5 năm tới.
    4.Thế giới đau đầu với nợ công
    Theo tính toán của Economist, đến hết tháng 2/2010, tổng số nợ của tất cả các nước trên thế giới là 36 nghìn tỷ USD.
    Mỹ nợ chồng chất: Theo báo cáo của Bộ Tài chính Mỹ trình Quốc hội nước này trong tháng 6/2010, tổng số nợ của nước Mỹ đến năm 2015 có thể lên tới 19,6 nghìn tỷ USD từ mức 13,6 nghìn tỷ USD trong năm nay.
    [​IMG]
    Nợ của Mỹ tăng dần qua các năm (Nguồn: National Statistics)
    Tỷ lệ nợ/GDP năm nay là 93% GDP, con số này đến năm 2015 có thể lên 102% GDP.
    Trung Quốc và một số nước, cá nhân và quỹ hưu trí hiện nắm tổng lượng nợ của Mỹ khoảng 9,1 nghìn tỷ USD, con số này vào năm 2009 mới chỉ là 7,5 nghìn tỷ USD.
    Châu Âu chìm trong nợ: Tỷ lệ nợ/GDP của một số nước châu Âu ở mức cao: Hy Lạp 115% GDP, Ý 115.8% GDP...
    [​IMG]
    Tỷ lệ nợ công/GDP tại châu Âu. Nguồn: BBC
    5.Trung Quốc và vấn đề đồng nhân dân tệ
    Đồng nhân dân tệ đã được neo tỷ giá với đồng USD ở mức 6,83 nhân dân tệ/USD từ tháng 7/2008 sau khi chính phủ Trung Quốc để đồng nhân dân tệ tăng giá 21% trong 3 năm trước đó.
    Ngày 19/06/2010, xét đến biến động của tình hình kinh tế và thị trường tài chính tại nội địa cũng như trên thế giới, cán cân thanh toán tại Trung Quốc, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc quyết định tiếp tục đưa ra cải cách đối với tỷ giá đồng nhân dân tệ và nâng tính linh hoạt của đồng tiền này.
    Ngày 21/06/2010, đồng nhân dân tệ tăng giá lên mức 6,7958 nhân dân tệ/USD, mức cao nhất từ năm 1993.
    Phiên cuối cùng của tháng 6/2010, đồng nhân dân tệ tăng 0,24% lên mức 6,7814 nhân dân tệ/USD và có mức tăng mạnh nhất trong 1 tuần, từ khi bỏ neo tỷ giá đến hết tháng 6/2010, đồng nhân dân tệ đã tăng được 0,66%.
    Deustche Bank dự báo đồng nhân dân tệ tăng giá 1,9% từ nay đến cuối năm 2010: Cuối năm 2010, tỷ giá đồng nhân dân tệ/đồng USD sẽ ở mức 6,7 nhân dân tệ/USD. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã loại bỏ khả năng nâng giá mạnh đồng nhân dân tệ và tránh động thái chính sách bất thường. Đà tăng của đồng nhân dân tệ có thể hạn chế bởi đồng tiền này đã tăng giá tới 16,5% so với đồng euro trong năm 2010.
    Mark Mobius đưa ra nhận xét về việc nâng giá đồng nhân dân tệ: Ông Mark Mobius, người đứng đầu quỹ Templeton Asset Management với tài sản đang quản lý khoảng 34 tỷ USD, cho rằng việc chấm dứt neo tỷ giá đồng nhân dân tệ chưa đủ để giúp cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Trung Quốc trở nên hấp dẫn hơn.
    6.Trung Quốc, bong bóng hay không bong bóng?
    Ông Nouriel Roubini, giáo sư kinh tế thuộc đại học New York và là người đã dự báo chính xác về khủng hoảng tài chính trước cả khi thị trường lên mức đỉnh, cho rằng kinh tế Braxin, Trung Quốc và Ấn Độ có thể đang tăng trưởng quá nóng tạo ra bong bóng tài sản.
    Ông Roubini dự báo tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc ở thời điểm cuối năm 2010 hoặc đầu năm 2011 sẽ chỉ còn khoảng từ 7% đến 8%. Tăng trưởng kinh tế Mỹ ở thời điểm nửa sau năm 2010 sẽ chỉ còn khoảng chưa đầy 2%.
    Fitch cảnh báo về khủng hoảng tài chính tại Trung Quốc: Theo Cơ quan xếp hạng tín dụng Fitch, tăng trưởng tín dụng, việc đóng gói các khoản vay và bán lại nợ tại các ngân hàng Trung Quốc đã khiến rủi ro tín dụng tăng cao và có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính.
    Kinh tế Trung Quốc vượt Mỹ vào năm 2020? Ông Li DaoKui, chuyên gia tư vấn cho Ngân hàng Trung ương Trung Quốc, kinh tế Trung Quốc trong thập kỷ tới có thể tăng trưởng từ 9% đến 10%/năm và vượt Mỹ vào năm 2020 do chính phủ nước này chậm nâng giá đồng nhân dân tệ.
    Morgan Stanley, UBS, ING cho rằng không tồn tại bong bóng trên thị trường bất động sản Trung Quốc: Ông Stephen Roach, chủ tịch Morgan Stanley tại châu Á, cho rằng không có bong bóng trên thị trường bất động sản Trung Quốc bởi nhu cầu bất động sản nhà ở tại nước này rất lớn.
    Chuyên gia thuộc bộ phận quản lý đầu tư tài sản bất động sản thuộc ngân hàng UBS và ING cho rằng hiện không có bong bóng trên thị trường nhà đất Trung Quốc, tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa sẽ hỗ trợ cho giá bất động sản trong dài hạn.
    Trung Quốc đầu tư hàng tỷ euro vào Hy Lạp:Việc Trung Quốc đã đầu tư hàng tỷ euro vào Hy Lạp trong khi các nhà đầu tư khác lần lượt tháo chạy thể hiện lòng tin của Trung Quốc trước việc Hy Lạp và châu Âu đang tìm cách vượt qua khủng hoảng nợ. Ngoài ra, động thái đó còn cho thấy Trung Quốc đang gấp rút muốn ngăn chặn số chứng khoán euro trị giá tới 630 tỷ USD mà Trung Quốc đang nắm giữa ngày một mất giá.
    7.”Bức tranh” kinh tế đa sắc màu của châu Âu
    Đầu tháng 6/2010, ông Nouriel Roubini, chuyên gia kinh tế học và là người đã từng dự báo chính xác về khủng hoảng tài chính, cho rằng kinh tế châu Âu, nếu không suy thoái, sẽ không tăng trưởng. Ông còn cho rằng nước Mỹ sẽ đương đầu với rắc rối về tài chính.
    Quỹ giải cứu có thể được mở rộng nếu cần: Ông Herman Van Rompuy, chủ tịch mới được bổ nhiệm của Liên minh châu Âu, cho rằng gói giải cứu 750 tỷ euro tương đương 905 tỷ USD sẽ được mở rộng nếu không giải quyết được khủng hoảng nợ hiện nay.
    Tây Ban Nha phát hành thành công trái phiếu:Tây Ban Nha đã phát hành thành công 3 tỷ euro tương đương 3,71 tỷ USD trái phiếu chính phủ thời hạn 10 năm ở mức lợi tức 4,864%, thấp hơn mức 5,04% trước đó.
    Hy Lạp giảm thâm hụt ngân sách:Hy Lạp giảm đươc 40% thâm hụt ngân sách trong 5 tháng đầu năm. Số liệu kinh tế mới nhất cho thấy quốc gia đang chịu ảnh hưởng từ suy thoái kinh tế này sẽ có thể khiến thị trường lạc quan với tốc độ phục hồi trong năm nay. Năm 2009, thâm hụt ngân sách của Hy Lạp là 13,6% GDP, Hy Lạp đặt mục tiêu giảm thâm hụt xuống mức 8,1% GDP trong năm nay. Tình trạng thiếu hụt tiền mặt của Ngân hàng Trung ương Hy Lạp đã cải thiện.
    [​IMG]

    Tỷ lệ thất nghiệp tại châu Âu quý 1/2010(Nguồn:BBC)

    Kinh tế Bồ Đào Nha tăng trưởng tốt: Theo số liệu của Cục Thống kê châu Âu (Eurostat), tốc độ tăng trưởng kinh tế quý 1/2010 của Bồ Đào Nha nhanh thứ 2 tại EU, sau Thụy Điển. Kinh tế nước này tăng 1,8% trong quí 1/2010 so với cùng kỳ năm ngoái và tăng 1% so với quý 4/2009. Theo nhà kinh tế Cristina Casalinho thuộc Banco BPI tại Lisbon (Bồ Đào Nha), xuất khẩu là động lực chính giúp kinh tế Bồ Đào Nha tăng trưởng.
    Moody nhận định ngân hàng châu Âu có thể ứng phó tốt với khủng hoảng: Tổ chức xếp hạng tín dụng Moody đã tiến hành thanh tra các ngân hàng châu Âu và kết luận các ngân hàng châu lục này đủ mạnh để ứng phó với bất kỳ khoản thua lỗ nào từ việc nắm giữ trái phiếu chính phủ Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Ireland.
    Moody hạ 4 bậc xếp hạng tín dụng của Hy Lạp: Moody cảnh báo việc nước này giảm thâm hụt ngân sách sẽ tạo ra nhiều hậu quả xấu về kinh tế. Xếp hạng tín dụng của Hy Lạp bị hạ xuống mức Ba1 từ mức A3, triển vọng ổn định. Xếp hạng của Hy Lạp đã ở mức không an toàn theo hệ thống xếp hạng của Standard & Poor’s.
    Châu Âu sẽ thanh tra các ngân hàng: Tây Ban Nha “nổ phát súng” đầu tiên trong hoạt động thanh tra ngân hàng. Kết quả thanh tra ngành ngân hàng châu Âu sẽ được công bố vào nửa sau tháng 7/2010.
    Thị trường việc làm Đức phục hồi mạnh: Tỷ lệ thất nghiệp tại Đức tháng 6/2010 giảm xuống mức 7,5% nhờ kinh tế tăng trưởng tốt.

    Tình hình ngành ngân hàng châu Âu không tệ như dự báo: ECB tuyên bố sẽ cho phép các ngân hàng vay 131,9 tỷ euro tương đương 161,5 tỷ USD trong khoảng thời gian 3 tháng. Nhu cầu tài chính của các ngân hàng như vậy thấp hơn nhiều so với lo sợ của thị trường.

    8.Tương lai nào cho đồng euro?
    Cho tới năm 2009, dự báo của ông Greenspan về khả năng đồng euro chiếm vị thế của đồng USD dường như đã đúng. Từ khi chính thức được lưu hành vào ngày 01/01/1999, đồng euro đã trở thành đồng tiền dự trữ lớn thứ 2 trên thế giới sau đồng USD.
    Trên thực tế, so với các đồng tiền “đối thủ” khác, đồng euro đã giành được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư lớn trên thế giới. Sau 1 thập kỷ tồn tại, dự trữ bằng đồng euro trong dự trữ tiền tệ thế giới tăng từ 18% lên 28%.

    Trong tháng 6/2010, đồng euro hạ 0,54% so với đồng USD. Từ ngày 01/06 đến hết ngày 08/06, đồng euro giảm giá sâu. Mức đáy được thiết lập vào ngày 08/06 khi tỷ giá đồng euro chỉ còn lại 1,1925USD/euro. Đồng euro từ sau đó đã hồi phục và chốt phiên giao dịch cuối cùng của tháng 6 ở mức 1,2242USD/euro.

    [​IMG]

    Diễn biến đồng euro trong tháng 6/2010 (Nguồn: Google Finance)

    IMF: Sau thời gian liên tục mất giá, nhà đầu tư đã bớt chuộng euro. Tính đến hết tháng 3/2010, đồng euro chỉ còn chiếm 27,2% dự trữ tiền tệ thế giới con số cuối 4/2009 là 27,3%. Dự trữ bằng đồng USD là 61,5% từ mức 62,2% cuối quý 4/2009.
    George Soros: Chính sách của Đức có thể phá hủy châu Âu, giết chết đồng euro Nhà đầu tư nổi tiếng George Soros trong bài phỏng vấn mới đây cho rằng chính sách thắt lưng buộc bụng của chính phủ Đức sẽ có thể phá hủy toàn châu Âu và không thể loại bỏ khả năng đồng euro sụp đổ.
    Năm 2011, 1 euro đổi 1 USD?Theo Trung tâm nghiên cứu kinh tế và kinh doanh (CBER) tại London, đồng euro có thể giảm xuống mức ngang bằng với đồng USD vào năm 2011 bởi tốc độ phục hồi kinh tế châu Âu chậm. Khả năng xấu nhất, đồng euro có thể sẽ tan vỡ sau đó.
    9.Các đồng tiền châu Á liên tục mất giá
    Tuần đầu tiên của tháng 5, các đồng nội tệ châu Á giảm giá sâu, đi xuống sâu nhất là đồng rupee Ấn Độ và đồng won Hàn Quốc bởi lo lắng khủng hoảng nợ châu Âu sẽ làm chậm lại đà phục hồi của kinh tế toàn cầu. Triển vọng xuất khẩu và đầu tư của khu vực đi xuống.
    Chốt phiên giao dịch cuối cùng của tháng 6/2010, đồng won hạ 0,4% xuống 1.221,80 won/USD. Tính từ cuối tháng 3/2010, đồng won hạ 7,4% và có quý giảm đầu tiên trong hơn 1 năm.
    Đồng rupee của Ấn Độ giảm 0,2% xuống 46,59 rupee/USD, đồng rupee giảm 3,6% trong quý 2/2010.
    Đồng bath Thái cũng có quý đi xuống đầu tiên từ tháng 3/2009 sau khủng hoảng bạo lực – chính trị tồi tệ nhất trong 2 thập kỷ tại nước này. Tại thị trường Bangkok, đồng bath Thái giao dịch ở mức 32,42 bath/USD.
    Đồng ringgit của Malaysia, trong khi đó tăng 0,4% lên 3,2375 ringgit/USD. Đồng ringgit có quý tăng giá thứ 5 liên tiếp.
    Morgan Stanley hạ dự báo tăng trưởng của một số đồng tiền châu Á: Theo đó, khủng hoảng nợ châu Âu sẽ khiến nhu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu châu Á giảm bớt. Tỷ giá đồng won ở thời điểm cuối năm 2010 có thể là 1.175won/USD, dự báo trước đó là 1.050won/USD.
    Cuối năm 2010, đồng rupee có thể giao dịch với đồng USD ở mức 46 rupee/USD, dự báo trước đó là 43,50 rupee/USD.
    10.Thế giới chuẩn bị đón những đợt IPO khủng
    Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc

    Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc có thể huy động được khoảng 23,1 tỷ USD trong đợt IPO sắp diễn ra.
    Đợt IPO của Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc sẽ là phép thử đối với niềm tin vào ngành ngân hàng Trung Quốc sau khi các ngân hàng nước này đã cấp khoản vay kỷ lục trong năm 2009.
    Nếu ở con số 23,1 tỷ USD, đợt IPO của Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc sẽ có giá trị lớn hơn đợt IPO của Ngân hàng Thương mại và Công nghiệp Trung Quốc cách đây 4 năm với giá trị 21,9 tỷUSD.
    Đợt IPO lần này của Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc khó khăn hơn rất nhiều bởi chỉ số chứng khoán chính của thị trường Trung Quốc đã giảm tới 22% trong năm 2010 và những lo lắng xung quanh việc tín dụng tăng trưởng nóng có thể dẫn đến nợ xấu tăng cao.
    Đợt IPO còn đánh giá chương cuối cùng của 1 thập kỷ cải tổ ngành ngân hàng Trung Quốc.
    IPO của “đại gia” General Motors
    Mỹ chuẩn bị đón nhận đợt IPO lớn kỷ lục với giá trị cổ phiếu phát hành lên tới 20 tỷ USD của General Motors. Sự thành công của đợt IPO này đánh dấu chiến thắng chính trị quan trọng đối với chính quyền Tổng thống Obama sau khi chính quyền này đã giành tiền ứng cứu General Motors và Chrysler vào năm 2008. Đợt IPO này được dự đoán sẽ là đợt IPO lớn nhất kể từ đợt IPO trị giá 19,7 tỷ USD mà công ty phát hành thẻ tín dụng Visa Inc thực hiện vào tháng 3/2008.
    11.”Bão táp” trên chính trường thế giới
    Nhật: Ngày 02/06/2010, ông Yukio Hatoyama, Thủ tướng Nhật, cho biết ông sẽ từ chức sau khi phá vỡ lời hứa chuyển căn cứ hải quân của Mỹ khỏi đảo Okinawa. 2 ngày sau, Bộ trưởng Tài chính Nhật lên làm Tân thủ tướng.
    Úc: Dự thảo đánh thuế ngành khai mỏ khiến cựu Thủ tướng Kevin Rudd mất chức. Úc có nữ Thủ tướng mới với chính sách thỏa hiệp hơn với các công ty thuộc lĩnh vực khai mỏ.
    Ngọc Diệp
  4. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://cafef.vn/2010070102121211CA3...vong-voi-tin-tu-trung-quoc-va-tay-ban-nha.chn
    Thị trường châu Á thất vọng với tin từ Trung Quốc và Tây Ban Nha ​
    [​IMG]

    Thị trường thất vọng sau thông tin tăng trưởng sản xuất Trung Quốc chững lại, Moody phát đi tín hiệu có thể hạ xếp hạng tín dụng của Tây Ban Nha.



    Thông tin mới công bố cho thấy chỉ số PMI của lĩnh vực sản xuất Trung Quốc giảm sâu hơn dự báo của các chuyên gia.
    Chỉ số PMI của tháng 6/2010 giảm xuống mức 52,1 từ mức 53,9 của tháng 5/2010. Con số này thấp hơn dự báo của các chuyên gia.
    Chỉ số MSCI của TTCK châu Á – Thái Bình Dương hạ 1,3% xuống 111,29 điểm tính đến 3h20 phút chiều tại thị trường Tokyo.
    Quý 2/2010, chỉ số này hạ tới 10% và có quý giảm mạnh nhất trong hơn 1 năm.
    Chỉ số đã giảm 14% so với mức đỉnh cao của năm thiết lập ngày 15/04/2010 bởi lo lắng về khủng hoảng nợ châu Âu và những biện pháp mà Trung Quốc có thể tiến hành để làm dịu đà tăng của giá nhà đất sẽ ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng toàn cầu.
    Chỉ số Nikkei 225 của thị trường Nhật hạ 2,04%. Chỉ số Hang Seng của thị trường Hồng Kông hạ 0,59%. Chỉ số Kospi của thị trường Hàn Quốc hạ 0,71%. Chỉ số Straits Times của thị trường Singapore hạ 0,47%. Chỉ số SET của thị trường Thái Lan hạ 0,22%. Chỉ số Shanghai Composite của thị trường Trung Quốc hạ 1,02%. Chỉ số Bombay SE Sensitive của thị trường Ấn Độ hạ 1,16%.
    Cổ phiếu các công ty khai mỏ trong phiên giao dịch hôm nay trên thị trường châu Á giảm tới 1,7%.
    Cổ phiếu các công ty khai mỏ như BHP Billiton và Rio Tinto, công ty thu được tới hơn 20% doanh thu từ thị trường Trung Quốc, giảm tại thị trường Sydney.
    Cổ phiếu Nissan Motor, hãng thu được 13% doanh thu từ châu Âu, giảm 3,2% tại thị trường Tokyo.
    Chỉ số S&P 500 tương lai hạ 0,2%. Chỉ số này phiên ngày hôm qua hạ 1% sau khi ADP Employer Services công bố các công ty Mỹ tháng 6/2010 tuyển dụng số lao động thấp hơn dự báo của giới chuyên gia.
    Chi Mai
    Theo Bloomberg,WSJ
  5. mrducthuan

    mrducthuan Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    07/04/2010
    Đã được thích:
    0
    Quá xá đã....em 100% cổ....

    Mấy bác cứ phang thoải mái.

    Lúc DJ 8500, hàng ngày có cả chục tin như mấy bác đăng....thế mà nó lại tăng lên 10k...vậy mới đểu nhể
    :)>-:)>-:)>-
  6. shn_hnx

    shn_hnx Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    29/03/2010
    Đã được thích:
    4
    Mịa mấy ông lởm thật...khủng hoảng lần 2 còn chưa xảy ra đã kêu như ve là khủng hoảng lần 3...lạy các cụ...đừng có đăng đàn nữa cho con nhờ
  7. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://cafef.vn/20100701120651399CA32/nguoi-duc-muon-quay-ve-dung-dong-mark.chn
    Người Đức muốn quay về dùng đồng mark ​
    [​IMG]
    Một nửa dân số Đức muốn dùng đồng mark.​

    Một cuộc khảo sát công bố đầu tuần cho thấy dù đã sử dụng đồng euro suốt 11 năm qua, đa số người Đức vẫn luôn muốn quay về với đồng tiền truyền thống của mình.



    Cuộc khảo sát này được thực hiện bởi Viện Nghiên cứu thị trường Ipsos và báo chí Đức loan tin hôm qua. Theo đó, khoảng 51% người trả lời muốn đồng mark quay trở lại, 30% phản đối ý kiến trên và 18% không đưa ra được quyết định.
    Niềm tin của người Đức vào đồng tiền chung châu Âu euro bị lung lay nghiêm trọng trong những tháng gần đây do cuộc khủng hoảng nợ ở Hy Lạp và gói giải cứu cho Athens của các nước Eurozone. Nếu so sánh tương quan với thời điểm đồng mark còn tồn tại ở năm 1998, đồng euro hiện mạnh hơn mark (so sánh ngang giá với USD). Nhưng việc mất giá mạnh của đồng euro đã làm dấy lên các mối lo ngại tại nền kinh tế lớn nhất châu Âu này.
    Đồng mark là đơn vị tiền tệ chính thức của Đức cho đến tận năm 1999, và vẫn tiếp tục được lưu hành dưới hai dạng giấy bạc và tiền xu cho đến năm 2002.
    Tuy nhiên, theo kết quả thăm dò nói trên, ý kiến đưa đồng mark quay trở lại cũng dao động tùy từng độ tuổi. Những người từ 54-60 tuổi nói rằng họ rất muốn dùng lại đồng tiền này, trong khi chỉ có 42% số người trong độ tuổi từ 16-29 là mong chờ việc đó.
    Sự chênh lệch giữa hai khu vực Đông và Tây Đức cũng là rất nhỏ với 52% người ở Đông Đức và 48% ở Tây Đức cho biết họ thích đồng mark hơn euro.
    Giáo dục cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định này. 34% số sinh viên tốt nghiệp từ các trường trung học dự bị đại học cho rằng họ sẽ dùng đồng mark. Trong khi tỷ lệ này ở những người tốt nghiệp các trường dạy nghề là khoảng 70%.


    Theo VnExpress


  8. vncaptain

    vncaptain Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    21/01/2010
    Đã được thích:
    2
    Tin xấu ra nhiều là bít phải lảm gì rồi....muc....[:D]
  9. lamkaka

    lamkaka Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    05/06/2010
    Đã được thích:
    0
    cụ nói phải, múc thôi
  10. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://stox.vn/stox/view_news_detai...g-nghiep-cua-chau-a-tang-truong-cham-lai.stox
    Sản xuất công nghiệp của châu Á tăng trưởng chậm lại

    [​IMG] [​IMG] Lần đầu tiên trong vòng 15 tháng, các nhà máy của Trung Quốc bắt đầu giảm tốc độ sản xuất, Trong khi đó, các nhà sản xuất ở những nền kinh tế chủ chốt khác của châu Á cũng bắt đầu cắt giảm tốc độ tăng sản lượng.

    Mức sản lượng thấp hơn tại cả Trung Quốc cũng như tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Đài Loan cho thấy khu vựng này đang chứng kiến tốc độ tăng trưởng của mình giảm dần, do những hệ quả từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
    Tuy nhiên, những dữ liệu của hoạt động sản xuất khác như số việc làm mới vẫn tiếp tục tăng tốt tại bốn nước. Điều này đưa ra khả năng các khu vực sản xuất tại đây chỉ đơn thuần điều chỉnh hoạt động của mình về tốc độ bình thường thay vì một sự thu hẹp về quy mô.
    Sự thay đổi tốc độ đáng ngạc nhiên nhất là của Trung Quốc, khi chỉ số quản lý thương mại (PMI-Purchasing managers’ index) cho thấy tốc độ mở rộng sản xuất đã giảm rõ rệt. PMI chính thức của Trung Quốc giảm từ 53.9 vào tháng Năm xuống còn 52.1, mức thấp nhất kể từ tháng Hai. Chỉ số PMI không chính thức do HSBC công bố cũng giảm xuống 50.4 từ mức 52.7.
    Chỉ số PMI lớn hơn 50 có nghĩa là các hoạt động sản xuất đang phát triển, và chỉ số nhỏ hơn 50 cho thấy các hoạt động này đang bị thu hẹp. Các nhà kinh tế nói chung không nhấn mạnh vào khả năng nền kinh tế Trung Quốc đang bị thu hẹp.
    Theo ông Hongbin Qu, chuyên gia kinh tế Trung Quốc của HSBC, thì “ việc chỉ số PMI giảm điểm có nghĩa là tốc độ tăng trưởng của khu vực sản xuất chậm lại, do tác động của các biện pháp thắt chặt gần đây. Sự lo ngại về một cú sốc đã bị thổi phồng.“
    Cục Thống kê Quốc gia của Trung Quốc lại phát biểu rằng tình hình khá nghiêm trọng, và chỉ số PMI giảm là do chịu ảnh hưởng của các chính sách kinh tế nghiêm ngặt hơn, cũng như phản ánh một tốc độ phục hồi toàn cầu còn yếu.
    Chỉ số PMI tháng Sáu của Hàn Quốc do HSBC công bố giảm từ 54.6 vào tháng Năm xuống còn 53.3. Mặc dù đây là tháng thứ 16 liên tiếp chỉ số này lớn hơn 50, nhưng đồng thời cũng cho thấy tốc độ tăng trưởng thấp nhất kể từ tháng 12/2009. Theo các chuyên gia kinh tế, nền kinh tế lớn thứ 4 châu Á này chỉ đơn thuần đang điều chỉnh về tốc độ phát triển bình thường của khu vực sản xuất. Các đơn đặt hàng xuất khẩu vẫn tăng, tuy có chậm hơn. Xuất khẩu tháng Sáu của Hàn Quốc đã tăng 32.4% so với cùng kỳ năm ngoái.
    PMI của Đài Loan đi xuống tháng thứ ba liên tiếp, còn 53.8 từ mức 57.4 vào tháng Năm. Theo ông Frederic Neumann, đồng giám đốc của ban nghiên cứu kinh tế châu Á của HSBC Hồng Koong, thì các đơn đặt hàng xuất khẩu của Đài Loan vẫn đang tăng ở mức “khả quan” . “Sau khi tăng cao trong 5 tháng đầu năm, tăng trưởng của Đài Loan bắt đầu dịu lại, và không có dấu hiệu nguy hiểm”, ông Neumann cho biết.
    Tại Nhật Bản, chỉ số PMI mất mức kỷ lục của bốn năm, giảm từ 54.7 xuống còn 53.9. Tuy có chậm lại, nhưng đây là tháng tăng trưởng thứ 12 liên tiếp của khu vực sản xuất của nước này. Một nhà kinh tế của Nomura, ông Minoru Nogimori, cho rằng, “Trong khi mà nhiều người vẫn đang lo lắng về ảnh hưởng của những vấn đề tài khóa châu Âu tới kinh tế Nhật Bản, thì mức độ tác động tới nay vẫn không đáng kể, và chúng tôi vẫn kỳ vọng khu vực sản xuất của Nhật Bản sẽ tiếp tục cải thiện.”
    Trong khi đó, cơ quan thống kê của Việt Nam cho biết tốc độ tăng trưởng của quý II năm 2010 là 6.4%, cao hơn mức 5.8% của quý I. Quý I năm 2010 cũng phát triển nhanh hơn cùng kỳ năm ngoái tới 6.2%. Điều này cho thấy Việt Nam đang phục hồi với tốc độ nhanh, và đạt được mức tăng trưởng cao.
    Minh Nhật
    Financial Times

Chia sẻ trang này