1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

các bác vào đây đọc bào này rồi cho ý kiến - Phản đối việc NN rút phần vốn thặng dư sau cổ phần hoá

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi rama, 02/11/2007.

629 người đang online, trong đó có 112 thành viên. 21:02 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1553 lượt đọc và 24 bài trả lời
  1. rama

    rama Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    12/05/2002
    Đã được thích:
    8.203
    các bác vào đây đọc bào này rồi cho ý kiến - Phản đối việc NN rút phần vốn thặng dư sau cổ phần hoá từ VCB

    Công luận chưa nguội với trường hợp cổ phần hóa Bảo Việt, lại nóng lên với tình huống tương tự của Vietcombank. Trọng tâm câu chuyện xoay quanh việc xử lý vốn thặng dư. Câu chuyện thật ra không mới, lại có vẻ như đã được giải quyết bởi Nghị định 109, nhưng vấn đề thì còn rất mới.

    Một vài con số

    Vào thời điểm tiến hành cổ phần hóa (CPH), và sau khi được điều chỉnh, giá trị sổ sách của Bảo Việt là 1.678 tỉ đồng. Quá trình xác định giá trị doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu được định lại là 4.443 tỉ đồng (444.300.000 cổ phần). Bảo Việt giữ nguyên phần vốn nhà nước và phát hành thêm 128.700.000 cổ phần (1.287 tỉ đồng mệnh giá) để huy động vốn. Giá bán bình quân một cổ phần là ~72.000 đồng, tổng vốn huy động thêm là 9.266,4 tỉ đồng. Trong đó phần thặng dư (chênh lệch giữa giá bán và mệnh giá) là khoảng 7.979 tỉ đồng, số này được trừ chi phí CPH (khoảng 281 tỉ) còn lại 7.698 tỉ. Chưa hết, do tỷ lệ vốn nhà nước tại Bảo Việt hậu CPH là 77,4% nên Nhà nước đã rút ra số tiền tương ứng là 5.969 tỉ đồng. Như vậy, tiếng là doanh nghiệp huy động vốn, Bảo Việt đem về két của mình chỉ có 22,6% tiền thu được, cụ thể là 1.729 tỉ đồng.



    Đó là chuyện Bảo Việt, còn Vietcombank? Cho tới nay (cuối tháng 10-2007) mặc dù các diễn tiến cao trào còn ở phía trước, các thông tin về CPH Vietcombank cũng đã được hé mở: vốn sổ sách lúc bắt đầu CPH (mốc 31-12-2006) là 4.300 tỉ; vốn chủ sở hữu (được xác định lại) là 11.127,248 tỉ đồng; vốn điều lệ mới (dự kiến) là 15.000 tỉ. Thật ra nếu Nhà nước vẫn giữ nguyên phần vốn của mình tại doanh nghiệp (không bán bớt) và định sẵn tỷ lệ sở hữu cho mình là 70%, cổ đông khác là 30%, thì theo tính toán, vốn điều lệ mới sẽ có thể cao hơn 15.000 tỉ. Ở đây ta tạm xem số lượng cổ phần phát hành thêm (IPO) là khoảng 400 triệu (tương đương 4.000 tỉ vốn điều lệ), đem lượng cổ phần này nhân với giá đấu bình quân ta có số tiền ước sẽ thu về và khoản thặng dư. Theo dự trù và cũng giống như Bảo Việt, phần thặng dư sẽ được chia theo tỉ lệ Nhà nước 70%, doanh nghiệp 30%. Chính vấn đề nằm ở việc chia này và đang gây tranh cãi...



    Thặng dư từ đâu ra

    Chỗ dựa của vấn đề là Nghị định 109. Theo khoản 2 và 3, điều 45, Nghị định 109, về quản lý và sử dụng tiền thu từ CPH thì, số tiền thặng dư (sau khi trừ chi phí CPH) sẽ được để lại cho công ty cổ phần theo tỷ lệ tương ứng với số cổ phần phát hành thêm trong cơ cấu vốn điều lệ. Thế nhưng quy định như vậy có hợp lý?...



    Để rõ vấn đề hơn, ta xem qua ba hình thức cổ phần hóa (điều 4, NĐ 109): 1) giữ nguyên vốn sở hữu nhà nước và phát hành thêm cổ phiếu huy động vốn; 2) bán một phần sở hữu nhà nước hoặc kết hợp vừa bán bớt một phần vừa phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn; 3) bán toàn bộ vốn chủ sở hữu nhà nước hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vừa phát hành thêm để huy động vốn.



    Để minh họa và lý giải vấn đề, thay vì lấy hình thức thứ nhất (áp dụng cho Bảo Việt và Vietcombank) ta dẫn chuyện bằng hình thức thứ ba. Hình thức thứ ba có hai cách thực hành, hoặc bán toàn bộ vốn chủ sở hữu nhà nước hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vừa phát hành thêm để huy động vốn. Cả hai cách đều có điểm chung là Nhà nước bán toàn bộ để rút lui. Tuy nhiên, cách sau có hai phân khúc song hành nhưng độc lập nhau. Đó là (1) chủ sở hữu nhà nước bán toàn bộ doanh nghiệp cho (các) chủ sở hữu khác; và (2) Nhà nước cho phép doanh nghiệp đó huy động thêm vốn để duy trì hoạt động và phát triển. (Đây thường là cách áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) yếu kém, làm ăn thua lỗ). Phân khúc (1) cho chủ sở hữu nhà nước toàn quyền định đoạt số tiền thu từ việc bán toàn bộ doanh nghiệp cũ. Phân khúc (2) là doanh nghiệp huy động thêm vốn cho mình nên phần tiền thu được ở đây sẽ thuộc về doanh nghiệp mới.




    Ví dụ: Một DNNN có giá trị sổ sách là 5 tỉ đồng. Sau khi xác định lại, giá trị vốn chủ sở hữu tại DNNN đó tăng lên 10 tỉ đồng. Theo phương án CPH thì toàn bộ số vốn 10 tỉ này (1 triệu cổ phần) sẽ được Nhà nước bán hết cho nhà đầu tư mới. Đồng thời, cũng theo phương án CPH, (thay vì vốn điều lệ sau CPH là 10 tỉ) doanh nghiệp được phép nâng vốn điều lệ lên 15 tỉ (thực chất đây là việc doanh nghiệp phát hành 500.000 cổ phần để huy động thêm vốn cho mình). Như vậy, tổng cộng lượng cổ phần bán ra sẽ là 1,5 triệu. Giả định mỗi cổ phần bán được là 20.000 đồng, thì Nhà nước sẽ thu về bao nhiêu? Theo lý giải trên, có thể thấy ngay rằng số đó không thể nhiều hơn 20 tỉ đồng (chỉ thu cái mình bán). Trong thực tế, nếu việc CPH chỉ là bán đứt mà không kết hợp huy động thêm thì vốn nhà nước chưa chắc sẽ bán được giá cao. Tại sao? Vì trong nhiều trường hợp, như vậy chẳng khác bán xác. Doanh nghiệp không có hướng phát triển mới, kém triển vọng, nhà đầu tư kỳ vọng thấp... thì giá khó mà cao.



    Theo nguyên lý, các hoạt động phát hành vừa để chủ cũ rút vốn vừa để tăng vốn cho doanh nghiệp đều được gọi chung là phát hành kết hợp (split offering /combined distribution). Ở đó vừa có chào bán thứ cấp (chủ sở hữu cũ bán ra phần vốn của mình) vừa có chào bán sơ cấp (doanh nghiệp phát hành huy động vốn cho mình). Tiền thu về (gọi chung proceeds, gồm cả mệnh giá và thặng dư) sẽ đi theo hai ngã riêng biệt. Khoản thu thứ cấp sẽ vào túi chủ sở hữu cũ, khoản thu sơ cấp sẽ vào két doanh nghiệp và được sổ sách ghi nhận. Không thể có cách làm khác. Vì về mặt danh chính ngôn thuận, phần sau là do doanh nghiệp đứng ra huy động chứ không phải chủ cũ.



    Để danh chính, ngôn thuận

    Phân tích trên đây nhằm nói lên rằng, theo lý lẽ tài chính doanh nghiệp, chỉ khi nào chủ sở hữu (cổ đông cũ) bán phần sở hữu của mình đi thì họ mới có thể lấy tiền từ việc bán đó. Vậy, việc giữ nguyên vốn, phát hành thêm sẽ không có chỗ để chủ sở hữu cũ lấy tiền ra, dù đó là thặng dư. Đơn giản vì việc phát hành thêm là việc của chủ thể doanh nghiệp (hay pháp nhân doanh nghiệp) chứ không phải của chủ sở hữu doanh nghiệp (hay chủ thể cổ đông). Rõ hơn, khi nhà đầu tư mua cổ phần mới (new issues) là họ góp vốn vào công ty phát hành chứ không phải mua lại của cổ đông cũ. Do vậy, việc điều khoản vốn này ra khỏi doanh nghiệp theo bất cứ lý lẽ nào sẽ đều khó lý giải. Hơn nữa, một khi nhà đầu tư mới chịu mua giá cao hơn nhiều lần so với cổ đông cũ thì mặc nhiên họ đã công nhận phần giá trị sở hữu hiện có của anh trong công ty cao lên chừng đó lần. Họ là người bỏ tiền tươi vào để bẩy giá trị tài sản của anh lên.



    Suy cho cùng, vấn đề ở đây (và nhiều vấn đề khác) bắt nguồn từ cách nhìn nhận một số tiền cứng trong vốn điều lệ. Từ đó, ta cho rằng thặng dư không phải là vốn điều lệ, thậm chí không phải là vốn, nên mới có chuyện chia. Việc lấy vốn điều lệ làm thước đo hay để đánh giá công ty cổ phần đã đẻ ra lắm cách lý giải không thật. Chẳng hạn, công ty có vốn điều lệ ngàn tỉ đôi khi lại bé hơn anh trăm tỉ. Hoặc, việc dùng thặng dư để tăng vốn, để chia hay thưởng, chẳng khác cách tự nắm tóc kéo mình lên, là lấy vốn chia nhau, là sản xuất cổ phần, trợ giá chứng khoán, chứ không phải huy động vốn. Không ít nơi trước đây còn cho khoản này là lợi nhuận. Đáng tiếc, cho tới nay cách hiểu và thực hành vốn điều lệ ở ta chưa tương thích với ước lệ tài chính cổ phần.



    Riêng vấn đề chia vốn thặng dư, sở dĩ có việc tranh cãi là do sự thiếu tách bạch giữa các khái niệm nhà nước, chủ sở hữu nhà nước và doanh nghiệp. Cần xác định phần thặng dư theo tỷ lệ là của chủ sở hữu nhà nước chứ không phải của Nhà nước. Thặng dư là nguồn vốn của doanh nghiệp. Nói vậy để thấy việc điều đi là không hợp lý.
  2. logistic

    logistic Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/10/2006
    Đã được thích:
    0
    Quan điểm tôi ko phản đối, Nhà nước việc rút thặng dư vốn là có tính hợp lý của nó. Trước khi cổ phần hoá, việc định giá của doanh nghiệp ko thể tính được hết giá trị của các tài sản vô hình khác, giá trị doanh nghiệp còn nằm ở chỗ : mức lợi thế trong kinh doanh như thị phần, các khách hàng ruột của doanh nghiệp, nhãn hiệu và uy tín, đội ngũ cán bộ được đầu tư bài bản, sự liên kết kinh doanh có được nhờ có sự bảo lãnh nhà nước, là những cái mà ko thể xây dựng và có được bằng tiền. Khi nhà nước chấp nhận cổ phần hoá những DN huyết mạch của nền kinh tế, nhà nước đã chấp nhận sự chia sẻ thông tin sức sống của các doanh nghiệp, sức sống của nền kinh tế.... Do đó với quan điểm tôi việc đó ko có gì là bất hợp lý !
  3. dbp

    dbp Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    25/09/2003
    Đã được thích:
    0
    Bác này chưa hiểu bản chất:
    -Nếu nhà nước bán bớt phần sở hữu của mình trong doanh nghiệp cho đối tác khác, nhà nước có quyền rút phần tiền bán được về cho nhà nước và giảm bớt tỷ lệ sở hữu của mình trong doanh nghiệp, điều này cũng như bác bán cp của bác vậy, hiển nhiên bác được rút tiền về cho riêng bác và phần sở hữu của bác trong cty bớt đi tương ứng với số cp bác bán.
    -Nếu doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu, tăng vốn: tiền thu được thuộc về doanh nghiệp chứ không cổ đông nào được rút ra cả (trong số cổ đông có nhà nước), khi công ty mà bác có cổ phần phát hành thêm cp để tăng vốn thì phần tiền thu được thuộc về công ty (trong đó có bác), bác- với tư cách cổ đông- không được rút phần tiền thu được do tăng vốn ra. Muốn được tiền, bác phải giải quyết như trường hợp trên, tức là giảm bớt tỷ lệ sở hữu của bác bằng cách bán bớt số cp bác nắm.
    -Trường hợp VCB có tranh cãi là vì lẫn lộn giữa 2 trường hợp trên.
  4. star_seeker

    star_seeker Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/11/2006
    Đã được thích:
    1
    Nhà nước rút vốn về là đúng rồi. Bảo Việt về 2x là em vui.
  5. wall

    wall Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    29/03/2001
    Đã được thích:
    174
    Ủng hộ nhà nước rút về lấy tiền xây dựng đất nước ta to đẹp hơn, đàng hoàng hơn. Càng rút được nhiều tiền để xây đường xá, cầu cống càng tốt.
  6. mr_hn_codon

    mr_hn_codon Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    08/12/2006
    Đã được thích:
    0
    Em phải đọc lại 2 lần mới hiểu được hết ý bác ợ....Đúng là văn phong càng khó hiểu càng thể hiện tầm cao học thức của người viết
    Em hơi dốt về ngôn từ tài chính nhưng theo ngu ý của em thì việc phát hành cp tăng vốn được coi là bước khởi đầu cho việc mở rộng phương án kinh doanh của doanh nghiệp. Đương nhiên đã dự trù cả tỷ lệ đóng góp tương đương sở hữu cổ phần của các cổ đông. Hành động rút phần thặng dư của 1 cổ đông nào đó được coi là rút tỷ lệ vốn góp trên tổng tài sản của chủ sở hữu. Tuy nhiên cái nhập nhằng ở đây lại là việc chào bán cổ phiếu thứ cấp với sơ cấp rồi sử dụng chung 1 tên gọi : " cổ phiếu tăng vốn" khiến cho dân tình nhầm lẫn các số liệu... và "ngư ông đắc lợi" một cách hợp pháp phải không bác????
  7. star_seeker

    star_seeker Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/11/2006
    Đã được thích:
    1
    Được star_seeker sửa chữa / chuyển vào 01:07 ngày 04/11/2007
  8. I_love_life

    I_love_life Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/05/2004
    Đã được thích:
    0
    Thực ra vấn đề rất dễ hiểu nhưng người viết bài này diễn đạt loằng ngoằng(không phải chủ topic nhé,chủ topic chỉ copy thôi).Nhưng thực ra tác giả rất có lý.
    Nhưng cá nhân tôi đồng ý với quan điểm nhà nước rút thặng dư để đầu tư vào các công trình công ích,mặc dù như vậy không nên đầu tư vào các công trình mà chất lượng như cầu Cần Thơ,hay tượng đài Điện Biên Phủ,hay SVĐ Mỹ Đình,...
  9. logistic

    logistic Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/10/2006
    Đã được thích:
    0

    Với một doanh nghiệp đã có thị phần khống chế và DNNN , thì nên hiểu việc rút vốn thặng dư là : tôi đang chia sẻ tiềm năng và thị phần của tôi cho anh, chứ tôi ko chia sẻ hay bán phần tỷ lệ sở hữu của tôi cho anh (Tôi đang là chủ DN chứ ko phải là liên doanh hay chứ ko phải là ai khác cơ mà!). DN có được như hiện nay là nhờ công sức của tôi bấy lâu có đc. Anh muốn tham gia cùng tôi làm ăn thì . Đứng trên quan điểm NN thì tôi sẵn sàng bán cho anh "Cái quyền được cùng tôi" làm ăn trên danh nghĩa là có sự thay đổi quyền sở hữu chứ tôi ko bán phần vốn hiện có của tôi cho anh, phần thặng dư là cái tôi được hưởng riêng. Phần nào là đóng góp chung thì cả tôi và anh cùng được hưởng, phần riêng của tôi bán quyền thì tôi tách riêng. Do đó nếu chấp nhận trong điều kiện trên thì tham gia, ko thì mời anh khác vào xếp hàng .... ! Vì đã từng tham gia vào nhóm tư vấn cổ phần hoá các DN NN tương tự nên tôi muốn chia sẻ quan điểm của các quan chức VN là như vậy, với tôi, nếu đứng trên quan điểm NN , tôi cũng sẽ làm như vậy. Âu cũng là hợp lẽ thường tình thôi .
  10. mr_hn_codon

    mr_hn_codon Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    08/12/2006
    Đã được thích:
    0
    OK, vậy bác cho tôi hỏi, phần sở hữu của bác thì bác rút thặng dư ra. Phần thặng dư còn lại được tính vào lợi nhuận phát sinh của doanh nghiệp. Thế lúc chia cổ tức thì phần sở hữu của bác có lên tiếng từ chối không ( vì đã rút ra rồi mà)? hay là bác lại nghiễm nhiên hưởng thặng dư lần 2???? Cái này tôi chưa hiểu lắm. Giả dụ cổ phần của tôi khi CPH là 75%, sau IPO phần thặng dư là 100B. Tôi rút ra 75% = 75B để làm việc của tôi , vậy tỷ lệ cổ phần còn lại của tôi là 75% hay = 75%- (75/tổng tài sản sở hữu/100)????
    Bác nào hảo tâm khai hoá văn minh cho tôi cái nhể???

Chia sẻ trang này