1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Các chiên gia thế giới "mổ xẻ" sự mất giá của VND, cắt nghĩa "cơn say" tăng trưởng của VN

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by LHF2D, Nov 16, 2010.

Có 3162 người đang online, trong đó có 89 thành viên. 18:02 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 1)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. LHF2D

    LHF2D Thành viên rất tích cực

    Joined:
    May 17, 2010
    Likes Received:
    0
    Các bác chịu khó đọc nhé, các chuyên gia NN nói thế này thì chứng trường Vitngan sẽ đi đâu các bác có biết ko???

    http://vef.vn/2010-11-15-truc-tuyen-chuyen-gia-imf-mo-xe-su-mat-gia-cua-vnd
    Trực tuyến: Chuyên gia IMF "mổ xẻ" sự mất giá của VND

    Tác giả: VEF
    Bài đã được xuất bản.: 15/11/2010 06:18 GMT+7


    (VEF) - "Chính phủ Việt Nam phải nỗ lực hơn nữa để hồi phục lại niềm tin của những người tiết kiệm tiền đồng", đại diện IMF bình luận trong cuộc bàn tròn "Điểm nghẽn nào cản trở kinh tế Việt Nam" hôm 12/11/2010.

    LTS: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2010, lựa chọn nào trong chính sách điều hành năm tới đã được đại diện WB, IMF và Viện Kinh tế Việt Nam mổ xẻ, phân tích trong cuộc bàn tròn với chủ đề "Điểm nghẽn nào cản trở kinh tế Việt Nam" hôm 12/11, do Diễn đàn Kinh tế Việt Nam - báo VietNamNet thực hiện.

    Dưới sự điều hành của Chính phủ, không thể không ghi nhận những thành công trong tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2010. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, cũng còn không ít hạn chế, điểm yếu trong điều hành, mà đây lại là những dấu hiệu tiềm ẩn bất ổn về kinh tế vĩ mô. Chẳng hạn, sức ép lạm phát vẫn là một ẩn số, diễn biến thị trường vàng, ngoại tệ, lãi suất... phức tạp.

    Một số điểm nghẽn khác cũng cản trở sự phát triển, đó là sự yếu kém của vài "con sâu" tập đoàn, tổng công ty nhà nước - vốn được ưu tiên phân bổ nhiều nguồn lực, là chi tiêu ngân sách quá tay, là nợ công ngấp nghé vượt ngưỡng an toàn, là hạ tầng cơ sở yếu kém, là chất lượng nhân lực chưa cao...

    Diễn đàn Kinh tế Việt Nam trân trọng giới thiệu với bạn đọc phần 1 cuộc bàn tròn trực tuyến này.
    [​IMG]

    Nhà báo Việt Lâm:
    Xin kính chào quý độc giả của diễn đàn kinh tế Việt Nam và độc giả của báo điện tử VietNamNet. Vậy là năm 2010 sắp kết thúc, nhìn một cách thẳng thắn, không thể không ghi nhận, dưới sự điều hành của chính phủ, kinh tế Việt Nam năm nay đã đạt được những thành công nhất định.
    Tuy nhiên, đó mới chỉ là một mặt sáng của bức tranh, còn phía kia chưa được nhắc đến một cách thấu đáo là những vấn đề còn tồn tại lâu nay, được gọi là những nút thắt tăng trưởng như cơ sở hạ tầng yếu kém, chi tiêu ngân sách quá tay, bất bình đẳng trong phân bổ nguồn lực hữu hạn của quốc gia.
    Cùng với đó, trong hai tuần qua chúng ta phải chứng kiến những diễn biến rất khó lường trên thị trường tiền tệ và áp lực lạm phát khiến cho mối quan ngại bất ổn vĩ mô của Việt Nam trở nên sâu sắc.
    Bàn tròn hôm nay với Giám đốc Ngân hàng thế giới tại Việt Nam bà Victoria Kwakwa, đại diện thường trú cao cấp của Quỹ tiền tệ quốc tế tại Việt Nam ông Benedict Bingham, tiến sỹ Trần Đình Thiên - Viện trưởng viện kinh tế Việt Nam hy vọng sẽ mổ xẻ những vấn đề trên, ngõ hầu đưa ra những chính sách khuyến nghị hiệu quả.
    Câu hỏi đầu tiên dành cho 3 vị khách mời: Nhận định chung nhất của 3 vị về nền kinh tế Việt Nam năm nay?

    Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Ngân hàng thế giới tại Việt Nam: Rất cảm ơn câu hỏi của quý vị, tôi rất vui được tham dự bàn tròn này. Đánh giá của tôi về tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam năm 2010 gồm 2 phần.
    [​IMG]

    Thứ nhất, về tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô, rõ ràng Việt Nam đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế thế giới một cách khá lạc quan với xuất khẩu tăng, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng, tốc độ tăng trưởng khả quan hơn so với năm trước, trong đó có nhiều ngành đã phục hồi tốt.

    Tôi tin rằng mục tiêu của chính phủ Việt Nam về tỉ lệ tăng trưởng năm nay khoảng 6,5% là hoàn toàn có thể đạt được.
    Tôi nghĩ thách thức với Việt Nam sẽ là việc ổn định kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn. Chính phủ Việt Nam từ cuối năm 2009 đã tập trung vào một số biện pháp nhằm mục tiêu ổn định vĩ mô trong đó có việc củng cố chính sách tài khóa và thắt chặt chính sách tiền tệ.

    Những chính sách này đã có tác dụng trong đầu năm nay đối với thị trường và nền kinh tế. Kết quả là mối lo lạm phát giảm và thị trường hối đoái ổn định. Nhưng mấy tháng gần đây, tôi nhận thấy có những thay đổi trong môi trường kinh tế với bất ổn như nguy cơ lạm phát, tỉ giá USD/ VND biến động.

    Tôi nghĩ rằng chính phủ Việt Nam đã nhận ra những dấu hiệu bất ổn đang gia tăng đối với nền kinh tế trong mấy tháng gần đây và có những hành động rất kịp thời để tái ổn định thị trường và lấy lại niềm tin.

    Tôi nghĩ các diễn biến của nền kinh tế cần được theo dõi sâu sát hơn và phải có những khuyến nghị chính sách cần thiết để duy trì sự ổn định bền vững. Tôi tin rằng ông Bingham đồng nghiệp của tôi sẽ đưa ra những nhận định rõ ràng hơn cho điểm này.

    Tỷ giá chỉ là triệu chứng của nợ công và lạm phát

    Ông Benedict Bingham, đại diện thường trú cao cấp của Quỹ tiền tệ quốc tế tại Việt Nam: Tôi cũng đồng tình với những nhận định mà bà Kwakwa vừa đưa ra. Tôi cho rằng có một vấn đề đang khiến nhiều người băn khoăn là việc tại sao đồng Việt Nam đang bị tụt giá, bất chấp mấy tháng nay nền kinh tế đã có rất nhiều dấu hiệu lạc quan như bà Kwakwa vừa nêu.
    [​IMG]

    Ví dụ việc tăng trưởng hoàn toàn có thể đạt được con số 6,5%, xuất khẩu phục hồi, nguồn FDI tăng. Vì thế, tôi nghĩ rằng, đối với người ngoài nhìn vào thì sự mất giá của đồng Việt Nam như vậy là một vấn đề rất đáng quan tâm.

    Nhất là khi các nước còn lại trong khu vực lại đối mặt với vấn đề hoàn toàn ngược lại. Nhìn trên bối cảnh toàn cầu, ta có thể thấy một xu hướng lưu thông của dòng vốn đó là từ những nước có nền kinh tế phát triển đang có dấu hiệu phục hồi chậm chạp chảy đến các nước đang có tốc độ tăng trưởng và nền kinh tế rất năng động trong khu vực Đông Á.

    Những dòng vốn này chảy nhanh và mạnh tới mức mà một số nước Châu Á thậm chí đã phải tìm những biện pháp để hạn chế, kiềm chế những dòng vốn chảy vào để tránh áp lực tăng giá cho nội tệ của họ.

    Vì vậy câu hỏi đặt ra là tại sao, Việt Nam - một trong những nền kinh tế có sự phát triển năng động nhất ở trong khu vực lại đối mặt với vấn đề hoàn toàn ngược lại với những nước khác, đó là đồng Việt Nam bị mất giá.

    Rõ ràng, vấn đề đặt ra không phải là do thiếu nguồn đôla Mỹ. Nhìn vào cán cân thanh toán của nửa đầu năm nay, chúng ta thấy rõ ràng thâm hụt thương mại rất lớn, nhưng đồng thời dòng vốn chảy vào như đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài, kiều hối còn lớn hơn.

    Tôi thấy, dòng đôla đang chảy vào Việt Nam hoàn toàn đủ đối với nền kinh tế, và đó không phải vấn đề gây ra sự tụt giá của đồng Việt Nam.

    Vì vậy, tôi nghĩ vấn đề ở chỗ người dân không muốn giữ tiền đồng ở thời điểm hiện nay. Tôi sẽ phân tích vấn đề này theo 2 mối quan ngại sau.

    Một là vấn đề bà Kwakwa cũng vừa đưa ra, đó là đầu năm nay, các chính sách tập trung vào việc ổn định nền kinh tế vĩ mô với mục đích nhằm giảm lạm phát và giảm áp lực lên tiền đồng. Với những chính sách như vậy được thực thi vào đầu năm nay, người dân có niềm tin rất lớn vào tiền đồng.

    Khoảng nửa sau của năm nay, các chính sách này có vẻ xa rời với mục tiêu ban đầu là ổn định kinh tế vĩ mô, chuyển dần sang tập trung vào tăng trưởng. Trong tình hình đó, người dân nhìn thấy lạm phát tăng trở lại trong khi chính phủ lại không có biện pháp kịp thời về mặt chính sách tiền tệ, họ bắt đầu lo lắng về những khoản tiết kiệm bằng tiền đồng của mình.

    Rất khó để khiến người dân vẫn giữ được lòng tin khi lạm phát ngày càng tăng trong khi chính phủ lại chỉ nói đến việc siết chặt lãi suất. Tôi thấy rằng, các nhà đầu tư ở Việt Nam là những người rất thông minh và linh hoạt. Khi họ nhìn thấy một sự mâu thuẫn trong chính sách tiền tệ, lạm phát tăng trong khi lãi suất giảm, họ chắc chắn không thể giữ lòng tin và sẽ nhanh chóng chuyển đầu tư, tiết kiệm của họ từ tiền đồng sang tiền đôla và vàng.

    Trong những tuần vừa rồi, chúng ta cũng thấy chính phủ bắt đầu có những biện pháp phản ứng đối với vấn đề này bằng cách tái định hướng chính sách tiền tệ trở lại với mục đích là giảm lạm phát, giải tỏa lo lắng cho nhà đầu tư và những người tiết kiệm.

    Vấn đề là một khi chúng ta đánh mất lòng tin thì việc lấy lại nó còn khó hơn rất nhiều. Năm ngoái chúng ta cũng đã gặp phải tình trạng này. Vì vậy, hiện tại, chính phủ phải nỗ lực hơn nữa để đưa ra những chính sách mạnh nhằm hồi phục lại niềm tin của những người tiết kiệm tiền đồng.

    Vì thế, về mặt chính sách tiền tệ, tôi nghĩ chính phủ Việt Nam sẽ phải làm việc rất nhiều trong những tuần tới để phục hồi sự ổn định trên thị trường ngoại hối.

    Theo tôi, chính sách tiền tệ không phải là vấn đề duy nhất đang khiến cho người dân và các nhà đầu tư Việt Nam lo lắng. Chúng ta cũng thấy một vấn đề đang nóng lên trên diễn đàn quốc hội trong mấy ngày nay chính là vấn đề nợ công.

    Người dân thấy nợ công năm ngoái khá lớn, năm nay nợ công lại tăng lên, họ lại thấy những vấn đề của các doanh nghiệp nhà nước lớn, và họ nghĩ nợ công sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực lên khoản tiết kiệm bằng tiền đồng của họ.

    Tôi nghĩ, một trong những chiến lược cần thiết hiện nay là, trong thời gian diễn ra họp Quốc hội, những người đại diện của nhân dân phải tìm cách để cho cử tri thấy chính phủ cũng đang rất quan tâm tới nợ công và tìm cách giải quyết vấn đề liên quan tới thâm hụt công.

    Điều đó có nghĩa, chính phủ phải đưa ra một thông điệp rõ ràng rằng thâm hụt công năm nay sẽ giảm, và các kế hoạch tài chính năm tới phải cho thấy nỗ lực giảm thâm hụt công.

    Người dân cũng muốn được đảm bảo một lần rằng những vấn đề do các doanh nghiệp và tập đoàn nhà nước lớn như Vinashin gây ra không làm ảnh hưởng xấu tới nợ công.

    Tôi cho rằng quốc hội và chính phủ đang chỉ ra và đang tập trung vào những vấn đề đúng. Tôi tin rằng, nếu chính phủ giải quyết được hai vấn đề cơ bản nhất là lạm phát và nợ công, vấn đề của thị trường hối đoái, vốn chỉ là một triệu chứng của hai vấn đề trên, sẽ sớm được giải quyết ổn thỏa.

    Vỡ ra những căn bệnh là cơ hội để thay đổi

    Ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam: Có lẽ phải nhìn nhận năm 2010 trong chuỗi của nhiều năm trước thì phán xét mới công bằng. Như thế, chúng ta sẽ mổ xẻ những nguyên nhân không chỉ ở những chính sách mà cả những điểm yếu cơ cấu bên trong.

    [​IMG]

    Tổng quát của năm nay, đứng về phía những con số, tôi thấy tình hình không đến nỗi nghiêm trọng. Tức là nhìn vào trạng thái tĩnh thì thấy không có vấn đề gì thậm chí còn thấy thành công. Nhưng nếu nhìn vào trạng thái động thì chúng ta thấy có nhiều vấn đề và như
    ông Bingham nói, có lẽ phải mổ xẻ ở trạng thái động, như thế phải nối với những vấn đề dài hạn.

    Trong năm nay, bên cạnh những thành tích, chúng ta thấy những căn bệnh kinh niên chưa xử lý được. Căn bệnh kinh niên ở đây là: thâm hụt ngân sách, thâm hụt thương mại, là xu hướng bất ổn như lạm phát.

    Cùng với những căn bệnh kinh niên ấy, chúng ta thấy tình hình ngắn hạn biến động rất bất thường, gây ra trạng thái mất lòng tin của người dân vào chính sách. Mổ xẻ như thế mới thấy hết được những vấn đề cần xử lý.

    Tôi cũng rất mong muốn được các vị khách quốc tế bình luận sâu thêm về những điểm yếu dài hạn. Phải làm rõ được điều đó thì mới chữa được những căn bệnh ngắn hạn. Đối với những căn bệnh ngắn hạn, tôi cho rằng nó có 2 vấn đề.

    Thứ nhất, thông điệp chính sách vẫn chưa nhất quán. Thứ hai, cách phối hợp giữa các chính sách chưa tốt cho nên nó vô hiệu hóa, triệt tiêu tác động lẫn nhau ví dụ như chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Đó là những vấn đề cần mổ xẻ. Năm 2010, 2011 là hai năm đặc biệt. Năm 2010 là năm kết thúc 10 năm chiến lược và 2011 là năm mở đầu cho một lựa chọn chiến lược mới. Những gợi ý này sẽ giúp chúng ta rất nhiều về cách nhìn trong một giai đoạn chiến lược mới.

    Thứ hai, tôi muốn bổ sung thêm ý kiến của ông Bingham, năm nay, nhìn một cách lạc quan là năm làm vỡ ra rất nhiều vấn đề, không chỉ là những con số tích cực. Tôi lấy ví dụ như Vinashin, vụ việc vỡ ra cũng cho chúng ta thấy cần phải làm như thế nào. Hoặc câu chuyện bôxít hay câu chuyện đường cao tốc, đầu tư công ... tất cả những chuyện ấy cho chúng ta thấy nhiều vấn đề vỡ ra cần phải giải quyết.
    Như thế, lạc quan ở chỗ, khủng hoảng có tác dụng tốt, nó cho chúng ta thấy những điểm yếu, cách giải quyết những vấn đề đó. Vì vậy, lạc quan không phải nhìn từ các con số tăng trưởng vượt mục tiêu hay lạm phát là kiềm chế được theo đúng ý đồ ... mà chính là phát hiện ra những điểm yếu để thay đổi. Điều đó rất cần cho chiến lược tới.

    Mời bạn đọc đón xem phần 2 của bàn tròn: Tăng trưởng vô nghĩa nếu thiếu chất lượng


    http://vef.vn/2010-11-16-giam-doc-wb-cat-nghia-con-say-tang-truong-cua-vn

    Giám đốc WB cắt nghĩa "cơn say" tăng trưởng của VN

    (VEF) - "Việt Nam quá tập trung vào con số tăng trưởng, không phải do áp lực từ phía chúng tôi mà do truyền thống từ lịch sử nền kinh tế tập trung của Việt Nam", Giám đốc WB tại Việt Nam nhận định trong bàn tròn "Điểm nghẽn nào cản trở kinh tế Việt Nam" hôm 12/11.

    LTS: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2010, lựa chọn nào trong chính sách điều hành năm tới đã được đại diện WB, IMF và Viện Kinh tế Việt Nam mổ xẻ, phân tích trong cuộc bàn tròn với chủ đề "Điểm nghẽn nào cản trở kinh tế Việt Nam" hôm 12/11, do Diễn đàn Kinh tế Việt Nam - báo VietNamNet thực hiện.

    Trong phần 1 đã được đăng tải hôm 15/11, ông Benedict Bingham, đại diện thường trú cao cấp của Quỹ tiền tệ quốc tế tại Việt Nam, đã "mổ xẻ" nguyên nhân dẫn tới sự mất giá của tiền đồng. Theo ông, Chính phủ phải nỗ lực hơn nữa để đưa ra những chính sách mạnh nhằm hồi phục lại niềm tin của những người tiết kiệm tiền đồng.

    Diễn đàn Kinh tế Việt Nam trân trọng giới thiệu tiếp tới bạn đọc phần 2 với nội dung chính xoay quanh câu chuyện tăng trưởng của Việt Nam.

    [​IMG]

    Nhà báo Việt Lâm:
    Như ông Trần Đình Thiên nói, khủng hoảng là một cơ hội nhìn rõ những căn bệnh để có thể tìm ra giải pháp để sửa chữa. Nhưng rõ ràng chúng ta thấy, năm 2008 có một cuộc khủng hoảng lớn như vậy trên thế giới và hầu hết các nước đã tận dụng rất tốt khủng hoảng để tái cấu trúc kinh tế và sửa chữa những điểm yếu căn bản của nền kinh tế.
    Vậy tại sao chúng ta cũng đề cập đến nhu cầu phải tái cấu trúc nền kinh tế từ cuộc khủng hoảng 2008 đó nhưng đến bây giờ 2010 chúng ta lại phải nói về câu chuyện này?

    Ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam: Chúng ta phải nhìn như thế này, có một điều rất lạ là khi chúng ta gia nhập WTO, cơ hội rất nhiều, đầu tư tăng lên, kể cả đầu tư nước ngoài lẫn đầu tư trong nước, thương mại mở ra rất lớn nhưng tăng trưởng kinh tế lại giảm xuống và bất ổn lại tăng lên.

    Tình hình đó có ý nghĩa rất lớn, đó là thời cơ nhiều nhưng không chuẩn bị được tốt thì không thế hấp thu được thời cơ ấy. Thậm chí thời cơ ấy có thể biến thành nguy cơ trong phát triển.

    Bài học ba năm qua cho thấy rằng, đáng nhẽ phải tập trung chuẩn bị năng lực khắc phục những điểm yếu để có thể cất cánh một cách đàng hoàng thì chúng ta lại chưa làm được việc ấy.

    Mấy năm vừa rồi gợi cho chúng ta một điều là phải thay đổi những điều rất cơ bản. Điều này được đại hội Đảng đặt ra rất mạnh, tức là thay đổi hẳn mô hình tăng trưởng, đây là điều chúng ta nên ghi nhận.

    Như vậy, chúng ta phải cần nhiều năng lực, cần nhiều thời gian mới giải quyết được vấn đề dài hạn. Nhưng mặt khác, chúng ta thấy nền kinh tế mấy năm nay lại vướng vào câu chuyện ngắn hạn, lúc nào cũng như chuẩn bị rơi vào vòng xoáy.

    Tập trung nỗ lực trong việc giải quyết các vấn đề ngắn hạn để thoát ra thì năng lực, điều kiện để giải quyết những vấn đề dài hạn sẽ bị hạn chế.

    Điều đó, giải thích tại sao chúng ta nhìn thấy căn bệnh rồi nhưng chữa nó lại chưa được. Đến năm nay, câu chuyện đó lại được đặt ra và đặt ra một cách quyết liệt hơn. Tôi nghĩ rằng, với tình hình như năm nay, cùng với sự kiện đại hội Đảng sắp diễn ra có thể có những đổi mới có tính triệt để cao.

    Hiện nay, ta đang gặp một tình huống có lẽ là đúng như ông Bingham nói, chúng ta đang rơi vào một cái gọi là vấn đề ngắn hạn rất gay gắt. Cái bất ổn như tỷ giá, lãi suất, lạm phát đang buộc phải nỗ lực giải quyết. Chúng ta phải thoát ra khỏi điều này nhưng đồng thời phải nghĩ đến vấn đề dài hạn, nếu không nền kinh tế sẽ loanh quanh mãi.

    Đây là những điểm cốt tử mà tôi cho rằng phải có những thay đổi mạnh, nhằm giải quyết vấn đề một cách triệt để.

    Hai bài học cho Chính phủ Việt Nam
    [​IMG]

    Nhà báo Việt Lâm:
    Theo ông Bingham, những chính sách mới đây của Ngân hàng nhà nước Việt Nam có đủ mạnh hay không để giải quyết những vấn đề ngắn hạn?

    Ông Bernedict Bingham, Đại diện thường trú cao cấp của IMF tại Việt Nam: Tôi nghĩ những phản ứng chính sách vừa rồi của chính phủ Việt Nam là những bước đi tốt theo hướng đúng đắn, nhưng như tôi đã đề cập trước đó, một khi ta đánh mất lòng tin thì việc lấy lại lòng tin còn khó gấp nhiều lần.

    Vì thế, trong những tuần tới đây, tôi hy vọng có thể nhìn thấy những nỗ lực lớn hơn về mặt chính sách để bình ổn lại thị trường hối đoái cũng như giảm lạm phát.

    Theo tôi, những năm gần đây là một quá trình học hỏi hết sức hữu ích đối với chính phủ.

    Việc gia nhập WTO giống như việc được ngồi vào 1 chiếc Ferrari để lái vậy. Sẽ thật tuyệt vời bởi chiếc xe phóng rất nhanh nhưng cho tới khi chúng ta học được cách lái, sẽ có những hoảng sợ nhất định với một chiếc xe nhanh như vậy.

    Về khía cạnh kinh tế vĩ mô, tôi nghĩ mấy năm vừa qua đã giúp cho chính phủ Việt Nam có được ít nhất là 2 bài học quan trọng:

    Thứ nhất là trong bối cảnh kinh tế mới như hiện nay, chúng ta không thể "nhập nhằng" với vấn đề lạm phát. Những cam kết về vấn đề lạm phát không thể thay đổi liên tục, nay thế nay mai thế khác được.

    Khi các nhà đầu tư và nguời dân đã nghi ngờ những cam kết đối với lạm phát của chính phủ, giữ được niềm tin của họ vào đồng nội tệ là rất khó.

    Bài học thứ hai đó là sau gia nhập WTO đã mang lại cho Việt Nam cơ hội có được một dòng vốn đổ vào cực kỳ lớn, vì thế cần có một kỷ luật chặt chẽ đối với các dự án đầu tư công.

    Một khi người dân đã mất niềm tin vào kỷ luật trong đầu tư nhà nước, khả năng họ sẵn sàng bỏ đồng vốn của họ vào nền kinh tế sẽ suy giảm.

    Khi tôi đến đây vào năm 2007, tôi thấy quá là nhiều tiền đổ vào Việt Nam cho đủ mọi loại mục đích khác nhau. Tiền để xây dự án bất động sản, resort, sân golf, chẳng quan trọng là tiền đã được dùng vào việc gì nữa. Sự đầu tư vung tay quá trán này thể hiện rõ nhất ở khu vực nhà nước.

    Lơi lỏng kỷ luật ngân sách với đầu tư công dẫn tới một loạt các vấn đề chúng ta đang nhìn thấy hiện nay, thâm hụt thương mại lớn, yếu kém trong hệ thống ngân hàng, và yếu kém của bản thân cả khu vực nhà nước nữa...

    Tôi đồng tình với ông Thiên là nếu chúng ta không kiểm soát được các vấn đề quản lý kinh tế vĩ mô cơ bản, thì không thể tập trung vào bất kỳ vấn đề nào khác. Người dân không quan tâm tới những kế hoạch 5-10 năm tới nếu như trong 2,3 tháng trước mắt, tình hình kinh tế tồi tệ.

    Tôi đồng ý với ông Thiên rằng tín hiệu lạc quan đối với nền kinh tế không chỉ là con số tăng trưởng 6 hay 7% như năm nay. Điểm đáng khích lệ là một số vấn đề kinh tế vĩ mô cơ bản đã được bàn luận công khai và sôi nổi ở những diễn đàn như Quốc hội, Chính phủ và các Diễn đàn khác của nhân dân. Qua quá trình tranh luận và khám phá này, chúng ta sẽ bước vào một giai đoạn mới, mạnh mẽ hơn năm 2007.

    Không phải do áp lực từ WB
    [​IMG]

    Nhà báo Việt Lâm
    : Tôi cho rằng khi nào chúng ta chưa tìm ra được câu trả lời rõ ràng là điều gì quan trọng hơn với nền kinh tế Việt Nam, chỉ tiêu tăng trưởng hay là chất lượng tăng trưởng, rất khó để thoát ra được tình trạng hiện nay.
    Vì thế, độc giả Lan Anh có một câu hỏi với Giám đốc World Bank tại Việt Nam: Thưa bà Victoria, phải chăng các nhà tài trợ có thói quen nhìn nhận thành công của nền kinh tế nhận tài trợ dựa vào tốc độ tăng trưởng GDP, dẫn tới người ta quan tâm đến chỉ số GDP bằng mọi giá, từ đó tạo ra nhiều hệ lũy khác liên quan đến ổn định vĩ mô và chất lượng tăng trưởng?

    Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc World Bank Việt Nam: Cảm ơn bạn đã hỏi, nếu xét trên bình diện thế giới thì rõ ràng tăng trưởng kinh tế cao có tác dụng trong giảm nghèo. Nhiều nước trên thế giới là ví dụ cho thấy việc giảm nghèo thành công đi đôi với việc tăng trưởng kinh tế cao và bền vững.

    Nhưng vấn đề đặt ra là không phải kiểu tăng trưởng nào cũng sẽ đem tới điều chúng ta mong muốn, vì vậy, tốc độ tăng trưởng quan trọng thì chất lượng tăng trưởng cũng quan trọng chẳng kém.

    Chất lượng tăng trưởng thể hiện ở nhiều mặt, thể hiện ở việc chúng ta phân bố hiệu quả các nguồn lực như vốn, lao động và các nguồn lực khác để đạt được tăng trưởng.

    Chất lượng tăng trưởng cũng thể hiện ở mức độ ổn định của tăng trưởng, còn thể hiện ở mức độ lan tỏa rộng của nó, nghĩa là số đông dân số phải được hưởng lợi từ sự tăng trưởng đó.

    Khi chúng ta nói về hiệu quả của sự tăng trưởng, nghĩa là hiệu quả của việc sẽ sử dụng các nguồn lực như thế nào để đạt được tăng trưởng, chúng ta quay trở lại với một vấn đề cơ bản đã bàn trước đó.

    Trong trường hợp Việt Nam, chúng ta thấy đầu tư xã hội khá cao, đầu tư chiếm tới 40% GDP. Điều đó có nghĩa là số tiền đầu tư bỏ ra để đạt được một đơn vị tăng trưởng không hề nhỏ. Vấn đề là Việt Nam đã đầu tư một cách chưa hiệu quả, nói cách khác có thể đầu tư vào những khu vực khác để đạt được hiệu quả cao hơn.

    Quyết định đầu tư là một quá trình đồng bộ, lựa chọn dự án đầu tư nào, liệu sẽ đầu tư vào đường sắt cao tốc hay vào những chương trình khác, chuẩn bị dự án đầu tư như thế nào, phân tích vấn đề kỹ thuật và kinh tế ra sao, và cả vấn đề thực thi nữa. Tất cả quá trình đồng bộ đó mới quyết định khả năng chúng ta có đầu tư hiệu quả hay không.

    Liên quan tới vấn đề này là tính hiệu quả của khu vực nhà nước, vì Việt Nam đã chọn mô hình tăng trưởng lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo và nhà nước hiện tại chiếm rất nhiều nguồn lực quan trọng của nền kinh tế. Nhiều bằng chứng cho thấy các nguồn lực trên đang không được nhà nước sử dụng một cách hiệu quả nhất, vì thế cải cách khu vực công để tăng hiệu quả tăng trưởng là một phần thách thức trong quá trình tiến tới tăng trưởng bền vững và hiệu quả.

    Nếu nguồn lực đầu tư vào khu vực nhà nước không hiệu quả, Việt Nam không cần sử dụng nguồn lực lớn như vậy vào khu vực ấy nữa để đạt được mục tiêu tăng trưởng, nhằm giảm áp lực đối với các mục tiêu kinh tế vĩ mô.

    Khía cạnh thứ hai trong tính bền vững của sự phát triển đó là vấn đề môi trường. Nếu chúng ta phát triển theo cách phá hoại môi trường, mang đến những nguy cơ và ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn lực và sức khoẻ của người dân, tăng trưởng của chúng ta sẽ không nhanh và bền vững trong dài hạn.

    Khía cạnh cuối cùng trong tăng trưởng bền vững là, phần lớn người Việt Nam phải được hưởng lợi từ sự tăng trưởng này một cách thực chất. Đây là điểm rất quan trọng.

    Khi nói sự tham gia của nhân dân vào tăng trưởng tôi muốn nói hai điều. Thứ nhất là khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, đây là khu vực tạo ra đa số việc làm cho người Việt. Liệu những doanh nghiệp có kỹ năng này đã có đủ điều kiện để phát triển kinh doanh, tiếp tục tuyển thêm lao động và trả mức lương đủ sống cho đại đa số người Việt.

    Một điểm quan trọng khác là những hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nơi đa số người Việt đang dựa vào để sinh sống. Nếu như nhìn qua có thể thấy Việt Nam đang rất thành công trong phát triển nông nghiệp. Các bạn là nhà xuất khẩu gạo, cà phê, chè, thủy hải sản hàng đầu thế giới...

    Điều đó có nghĩa là khu vực nông nghiệp đang đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế, nhưng thực tế nông dân vẫn đang nghèo khổ, rõ ràng họ chưa hưởng lợi nhiều từ sự tăng trưởng mà họ đã đóng phần lớn vào.

    Như thế có nghĩa là Việt Nam phải có những chính sách giúp nông nghiệp mang lại lợi nhuận nhiều hơn, giúp nông dân tham gia vào những hoạt động cao hơn trong chuỗi giá trị. Khi họ tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn cho sản phẩm, khả năng cạnh tranh và hiệu suất cũng sẽ cao hơn.

    Quay trở lại với câu hỏi của độc giả đã đặt ra, tôi cho rằng, tốc độ tăng trưởng rất quan trọng nhưng chất lượng và độ bền vững của tăng trưởng còn quan trọng hơn.

    Theo tôi, Việt Nam quá tập trung vào con số tăng trưởng, không phải do áp lực từ phía chúng tôi mà do truyền thống từ lịch sử nền kinh tế tập trung của Việt Nam, một nền kinh tế quá tập trung vào kế hoạch, vào mục tiêu, vào thành tích. Đó là cách tiếp cận của nền kinh tế tập trung.

    Vì thế, chúng tôi muốn trong kế hoạch kinh tế 5, 10 năm tới của Việt Nam, các bạn hãy thay đổi ưu tiên, từ ưu tiên tập trung vào các con số, chỉ tiêu sang ưu tiên vào chất lượng và hiệu quả của sự phát triển.

    Tôi thật sự hi vọng rằng sẽ có nhiều thảo luận hơn nữa về vấn đề này trong một vài tháng tới ở các cấp chính trị của Việt Nam
    Trong 5 năm tới, tôi mong chất lượng tăng trưởng cần được tập trung hơn, không chỉ trong vấn đề kinh tế mà cả trong y tế, văn hóa, giáo dục.... Trong các lĩnh vực này, con số đã đạt được những thành tựu khả quan nhưng chất lượng rõ ràng là một điều cần phải bàn.

    Mời bạn đọc tiếp tục theo dõi phần cuối cùng của bàn tròn vào ngày mai (17/11).
  2. LHF2D

    LHF2D Thành viên rất tích cực

    Joined:
    May 17, 2010
    Likes Received:
    0
    Đọc xong hai bài ở trên thì tôi thấy đường hầm trước mặt còn tăm tồi lắm các bác nghiện chứng nên tìm bến bờ mới.

    Bản thân tôi còn ít xiền đã mua vàng và đứng ngoài mấy tuần nay, ko thèm coi bảng điện nữa.

    Với tình hình này thì các bác đừng hô tiền nhà đầu tư NN đổ vào chứng trường Vit ngan nữa nhé.

    Ai mơ sóng thì ra Biển Đông ngắm sóng đê.
  3. LHF2D

    LHF2D Thành viên rất tích cực

    Joined:
    May 17, 2010
    Likes Received:
    0
    Đọc xong mấy cái bài này thì các bác lãnh đạo các doanh nghiệp tầm cỡ nghĩ sao nhỉ?

    Các bác đầu tư sân golf, bất động sản chung cư cao cấp, văn phòng cao cấp cho thuê hay bán cho ai đây?

    Mấy cty NN vào tham dự Banking Vietnam 2010 HCMC

    http://www.bankingvn.com.vn/hcm2010/index.php?lang=utf-8

    do IDG tổ chức toàn góp xiền thuê chung gian hàng vì ngân sách marketing ko có, và cũng thực sự ko có tin tưởng nhiều vào chi tiêu của các ngân hàng trong lĩnh vực đầu tư công nghệ cạnh tranh, ko hiểu mình nói thế có sai ko nhỉ?

    Bác nào làm ngân hàng phát biểu ý kiến nhé cho bà con mở mang tư duy chút.
  4. nhimcon2010

    nhimcon2010 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Jun 4, 2010
    Likes Received:
    2,671
    Vấn đề ko có gì lớn : Cải tổ bộ máy Đ H nền KT >>> Lấy lại Niềm Tin![};-[};-[};-
  5. LHF2D

    LHF2D Thành viên rất tích cực

    Joined:
    May 17, 2010
    Likes Received:
    0
    http://vef.vn/2010-11-15-muon-vuc-day-vnd-can-minh-bach-chinh-sach


    Muốn vực dậy VND, cần minh bạch chính sách

    Tác giả: Cảnh Thái
    Bài đã được xuất bản.: 15/11/2010 07:29 GMT+7


    (VEF) - Để tạo được lòng tin vào đồng tiền nội địa, vốn đã chịu nhiều áp lực mất giá trước giờ, các nhà điều hành kinh tế cần có một thông điệp rõ ràng và nhất quán về chính sách tỷ giá, lãi suất...

    Tuần qua, giá vàng trong nước đã có lúc tăng lên mức đỉnh, hơn 38 triệu đồng/lượng. Giá vàng thế giới cũng đã tăng 28 - 30% so với đầu năm. Giá USD tiếp tục suy yếu, do việc Mỹ công bố gói kích thích kinh tế lần 2 trị giá hơn 600 tỷ USD.
    Giá vàng và USD luôn là các biến số có lúc song hành, nhưng cũng nhiều lúc nghịch hành, tương tác lẫn nhau. Trên bình diện thế giới, khi USD bị làm yếu như hiện nay, vàng là nơi trú ẩn của các nhà đầu tư (kể cả các nhà đầu cơ kiếm lời ngắn hạn), do đó giá vàng đang tăng.

    Thịnh suy của vàng


    Sau Thế chiến 2, Mỹ, một trong những quốc gia có công trong chiến thắng chủ nghĩa Phát xít, được hưởng lợi nhiều từ sự suy yếu của các quốc gia khác, và đồng USD từ đó chính thức khẳng định sức mạnh thống trị trong giao dịch thương mại quốc tế, với hơn 80% thanh toán quốc tế đang sử dụng đồng tiền này.
    [​IMG]


    Vàng với vị thế kim bản vị dần mất đi vai trò trong giao dịch thương mại, tuy nhiên, cùng với các quý kim khác như bạc, bạch kim, đồng... Vàng luôn có một vị thế cao trong vai trò giao dịch thương mại cũng như trang sức tiêu dùng. Nhu cầu mua sắm vàng rất đa dạng từ tiết kiệm, để dành, cho tới thanh toán mua bán bất động sản, làm nữ trang cưới hỏi...


    Trước năm 1975, có lúc 1 lượng vàng chỉ mua được 1 chiếc xe đồ chơi trẻ con. Năm 1998 - 1999, giá một chiếc xe Dream khoảng 6 - 7 lượng vàng. Hiện nay, vàng còn có giá hơn nhiều so với hàng hóa, một chiếc xe máy thông thường hiện nay giá khoảng 1 lượng vàng thôi. Có lẽ, so với đồng Việt Nam (VND), vàng luôn có giá.


    Hiện giá vàng được nhận định sẽ tiếp tục tăng giá trên thế giới. Một số người còn kêu gọi lập lại hệ thống bản vị vàng. Còn ở Việt Nam, giá VND yếu thậm chí so với USD sau khi đã bị làm yếu, nên dĩ nhiên sẽ yếu nhiều hơn so với vàng!

    Đi tìm lời giải cho sự mất giá của VND


    Có một vài cách giải thích về việc VND mất giá: VND được/bị chủ trương làm yếu để hổ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập siêu; VND được/bị phát hành thêm nhiều hơn hệ thống bản vị vàng hay USD bản vị và hàng hóa trên thị trường gây nên lạm phát cao trong nước.


    Đồng VND chưa được giao dịch quốc tế rộng rãi tạo điều kiện cho USD và Vàng là sự lựa chọn tất yếu trong giao dịch trong và ngoài nước; Các chính sách pháp luật chưa thực sự nâng đỡ và bảo vệ giá trị VND khiến uy tín VND mất dần vai trò trong các giao dịch thương mại.


    Các yếu tố đầu cơ tiền tệ trong và ngoài nước cũng như mất cân đối tiền - hàng do cung - cầu trong và giữa các nền kinh tế; Tâm lý và niềm tin của người dân vào đồng VND phụ thuộc vào chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của nhà nước và các thành quả điều hành trong quá khứ.


    Khi VND bị suy yếu có tính chủ quan hay khách quan thì đều làm giảm giá tài sản của người dân, những ai lựa chọn VND làm hệ quy chiếu để cất giữ tài sản, những ai mua bán, thanh toán giao dịch hàng hóa sử dụng tiền VND, gửi tiết kiệm bằng VND, cất giữ tiền VND ..v.v.. đều gặp rủi ro khi VND mất giá so với USD và vàng và lạm phát cao.


    Các yếu tố tác động đến tâm lý và niềm tin của người dân vào đồng tiền nội địa phụ thuộc nhiều vào các yếu tố suy luận, phân tích, tư vấn, tâm lý đám đông hoặc sự lo sợ giá vàng sẽ tăng tiếp, kinh nghiệm quá khứ... cũng như các quan sát, nghe ngóng về chủ trương chính sách về điều hành kinh tế vĩ mô của nhà nước, đặc biệt là các động thái về chính sách tiền tệ, tài khóa trong đó có lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái, và các văn bản pháp luật liên quan.


    Thị trường vàng hôm 9/11 vừa qua đã lặp lại đúng hiện tượng tăng giá đột biến từ hơn 26 triệu đồng/lượng lên mức 29 triệu đồng/lượng hồi tháng 11 năm trước, gây quan ngại liệu có yếu tố đầu cơ trục lợi hay sai lầm nào trong việc ban hành các chính sách chưa theo kịp diễn biến tình hình kinh tế trong và ngoài nước?

    Cần minh bạch hóa

    Dư luận đặt vấn đề tại sao lại có quota nhập vàng hạn chế? Quota dành cho ai? Sao không mở cửa cho nhiều doanh nghiệp được phép xuất nhập khẩu vàng? Nếu muốn giá vàng Việt Nam liên thông với giá vàng thế giới theo qui luật cung - cầu của thị trường, thị trường sẽ tự điều tiết khi có biến động phát sinh, thì tại sao không mở cửa thị trường vàng?

    [​IMG]


    Tại sao phải chờ đến khi có biến động mới cho phép doanh nghiệp nhập vàng? Ngân hàng Nhà nước (NHNN) liệu có đang làm thay công việc lập kế hoạch xuất nhập khẩu vàng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng? Ai có đủ bản lĩnh để lập kế hoạch cho nhu cầu mua sắm vàng cho cả đất nước hơn 86 triệu dân?

    Làm sao biết được có bao nhiêu cô dâu, chú rể đang chuẩn bị đám cưới cần mua bao nhiêu vàng trang sức làm quà tặng? Làm sao tính thay được nhu cầu mua bán nhà đất, cất giữ tiết kiệm hay cho tặng .v.v thanh toán bằng vàng của mỗi người dân!?

    Không thể khuyên bảo ai đó nên đặt niềm tin, phó thác tài sản cá nhân của mình dưới dạng VND hay gửi tiết kiệm khi mà VND đang mất giá dần. Chỉ có thực tiễn khách quan mới trả lời được việc cất giữ tài sản bằng VND, USD, bất động sản hay vàng... sẽ có lợi hơn!

    Theo quy luật chung, cái gì cần sẽ có cung, cái gì lên nhanh có khi xuống cũng nhanh. Vàng và USD tăng giá trong nước rồi sẽ kéo theo các giá hàng hóa thiết yếu gia tăng, gây khó khăn cho đời sống kinh tế xã hội của mọi người dân.

    Nên chăng để tạo được lòng tin vào đồng tiền nội địa, vốn đã chịu nhiều áp lực mất giá trước giờ, các nhà điều hành kinh tế cần có một thông điệp rõ ràng, giải đáp minh bạch và nhất quán về quota nhập khẩu vàng, chính sách tỷ giá USD, lãi suất ngân hàng, các gói cứu trợ hay giải pháp phát hành trái phiếu chính phủ, mua hay nhận nợ trong và ngoài nước..v.v.

    Trả lời được câu hỏi tại sao và như thế nào đối với chính sách tiền tệ và tài khóa chính là thông điệp bảo vệ giá trị đồng tiền nội địa VND, bảo vệ các nhà đầu tư kinh doanh trong và ngoài nước.

    Các thông điệp phải được phát đi mạnh mẽ cùng với các giải pháp hiệu quả thực sự mới lấy lại niềm tin của mọi người về một đồng VND mạnh, kích thích mọi nhà đầu tư bỏ tiền vào sản xuất kinh doanh thu lợi về một đồng VND có tiềm năng, có thể chuyển đổi tự do trong và ngoài nước trong một tương lai không xa nào đó.

    Khi niềm tin biến thành sự sợ hãi thì chỉ có cách khôi phục lại niềm tin thì mới xóa đi được sự sợ hãi của các nhà đầu tư và người dân trên thương trường.

    Hiển thị 4 bình luận



    • Bài viết này+ bài bình luận của chuyên gia IMF thật hay và sâu sắc, tiếc rằng chỉ là những bài viết sau khi sự thể đã rồi. Bài viết chỉ làm cho những người có số vốn ít ỏi như tôi không thể đủ tiền để mua vàng hay USD càng cảm thấy lo lắng, tôi vừa nhận tiền lương bằng VND, tiêu tiền bằng VND cảm thấy mình thật đáng thương. Giá mà tôi có nhiều tiền tôi sẽ mua USD.


    • Khong can chuyen gia cua IMF noi , ma bat cu nha dau tu chung khoang va tai chanh nao cung vay . Ke thu cua ho la > Thieu minh bach . khong ro rang va khong trong sang . Khi niem tin khong co , nha dau tu se dat nhung cau hoi rat lon .


    • bài viết quá hay, những nhà điều hành kinh tế việt nam xem xong bài này chắc chạy mất dép và lo sợ bị điều tra chuyên môn yếu kếm của mình


    • Bao giờ tìm lại được niềm tin?
  6. LHF2D

    LHF2D Thành viên rất tích cực

    Joined:
    May 17, 2010
    Likes Received:
    0
    Có nhiều con đường di tới thành Rome, ta cứ túc tắc đường ta ta đi, bác thấy sao?:-*:-*:-*
  7. MrLOLO

    MrLOLO Thành viên mới

    Joined:
    Sep 19, 2003
    Likes Received:
    0
    chuyện thường ngày, bây giờ nói lại cho có hệ thống :)
  8. LHF2D

    LHF2D Thành viên rất tích cực

    Joined:
    May 17, 2010
    Likes Received:
    0
    http://vef.vn/2010-11-16-cu-loay-hoay-vang-dola-dat-nuoc-se-di-xuong-ruong-

    Tranh luận Online

    Bà con chơi chứng chuẩn bị về quê cấy ruộng [:D][:D][:D] Bác Thành bảo thế:((:((:((

    "Cứ loay hoay vàng, đôla, đất nước sẽ đi xuống… ruộng"

    Tác giả: Phạm Huyền (thực hiện)

    (VEF) - Nhìn nhận câu chuyện tỷ giá và vàng hiện nay, tiến sĩ Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho rằng, đáng sợ nhất là làm chính sách mà không dám giải trình với thị trường, không dám chịu trách nhiệm.
    Không thể chạy theo cơn thịnh nộ của vàng


    PV: Ông có quan niệm như thế nào về việc ứng phó với thị trường vàng lại nhảy múa điên đảo hiện nay?

    TS Võ Trí Thành: Trong những cơn bùng nổ thịnh nộ của vàng thế giới, Việt Nam vốn là nền kinh tế có năng lực còn hạn chế, dự trữ ngoại hối mỏng mà lại định chạy theo giá vàng là điều không tưởng, thậm chí là sai lầm.

    Giá vàng Việt Nam cơ bản là theo giá vàng thế giới và đó là thứ không thể điều khiển được, lực chúng ta yếu mà chúng ta chạy theo nó, thì không thể địch lại được.



    Chúng ta phải nói rõ cho người dân rằng, vàng là loại hàng hóa đặc biệt, chấp nhận cho lưu chuyển tự do, chấp nhận theo kinh tế thị trường thì đằng sau câu chuyện giá vàng nhảy múa điên đảo ấy, sẽ không chỉ do giá vàng thế giới điều khiển mà còn do thế lực đầu cơ điều chỉnh.


    Với một thị trường có đặc thù như vậy, anh là nhà đầu tư, là người chơi vàng, thì chịu trách nhiệm về kết của cuộc chơi phải chính là anh, đừng nghĩ Nhà nước đứng ra bảo hiểm cho anh khi anh bị rủi ro, thua lỗ vàng. Không có chuyện người dân nào chơi vàng mà lúc nào cũng thắng. Đến như, người nông dân một nắng hai sương, trồng cây còn có lúc thua lỗ. Đó là luật chơi thị trường.

    [​IMG]
    Tiến sĩ Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (ảnh: Phạm Huyền)



    Cái mà Nhà nước có thể "can thiệp", giúp cho người dân là khi giá vàng thế giới nhảy nhót như thế, Nhà nước phải "chế ngự" được cơn nhảy múa ấy bằng việc hạn chế những bất ổn kinh tế vĩ mô. Bởi khi kinh tế vĩ mô ổn định, nguồn lực sẽ được phân bổ tốt hơn. Đồng tiền đó đi vào sản xuất, kinh doanh, tạo ra giá trị gia tăng, sẽ tốt hơn.

    Còn trong bối cảnh bất ổn về kinh tế vĩ mô, rất dễ hiểu là người dân chỉ lo giữ giá trị tài sản, hoặc đầu cơ thôi. Mặc dù, đầu cơ không phải là xấu, nhưng nếu một nền kinh tế còn nghèo như Việt Nam, còn cần tiết kiệm mà suốt ngày loay hoay với câu chuyện đôla, vàng, bất động sản thì đất nước ấy về dài hạn là sẽ xuống... ruộng.


    - Thưa ông, thông điệp của Chính phủ đã rõ, như giữ nguyên tỷ giá, bơm USD và cho nhập khẩu vàng. Ông có bình luận gì về động thái này?


    Tôi gọi đó là giải pháp tình huống thôi. Cách mà Nhà nước cho nhập khẩu vàng chính là giảm độ chênh lệch so với giá thế giới chứ không phải là biện pháp làm thay đổi giá vàng.


    Sự đi xuống của giá vàng sau khi có quyết định cấp quota nhập khẩu vàng chẳng hạn, là xuống trong khoảng chênh lệch với giá thế giới, chứ không phải xuống trong tổng thể xu hướng giá vàng thế giới. Bởi, giá vàng của ta vẫn do giá vàng thế giới quyết định.


    Nhưng vì bị cuốn theo giá vàng, cộng với áp lực cơ bản về lạm phát, thâm hụt thương mại,.. nên chúng ta phải chứng kiến xu hướng đồng Việt Nam mất giá nhiều.


    Việc Chính phủ tung tiền ra là nhằm bình ổn phần nào tỷ giá VND trên thị trường chính thức, qua đó, giảm bớt áp lực mất giá đồng tiền Việt Nam nhưng sẽ gây ra vòng xoáy sắp tới là lạm phát tăng.


    Đồng thời, với việc dự trữ ngoại tệ của ta mỏng, thì việc bơm tiền ấy là có thời hạn nhất định thôi, chứ Nhà nước không bơm tiền ra cho nền kinh tế mãi được.
    Cách ứng xử giỏi là ta ổn định với chính nền kinh tế của mình, hạn chế tác động của cơn nhảy múa giá vàng thế giới chứ đừng bị cuốn theo nó. Vì thị trường mạnh lắm.

    Lạm phát năm 2010 có thể là 9%



    - Có người đem VND so sánh với vàng để kêu là tiền mất giá nhiều quá. Ông nghĩ sao?


    Tôi thì không thích so giá đồng tiền của Việt Nam với vàng, mà tôi nhìn vào mức lạm phát của Việt Nam, so sức mua của tiền Việt Nam với đồng tiền nước khác. Nếu nói so với giá vàng như vậy, thì tất cả đồng tiền trên thế giới đều mất giá so với vàng hết.


    Quan trọng là chúng ta so sánh sự "mất giá" đồng tiền với thời điểm nào, với những năm 80, 90 thì sẽ là ý nghĩa khác. Như vậy, ta hiểu mất giá đồng tiền ấy là hiểu trong sự ngắn hạn thôi. Nếu ta hiểu không đúng, mà lấy chính sách chạy theo điều không đúng đó thì thật không phải, tức lấy giá trị đồng tiền Việt Nam chạy theo giá vàng mà đưa ra chính sách là hoàn toàn không nên.


    Giá trị đồng tiền của ta so với tiền nước khác và sức mua trong nền kinh tế là liên quan lạm phát. Hai vấn đề này không phải lúc nào cũng là một.
    [​IMG]
    Thị trường vàng nhảy múa (ảnh: Phạm Huyền)

    Về đối ngoại, giá trị của đồng tiền Việt Nam với đồng khác, liên quan dòng thương mại, dòng vốn, chế độ tỷ giá với sự linh hoạt của chính sách tiền tệ. Nếu anh giữ tỷ giá cố định mà trong trung chuyển vốn, bị đôla hóa mạnh thì hiệu lực của chính sách tiền tệ là rất thấp.


    Tỷ giá là câu chuyện rất phức tạp. Mỗi biến số của chính sách tỷ giá thay đổi sẽ gây tác động nhiều chiều khác nhau. Giả sử, tiền đồng có các biến số khác thay đổi, mất giá so với USD thì người gửi USD phấn khởi, người gửi tiền đồng thì chắc cáu , anh xuất khẩu vui mừng, anh nhập khẩu buồn bực.


    Nên, tôi nói rằng, người làm chính sách vĩ mô là rất dũng cảm, chịu áp lực nhiều nhóm trong xã hội, nhưng không thể chiều lòng theo áp lực xã hội được. Anh phải quyết, làm chính sách vĩ mô thì về tổng thể, nền kinh tế được cái lợi chung. Và để làm được như vậy, nhà hoạch định chính sách phải minh bạch, giải trình với thị trường.


    - Vậy làm thế nào để ổn định nội tệ, phục hồi niềm tin với đồng Việt Nam, thưa ông?


    Phục hồi niềm tin với tiền VND cũng chính là vấn đề lạm phát và phải ổn định kinh tế vĩ mô. Bản chất của lạm phát là phản ánh sự mất giá đồng tiền thôi. Muốn ổn định và giữ lạm phát ở mức thấp, là phải thực hiện các chính sách liên quan đến cung ứng tiền tệ, chi ngân sách, tỷ giá ra sao, thời điểm điều chỉnh thế nào?


    Thứ 2 là việc ổn định kinh tế vĩ mô. Ở đó, không chỉ là vấn đề lạm phát mà còn là các biến số khác nhau như cán cân thương mại, cán cân thanh toán, thâm thụt ngân sách, rủi ro hệ thống tài chính…


    Nếu ta đang bình ổn nền kinh tế mà hệ thống tài chính có sự đổ vỡ nào đó, nợ xấu cao là gây ra bất ổn, và sẽ có nhiều hệ lụy. Không loại trừ, hệ lụy là lạm phát. Người cuối cùng đứng ra cứu sự bất ổn đó là Ngân hàng, và trong nhiều cách của Ngân hàng là tung tiền ra, lại sinh ra lạm phát, nhà đầu tư lại mang tiền đi vào tài sản tài chính khác. Người ta gọi là vòng xoáy lạm phát và đôla hóa.


    Người dân lại có thiên hướng chuyển sang đô la, tiền đồng Việt Nam càng mất giá, thì càng có xu hướng chuyển sang đôla, càng lạm phát lại càng đôla hóa nền kinh tế.

    Nhưng tâm lý người dân Việt Nam rất “hay”. Ở các nước, khi bất ổn kinh tế, người dân thắt chặt chi tiêu, còn ở ta, 5 năm qua, một mặt người dân không tin vào sự ổn định kinh tế vĩ mô, một mặt, vẫn có tốc độ tiêu dùng cao hơn cả tỷ lệ tiết kiệm, kể cả lúc bất ổn như năm ngoái do tác động khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Có thể, người Việt Nam không tin kinh tế vĩ mô ổn định trong ngắn hạn nhưng lại tin có khả năng ấy trong dài hạn?



    - Vậy, ông đánh giá thế nào về khả năng lạm phát năm nay?


    So với tháng 12/2009, lạm phát là 7,6%. So với năm 2009 là trên 9%. Nếu lạm phát tính ở thời điểm cuối năm, so tháng 12 năm nay với tháng 12 năm ngoái thì lạm phát quanh mức trên dưới 10% là có thể.


    Nếu ta xử sự chính sách đúng thì có thể giữ được mức lạm phát dưới 2 chữ số. Tuy nhiên, mục tiêu lạm phát của Chính phủ nào là 7%, rồi đổi tháng 8%, thì gần như chắc chắn không thể thực hiện được trong năm nay.


    Vài tháng trước, lạm phát có 0,2- 0,3%/tháng thì có ý kiến lạc quan cho rằng năm nay, lạm phát dưới 7%. Nhưng ngay thời điểm đó, dự báo của tôi và một số chuyên gia ở Viện cho là, lạm phát Việt Nam cuối năm nay là 8,5- 9%.


    Thông điệp chính sách phải nhất quán, đàng hoàng


    - Trở lại vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô, theo ông, đâu sẽ là khó khăn để thực hiện mục tiêu này?


    Đó là việc những vấn đề nền tảng gây bất ổn kinh tế vĩ mô của Việt Nam là lớn. Như tôi đã nói, đó không chỉ là lạm phát mà còn là vấn đề ngân sách, là thâm hụt, cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối, liên quan rủi ro hệ thống tài chính ngân hàng. Cái khó là vấn đề xử lý chính sách phải rất tổng thể, nó liên quan đến việc cần một cuộc cải cách rất lớn.
    [​IMG]
    Chính sách không nên bị cuốn theo vòng xoáy của vàng và đôla
    (ảnh: Phạm Huyền)

    Trong khi đó, áp lực xã hội lớn, nhiều chiều nên xử lý chính sách không dễ dàng. Trong bối cảnh như hiện này, nhiều biến số, thì bất kỳ xử lý nào cũng có thể khiến cho nhóm này được lợi, nhóm kia thiệt hơn một chút.


    Cái khó thứ 2 là nền kinh tế Việt Nam là khá mở, không chỉ là thương mại, xuất nhập khẩu, dòng vốn mà còn là vàng. Không phải biến số nào ta cũng có khả năng kiểm soát tốt được. Cách chơi của một nước mà nguồn lực không tốt, còn nhiều rủi ro bất ổn vĩ mô như nước ta, lại chơi với giá của loại hàng hóa nhảy nhót, điên loạn như vàng mà loại hàng hóa đó người Việt Nam lại rất chuộng, thì không phải dễ.


    Chúng ta không thể chạy theo vòng xoáy của vàng và đôla vì chúng ta không đủ lực. Nó nằm ngoài tầm với của ta. Khi chúng ta phải chấp nhận nền kinh tế có 2 tỷ giá chênh nhau khá lớn và như vậy, sẽ gây méo mó việc phân bổ nguồn lực.


    Nhưng cái đằng sau quan trọng hơn. Vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô là thường xuyên, lâu dài chứ không phải là nhất thời. Chúng ta phải kiên trì hơn, nhẫn nại hơn để tạo lập lòng tin cho thị trường vững chắc hơn.



    - Vậy theo ông, chúng ta nên giải quyết những vấn đề nền tảng của sự bất ổn kinh tế vĩ mô như thế nào?


    Những vấn đề nền tảng không thể giải quyết ngay một ngày nhưng có nhiều vịêc phải bắt đầu từ ngày hôm nay được. Ví dụ như thông điệp chính sách phải nhất quán, đàng hoàng.


    Biện pháp kỹ thuật của chính sách và mục đích của chính sách phải rõ ràng, không được nhầm lẫn với nhau,. Ví dụ, mục đích của ta là thắt chặt tiền tệ, chi tiêu, thì điều ấy không ngăn cản việc chúng ta đưa ra những biện pháp kỹ thuật để ******** hình bớt khó khăn đi. Khi đó, ta chấp nhận đánh đổi tăng trưởng giảm.



    Mà tăng trưởng chính là do đầu tư, sản xuất kinh doanh làm ra thôi, điều đó cũng nghĩa là điều kiện sản xuất kinh doanh khó khăn hơn. Nhưng với biện pháp kỹ thuật, tốt, đáng nhẽ, doanh nghiệp khó khăn 10, thì ta làm sao để họ khó khăn 6- 7 thôi.

    Sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ cần phải tốt hơn. Chính sách tài khóa là dài hạn, mất thời gian, phải chờ Quốc hội thông qua, còn chính sách tiền tệ là có thể đưa ra, áp dụng ngay. Nhưng thường thì, hai cái này là có khoảng cách với nhau. Phải làm sao, cùng một mục tiêu thắt chặt tiền tệ, một mức chi tiêu tài chính thì nguồn lực được sử dụng tốt hơn, đỡ khó khăn hơn. Nhưng ta không được lẫn biện pháp kỹ thuật và thông điệp chính sách.



    Thông điệp vừa rồi, ta chấp nhận thâm hụt 5,3% GDP nhưng còn một điều tôi chưa thấy rõ lắm là cơ chế phối hợp chính sách tiền tệ, tài khóa sẽ như thế nào. Đó còn là câu hỏi để ngỏ.


    Bài học vừa qua cho thấy, nguồn lực trong nhân dân rất nhiều. Nếu bất ổn, nguồn lực ấy sẽ không được sử dụng, thậm chí, do lợi ích, do hành vi bình thường của thị trường phản ứng trước bất ổn mà còn càng làm cho tình hình phức tạp hơn. Tôi cho đó là bài học lớn nhất.

    Với nhà hoạch định chính sách vĩ mô, đáng sợ nhất không phải là chính sách sai mà đáng sợ nhất là không dám giải trình và không dám chịu trách nhiệm. Phải rất thẳng thắn với thị trường, tôi làm chính sách này, có người có khó khăn, nhưng tôi tin là tổng thể sẽ tốt lên sau 1-2 năm nữa, và giờ, phải chịu khổ 1-2 năm.



    Rất khó có một chính sách mà ai cũng được lợi.
  9. luckiemnam

    luckiemnam Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Apr 16, 2010
    Likes Received:
    2,552
    mỏi mắt ù tai chóng mặt nghĩ ngẫm mà sợ

    rối như tơ vò rõ khổ vit ngan
  10. daithangmauthan1968

    daithangmauthan1968 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Jan 10, 2010
    Likes Received:
    483
    niềm tin bây giờ là thứ xa xỉ.

Share This Page