1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Chấn hưng đất nước từ chính sách tiền tệ " bài học từ Trung Quốc"

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi mendeleev, 18/02/2011.

Có 3223 người đang online, trong đó có 114 thành viên. 11:25 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 3514 lượt đọc và 65 bài trả lời
  1. mendeleev

    mendeleev Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    31/12/2009
    Đã được thích:
    0
    Bài học đâu xa xôi, chính ngay nước láng giềng. Đề Nghị chính phủ hãy quyết liệt chấn hưng đất nước bằng chính sách tiền tệ và tái cấu trúc nền kinh tế " đặc biệt là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước làm ăn kém hiệu quả" . không thể để các tổng công ty và tập đoàn làm ăn kém hiệu quả với ICOR> 7. trong khi chỉ số ICOR trong khu vực kinh tế tư nhân chỉ khoảng 3. Tập trung phát triển kinh tế tư nhân trụ cột của nền kinh tế

    sau 13 năm Trung Quốc mới xóa bỏ chính sách kết hối ngoại tệ, chính sách này được xóa bỏ khi nền kinh tế nhiều năm tăng trưởng mạnh, tỷ lệ lạm phát thấp, CCTT, CCTM dư thừa lớn, dự trữ ngoại hối cao.

    Kinh nghiệm của Trung Quốc về điều hành chính sách tỷ giá
    [​IMG]​


    Ngày 1/1/1994, Trung Quốc phá giá đồng Nhân dân tệ 50%. Sau 13 năm Trung Quốc mới xóa bỏ chính sách kết hối ngoại tệ khi cán cân thương mại dư thừa lớn, dự trữ ngoại hối cao.​



    st1\:-* { BEHAVIOR: url(#ieooui)}
    Theo nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế, Việt Nam và Trung Quốc đều là nước kinh tế đang phát triển ở trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. ​

    Giữa hai nền kinh tế có những nét tương đồng mặc dù thời điểm chuyển đổi và mức độ chuyển đổi có thể khác nhau. Do đó, kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc hoạch định chính sách là những bài học quý giá cho Việt Nam, đặc biệt là kinh nghiệm về điều hành chính sách tỷ giá của Trung Quốc trong những năm gần đây.​



    Trước năm 1979, Trung Quốc thực hiện chính sách tỷ giá cố định và đa tỷ giá. Cơ chế này đã làm cho các doanh nghiệp mất đi quyền chủ động trong kinh doanh, không gắn kết lợi ích kinh tế với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, làm cho các doanh nghiệp không chú ý đến hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng tính ỷ lại vào sự bao cấp của nhà nước, chính điều này đã làm cho Trung Quốc rơi vào suy thoái , khủng hoảng kinh tế sâu sắc.​



    Trung Quốc đã nhận ra sự yếu kém của cơ chế quản lý kinh tế theo kế hoạch, từ năm 1979 đã thực hiện cải cách kinh tế, thực hiện chuyển đổi nền kinh tế. Chính sách tỷ giá cũng được cải cách cho phù hợp với những chuyển đổi của nền kinh tế. ​

    Ngay từ đầu những năm 80, Trung Quốc đã cho phép thực hiện cơ chế điều chỉnh tỷ giá giảm dần để phản ảnh đúng sức mua của đồng NDT. ​

    Năm 1980, tỷ giá đồng NDT so với USD là 1,53 NDT/USD, đến năm 1990 là 5,22 NDT/USD. Chính sách tỷ giá này đã giúp Trung Quốc cải thiện được cán cân thương mại (CCTM), giảm thâm hụt thương mại và cán cân thanh toán (CCTT), đưa đất nước thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế. ​

    Tuy nhiên, việc thực hiện cơ chế tỷ giá theo hướng tương đối ổn định làm cho lạm phát tiếp tục gia tăng, hạn chế xuất khẩu và ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển kinh tế. ​

    Tỷ lệ lạm phát của Trung Quốc từ năm 1990 đến năm 1993 lần lượt là: 3,06%, 3,54%, 6,34% và 14,58%. Trong khi đó, lạm phát của Mỹ có xu hướng giảm xuống, thấp hơn nhiều so với Trung Quốc, năm 1993 lạm phát của Mỹ là 2,4%, do đó đồng NDT lại bị đánh giá cao so với sức mua thực tế. ​

    Nhận thấy việc duy trì tỷ giá theo hướng ổn định có ảnh hưởng xấu đến mục tiêu mở cửa kinh tế đối ngoại và kế hoạch tăng xuất khẩu để phát triển kinh tế, Trung Quốc đã quyết định điều chỉnh mạnh tỷ giá hối đoái. ​



    Ngày 1/1/1994, Trung Quốc chính thức công bố điều chỉnh mạnh tỷ giá đồng NDT từ 5,8 NDT/USD xuống 8,7 NDT/USD, tỷ lệ điều chỉnh (thực chất là phá giá đồng NDT) lên tới 50%. ​

    Để chính sách điều chỉnh tỷ giá giữ được ổn định, không bị giới đầu cơ thao túng, Trung Quốc đã thực hiện chính sách thắt chặt quản lý ngoại hối, nhằm mục đích tập trung ngoại tệ về Nhà nước, đảm bảo cung cầu ngoại tệ thông suốt.​



    Từ năm 1994 đến năm 1996, Trung Quốc thực hiện chính sách kết hối ngoại tệ bắt buộc theo quy định tại Sắc lệnh số 91 ngày 25/12/1993 của Chính phủ và quy định về cải cách cơ chế quản lý ngoại hối ngày 28/12/1993 của Ngân hàng nhân dân Trung Quốc. ​

    Theo đó, các nguồn thu ngoại tệ của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội (trừ các doanh nghiệp FDI) phải kịp thời chuyển về nước và bán hết cho các ngân hàng được ủy quyền. Khi có nhu cầu sử dụng các doanh nghiệp và tổ chức xã hội được mua ngoại tệ của các ngân hàng ủy quyền.​



    Cho đến cuối năm 1997, khi dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tăng lên 139,89 tỷ USD, Trung Quốc mới nới lỏng chính sách kết hối ngoại tệ. ​

    Ngày 15/10/1997, Ngân hàng nhân dân Trung Quốc ban hành Chỉ thị số 402 cho phép một số doanh nghiệp (Công ty xuất nhập khẩu và doanh nghiệp sản xuất có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu) được giữ lại một phần ngoại tệ trên tài khoản với mức tối đa không quá 15% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm.​



    Năm 2002, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tăng lên 286,4 tỷ USD, chính sách kết hối ngoại tệ tiếp tục được nới lỏng. ​

    Tại Chỉ thị số 87 của Cục Quản lý ngoại hối Trung Quốc ban hành ngày 9/9/2002 quy định các công ty và doanh nghiệp được giữ ngoại tệ trên tài khoản, mức tối đa không quá 20% tổng nguồn thu ngoại tệ từ giao dịch vãng lai. ​

    Từ năm 2003 đến năm 2006, Cục Quản lý ngoại hối yêu cầu các ngân hàng thương mại thực hiện chính sách kết hối ngoại tệ theo Chỉ thị số 87 nói trên.​



    Đến năm 2007, Dự trữ ngoại hối Trung Quốc đã tăng lên tới 1.528,249 tỷ USD. Ngày 13/8/2007 Cục Quản lý ngoại hối ban hành Chỉ thị số 48 cho phép các tổ chức kinh tế căn cứ nhu cầu sử dụng ngoại tệ phục vụ cho sản xuất kinh doanh được quyền giữ lại số ngoại tệ từ giao dịch vãng lai trên tài khoản.
    Như vậy, sau 13 năm Trung Quốc mới xóa bỏ chính sách kết hối ngoại tệ, chính sách này được xóa bỏ khi nền kinh tế nhiều năm tăng trưởng mạnh, tỷ lệ lạm phát thấp, CCTT, CCTM dư thừa lớn, dự trữ ngoại hối cao.​



    Chính sách thắt chặt quản lý ngoại hối còn thể hiện ở các quy định về hạn chế cho vay ngoại tệ trong nước. Từ năm 1994 đến năm 2002, các ngân hàng thương mại Trung Quốc không được phép cho các doanh nghiệp trong nước vay ngoại tệ. ​

    Đến ngày 6/12/2002 Cục Quản lý ngoại hối mới có văn bản (Chỉ thị số 125 về cải cách cơ chế cho vay ngoại tệ trong nước) cho phép các ngân hàng thương mại cho các tổ chức kinh tế trong nước vay ngoại tệ.
    Khi vay vốn ngoại tệ các tổ chức kinh tế phải làm thủ tục mở tài khoản vay ngoại tệ tại các ngân hàng được ủy quyền. Các ngân hàng thương mại có trách nhiệm đăng ký khoản cho vay với cơ quan quản lý ngoại hối.​



    Gần đây, khi nền kinh tế Trung Quốc đã lớn mạnh, dự trữ ngoại hối tới 2.847,3 tỷ USD, chính sách tỷ giá của Trung Quốc làm cho các nước Mỹ, phương Tây đau đầu.
    Ngày 5/8/2008, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo mới ký Sắc lệnh sửa đổi Điều lệ quản lý ngoại hối cho phép tự do hóa các giao dịch vãng lai và nới lỏng quản lý với giao dịch vốn với nội dung gần tương tự với pháp lệnh ngoại hối của Việt Nam.​



    Nhờ thực hiện một loạt các biện pháp quản lý chặt chẽ về ngoại hối, Trung Quốc đã thành công trong việc điều hành cơ chế tỷ giá, đảm bảo đáp ứng được đầy đủ nhu cầu ngoại tệ cho nền kinh tế phát triển vững chắc. ​

    Từ năm 1994 đến nay đã gần 20 năm, sau khi điều chỉnh tỷ giá, Trung Quốc vẫn giữ được thị trường ngoại tệ ổn định, dựa trên cơ sở cân đối được cung cầu ngoại tệ. ​

    Với chính sách Nhà nước quản lý chặt chẽ các nguồn thu ngoại tệ sau khi điều chỉnh tỷ giá, đã góp phần tăng quyền sở hữu ngoại tệ của các ngân hàng thương mại, đó chính là chìa khóa thành công giúp cho các ngân hàng có đủ ngoại tệ bán cho các tổ chức kinh tế và cá nhân có nhu cầu.​



    Cuộc cải tổ và chuyển đổi nền kinh tế của Trung Quốc trong thời gian qua đã thu được nhiều kết quả, có những đóng góp quan trọng của việc điều hành cơ chế tỷ giá linh hoạt, chủ động của các cơ quan chức năng Trung Quốc. ​

    Những kinh nghiệm thành công cũng như các khó khăn trong cải cách kinh tế của Trung Quốc là những bài học quý giá cho các nước chuyển đổi nền kinh tế như Việt Nam nghiên cứu và vận dụng.​




    http://cafef.vn/20110218034553103CA32/kinh-nghiem-cua-trung-quoc-ve-dieu-hanh-chinh-sach-ty-gia.chn
  2. gs350l

    gs350l Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    05/08/2008
    Đã được thích:
    0
    Muộn rồi, việc này đáng phải làm từ cách đây 20-25 mới phải.
  3. mendeleev

    mendeleev Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    31/12/2009
    Đã được thích:
    0

    muộn nhưng hãy làm ngay, vẫn còn cứu được. đừng để là thái lan thứ 2. mong chính phủ hãy làm ngay. Do it now

    Bác này còn nói là chưa đến lúc, bó tay:

    Kết hối là biện pháp cuối cùng [​IMG][​IMG] Việc điều chỉnh tỷ giá vừa qua là đúng và kịp thời. Việc điều chỉnh có hai tác động: tạo nên cung cầu mới, tạo khả năng thu USD vào thuận lợi hơn, góp phần chống nhập siêu, hạn chế găm giữ USD.

    Phân tích cụ thể về sự kiện này, đứng trên góc độ là nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia và Chủ tịch Hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, TS. Cao Sỹ Kiêm nói:
    Việc điều chỉnh tỷ giá vừa qua là đúng và kịp thời. Việc điều chỉnh có hai tác động: tạo nên cung cầu mới, tạo khả năng thu USD vào thuận lợi hơn, góp phần chống nhập siêu, hạn chế găm giữ USD.
    Nhưng, nó cũng gây tăng chi phí cho một số mặt hàng mà doanh nghiệp trong sản xuất phải sử dụng nhiều ngoại tệ để nhập thiết bị, tư liệu sản xuất. Làm tăng như thế thì sẽ kích thích lạm phát và đẩy giá lên. Bởi vì khi chi phí đã vào giá thành thì sẽ tạo điều kiện cho giá tăng. Đấy là một bất lợi khiến lạm phát tăng lên.
    Và khi mà lạm phát tăng lên thì lãi suất một là không giảm được, hai là cũng phải tăng lên. Lãi suất cũng là biểu hiện của sức khỏe đồng tiền, là giá đồng tiền, phản ánh thực trạng nền kinh tế, thì có những mặt trái như thế.
    Nhưng nếu nhìn về tổng thể toàn cục, việc tăng lên giải quyết được nhiều vấn đề tốt hơn: theo nguyên tắc thị trường, theo hội nhập, tạo lòng tin, tạo nên yếu tố minh bạch, chống gây ra găm giữ và rủi ro đầu cơ. Nhìn chung thì cái lợi nhiều hơn cái hại.
    “Vít” lâu nên phải nới mạnh
    Về thời điểm điều chỉnh, có ý kiến cho rằng đã để quá lâu nên đến khi điều chỉnh thì tăng lớn. Ông nghĩ sao?
    Cái đó đúng. Chúng ta chưa giải quyết một cách cơ bản và có hệ thống những điểm gốc nên vừa qua phải xử lý tình huống. Vì lo lạm phát cuối năm 2010 “bục” ra nên một số biện pháp cứng mình đưa ra ngay, thí dụ như “vít” tỷ giá không cho tăng, tuyên bố trước Tết Nguyên đán không thay đổi tỷ giá… Trong khi giá thị trường thì theo cung cầu mà mình không cho theo, vít lại ngay thì tất nhiên nó đóng góp tạo nên ổn định nhưng nó sẽ “bục” ra sau.
    Khi cung ít, cầu nhiều thì dứt khoát giá tăng lên thôi. Mình quy định 19.000 đồng/USD mà không có bán thì thị trường nó tăng lên 22.000 đồng/USD. Sự thực họ giao dịch với nhau 22.000 đồng/USD rồi.
    Đến khi mình mở ra thì không thể mở thấp được, không thể mở 2-3%. Thị trường tăng lên 10% rồi thì phải mở 9,3% mới sát thị trường, đảm bảo cung cầu.
    Điều chỉnh sau Tết thì thanh khoản ngoại tệ dồi dào hơn, chứ để lúc khác sức ép rất lớn. Có xảy ra một số mặt trái, nhưng cũng có nhiều cái lợi, và lợi nhiều hơn thì ta làm.
    Quá trình “vít” lại có ảnh hưởng gì đến dự trữ ngoại hối?
    Ảnh hưởng chứ. Vì mình không mua được, mà mình tuyên bố 19.000 đồng/USD thì những cái rất cần thiết vẫn phải đáp ứng 19.000 đồng/USD. Mà cái ấy chủ yếu lấy ở dự trữ ra. Thêm vào thì không có, dự trữ phải nhả ra, nên ảnh hưởng đến dự trữ là có thật.
    Nhưng được một cái là tuyên bố như thế đỡ kích tăng giá lên, hai là những ông găm giữ, đầu cơ cũng phải dè chừng. Cũng được một số mặt thôi.
    Trong những giải quyết của mình hiện nay, có nhiều vấn đề mình không cơ bản nên phải chấp nhận những tác động phụ. Chứ ở nước ngoài, thí dụ tăng tỷ giá đã có lộ trình rồi, hoặc là có trích rủi ro tỷ giá rất đầy đủ, nên tăng bao nhiêu không sợ gì cả. Mình không có cái này, hoặc là rất nhỏ, nên tăng quá một cái là doanh nghiệp chơi vơi ngay.
    Đấy là do khiếm khuyết của mình, nền kinh tế chưa đồng bộ, chưa hoàn chỉnh. Thứ nữa là mình giải quyết tình thế nhiều cho nên chưa giải quyết được cơ bản.
    Có quan điểm rằng nếu giữ nguyên biên độ thì chỉ phải phá giá hơn 7%, sẽ bớt ảnh hưởng đến tâm lý thị trường. Ông có thể nói gì?
    Không. Bây giờ chúng ta phải dùng cả hai, một là biên độ và hai là giá chính. Trong tình hình hiện nay, nhất là Việt Nam, vấn đề tâm lý rất nặng nề, nhiều cái đồn thổi, thiếu thông tin, tạo tâm lý ảo...
    Cho nên, trong thời điểm hiện nay phải nâng giá chính lên sát cung cầu để tránh lợi dụng, nhưng cũng còn phải kéo sát biên độ, để nếu có anh nào muốn lợi dụng cũng không làm được.
    Tất nhiên, cái này đòi hỏi một điều kiện nữa, nếu không lại là hình thức và phản tác dụng. Đã xây dựng mặt bằng lớn hơn, cụ thể như thế này rồi, thì Ngân hàng Nhà nước phải rất linh hoạt, rất chủ động, khi có diễn biến thì phải thay đổi, xử lý ngay. Chứ nếu để như trước, cách quãng ra thì lại "cứng đơ" lại. Bắt đầu có biến động thì phải chỉnh, chỉnh, chỉnh… thì mới linh hoạt, mới giúp thị trường thông thoáng, không bị "nhảy cóc" nữa.
    Vấn đề tâm lý với Việt Nam nặng nề lắm. Người ta hốt hoảng với nhiều cách xử lý của chúng ta rồi, nên cứ tự xử lý thôi. Người ta nghĩ, họ nói vậy chứ chưa chắc đã làm được, chưa chắc đã có, nên tôi phải tự đối phó trước.
    Cho nên, sát được như thế này và kiểm tra thường xuyên, uốn nắn thường xuyên thì có lợi hơn và minh bạch hơn. Mấy hôm nay, tôi theo dõi các ngân hàng thương mại mua tốt hơn, dự trữ cao hơn, tình hình đỡ căng thẳng hơn và doanh nghiệp cũng dễ thở hơn, khả năng lợi dụng ít hơn...
    Có phải việc điều chỉnh lần này là "hết sách" để có thể kìm hơn được nữa?
    Đúng rồi. Giải quyết mà khả dĩ được thì tốt, nếu không được thì phải làm bài cuối cùng thôi. Nếu không được thì có khi phải trở lại giải pháp mệnh lệnh hành chính, tình thế. Nếu để cái đó xảy ra nhiều thì rất nguy hiểm, vì hành chính, mệnh lệnh là kỵ với thị trường, càng lợi dụng nhiều càng gây khủng hoảng cho kinh tế.
    Tác động đến lạm phát không nhiều
    Cách thức điều hành thị trường ngoại hối với biên độ hẹp, thay đổi linh hoạt hiện nay cũng từng được sử dụng nhưng vì sao lại bỏ?
    Trước bỏ đi vì là biện pháp tình thế. Hiện nay, tinh thần là tỷ giá sẽ theo hình lượn sóng, người ta thấy nay lên, mai xuống thì cứ để kệ nó, người ta yên tâm hơn, không găm giữ. Chứ vọt phát nhảy lên rồi đứng lại thì bị đồn thổi ngay, lợi dụng đánh quả ngay.
    Theo ông thì mức độ tác động đến lạm phát của đợt điều chỉnh lần này như thế nào?
    Định lượng tác động vào lạm phát, tôi cho rằng cũng không nhiều, không quyết định lớn, vì lạm phát của chúng ta có nhiều nguyên nhân.
    Lạm phát vừa qua không chỉ có nguyên nhân tiền tệ, không phải chủ yếu do yếu tố tiền tệ, mà còn do bội chi ngân sách cao, hiệu quả kinh tế kém, do nhập siêu quá lớn, rồi thì do những cân đối vĩ mô của chúng ta vừa qua giải quyết chưa triệt để. Nói cách khác là nền tảng ổn định vĩ mô không giải quyết triệt để.
    Vừa qua chúng ta có làm được một số cái, nhưng mới là giải quyết tình thế, trước mắt, như hạn chế tăng tỷ giá, hạn chế cho vay nhập khẩu những mặt hàng này, cấm tăng giá một số mặt hàng nọ… toàn những biện pháp cấp cứu, nhưng biện pháp cơ bản chưa giải quyết được. Những vấn đề về năng suất lao động, nhập siêu cao, bội chi ngân sách cao, về hệ số ICOR cao vẫn còn nguyên vẹn, mà đó là những yếu tố trực tiếp dẫn đến lạm phát. Cho nên lạm phát vẫn rình rập, đe dọa.
    Không thể hy vọng dùng một chính sách mà giải quyết được vấn đề lớn, mà mỗi thứ vào một tí thì sẽ tạo chuyển biến lớn. Cho nên việc điều chỉnh tỷ giá lần này tuy có hiệu ứng không tốt cho lạm phát, tăng chi phí cho doanh nghiệp, nhưng ta phải chấp nhận để lấy lại những cái khác.
    Hay nói cách khác, là chúng ta buộc phải chuyển từ giải pháp tình thế sang bền vững. Mình chấp nhận lạm phát tăng lên.
    Để giải quyết lạm phát thì phải xử lý đồng bộ nhiều yếu tố của các lĩnh vực khác, thí dụ như nhập siêu, năng suất lao động, công ăn việc làm để tạo sức mua, rồi xử lý những cái gây rủi ro cho nền kinh tế nhiều, những yếu tố không tích cực cho nền kinh tế…

    Chính sách thì không thể ai cũng lợi
    Vậy theo ông, tình hình giá cả đầu vào, chi phí vốn cao như hiện nay có ảnh hưởng thế nào đến các doanh nghiệp?
    Rất gay go. Tất nhiên, một số anh cũng chịu đau đớn, chứ không đơn giản đâu. Nhưng chính sách thì bao giờ cũng thế, có cái được, có cái mất, có anh được lợi, có anh phải chấp nhận thua thiệt… Không thể có cách cào bằng như nhau được.
    Những doanh nghiệp lớn có thể lấy chỗ khác bù vào thì còn được. Còn những doanh nghiệp nhỏ thì một là phải chấp nhận bất cứ giá nào, theo kiểu uống thuốc độc chết từ từ. Hai là không làm ăn gì nữa, tôi đi chơi, đi lễ hội các thứ...
    Cách đây một năm, lượng vay USD tăng rất mạnh, theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước. Với những người vay USD từ năm ngoái thì thế nào?
    Thua lớn. Là vì lúc đó không cần USD cũng vay để hưởng chênh lệch. Nay giá USD tăng thế này nghĩa vụ trả nợ rất lớn. Trước đây vay USD chỉ có 17-18 nghìn đồng/USD thôi, nay trả nợ 21 nghìn đồng USD thì dứt khoát là "bị" rồi.
    Những doanh nghiệp nào thì được thuận lợi?
    Những ông xuất khẩu thì được lợi thấy rõ rồi. Ví dụ là trước kia ông xuất hàng được 19.000 đồng/USD thì bây giờ được 22.000 đồng/USD.
    Chứ còn mua nguyên liệu bán thành phẩm, nhập tất cả vật tư nguyên liệu mà làm một tí gia công thì có khi lại chịu lạm phát kép của nước ngoài, hiện vật tư nguyên liệu của người ta đang tăng giá do lạm phát của họ, ông xuất khẩu mà lại phải nhập vào với giá cao của họ, cộng với lạm phát của mình, có khi nếu không tính toán kỹ làm càng nhiều càng lỗ…
    Chưa đến lúc thả nổi, kết hối
    Như ông phân tích thì điều hành tỷ giá nên theo tín hiệu thị trường. Vậy liệu có đến lúc phải tính đến thả nổi tỷ giá?
    Thả nổi tỷ giá là tốt. Phấn đấu đến lúc nào đó thả nổi tỷ giá, thả nổi lãi suất, lúc mà nền kinh tế hoàn chỉnh rồi và hoàn toàn kiểm soát được. Chứ bây giờ phải có bàn tay nhà nước, thả nổi sẽ hỗn loạn ngay.
    Nếu kết hối ngoại tệ như một đại diện ngân hàng khuyến nghị gần đây thì sao, thưa ông?
    Chưa được. Kết hối ngoại tệ là biện pháp sử dụng trong lúc cùng cực. Bây giờ thì chưa được. Vì đã dùng kết hối là mệnh lệnh, cách điều hành hành chính, bắt các anh phải bán từ này, chỉ được dùng bằng này… Cái đó chỉ có khi lạm phát đến mức sụp đổ mới phải làm, chứ hiện nay, nếu đưa ra là "chết" ngay, sẽ làm cho thụt lùi lại.
    Kết hối là biện pháp cuối cùng, bất lực rồi mới làm. Tất nhiên được hiệu quả một chút trước mặt nhưng có thể gây hậu quả, đặc biệt là lòng tin của nhà đầu tư.

  4. mendeleev

    mendeleev Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    31/12/2009
    Đã được thích:
    0
    kết hối là biện pháp cần làm ngay, bài học từ Trung Quốc nhìn từ lịch sử, trước đó dự trữ ngoại hối của Trung Quốc chỉ > 100 tỷ đô la. Sau hơn 10 năm dụ trữ đã lên tới > 1500 tỷ $

    Hãy so sánh chỉ số ICOR ở Việt Nam , kinh tế tư nhân (khoảng 3) và các tập đoàn, tổng công ty nhà nước ( khoảng >7) biết mức độ làm ăn như thế nào của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Hãy lấy kinh tế tư nhân làm trụ cột, kinh tế tư nhân thì còn ai tham nhũng được, nhưng việc làm ăn hiệu quả thì không cần nhiều vốn như các công ty nhà nước, giải quyết được nguyên nhân sâu sa của lạm phát.
  5. tietn3honquy

    tietn3honquy Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    27/10/2007
    Đã được thích:
    0
    Người TQ họ làm dc nhưng người VN thì ko bao giờ làm dc, bác chủ tóp nên nhớ nhé!còn muốn biết tại sao cứ tìm hiểu nha.
  6. mendeleev

    mendeleev Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    31/12/2009
    Đã được thích:
    0
    Một nền kinh tế mà đầu tư lên tới 40% GDP để tạo ra 6.7% tăng trưởng thì nền kinh tế đó chủ yếu sống bằng đồng vốn, do đó liên tục in tiền. mà lạm phát là lạm dụng phát hành tiền. làm ăn kém hiệu quả nên Việt Nam lụt trong tiền. Hàng ít hơn tiền nên lạm phát của Việt Nam là khủng khiếp

    Hãy kết hối

    Hãy tái cấu trúc các tổng công ty, tập đoàn nhà nước

    Hãy lấy kinh tế tư nhân làm trụ cột

    Ưu tiên kìm chế lạm phát, ổn định vĩ mô

    Có như vậy mới lấy lại được niềm tin vào VND của người dân Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài

    hãy nghiên cứu khủng hoảng của Thái Land để có bài học kinh nghiệm; học hỏi bài học từ Trung Quốc
  7. phuongxa20

    phuongxa20 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    02/06/2005
    Đã được thích:
    225
    Không có biện pháp mạnh tay thì cũng như không ....rồi cũng phải mạnh tay với dân đầu cơ usd thôi nhé .



    Sốt ruột” với quản lý vàng, ngoại tệ






    [​IMG]
    ​

    Thống đốc Nguyễn Văn Giàu không khỏi lo ngại lạm phát tháng 2/2011 có thể cao hơn dự kiến.



    st1\:-*{behavior:url(#ieooui) }




    “Chúng tôi mua giày ở Ấn Độ, người ta không nhận USD, mà yêu cầu chúng tôi đi đổi sang tiền Ấn Độ để trả tiền giày”.

    Câu chuyện nhỏ này đã được Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Ksor Phước kể lại, khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét báo cáo bổ sung của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội năm 2010 tại phiên họp sáng nay (18/12).

    Ngăn chặn “Đô la hóa”

    Ông Ksor Phước đề nghị các chuyên gia nghiên cứu thật kỹ nguyên nhân gia tăng sử dụng đồng USD trong thị trường nội địa, trong đó có yếu tố về quản lý Nhà nước.

    Sau câu chuyện mua giày ở Ấn Độ, vị Chủ tịch Hội đồng Dân tộc “trầm trồ” rằng, “họ rất quyết liệt, họ không cho thanh toán phi chính thức bằng ngoại tệ trong thị trường của họ”.

    Và ông đề nghị, phải xử phạt rất nghiêm khắc các trường hợp vi phạm quy định. Ở ta, nhiều nhà hàng ghi giá USD đàng hoàng, công khai, không ai làm gì cả. “Luật cấm hết rồi, nhưng cả bộ máy chúng ta không làm gì cả”, ông Ksor Phước nói.

    Theo ông, Bộ Tài chính phải tham mưu cho Chính phủ để thực hiện cương quyết chứ không thể để tiếp diễn tình trạng thanh toán USD chỗ nào cũng được. “Giao dịch, thanh toán bằng ngoại tệ phi chính thức trong thị trường nội địa Việt Nam rất trắng trợn, đó là điểm yếu trong khâu quản lý vĩ mô”, ông sốt ruột.

    Đáng chú ý, bên cạnh ông Ksor Phước, một số vị Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội khác, tuy không phải chuyên gia về kinh tế - tài chính, song cũng thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến thực trạng quản lý thị trường vàng và USD hiện nay. Cho dù, họ không có nhiều đánh giá về nội dung này trong báo cáo bổ sung của Chính phủ.

    Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Văn Thuận nói, trong giờ giải lao, ông đã trao đổi với Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh. Rằng, thực chất ở thị trường hiện có tới ba loại phương tiện thanh toán chi phối. Bên cạnh VND, là ngoại tệ (không nhất thiết phải là USD), thứ ba là vàng.

    "Chính phủ có cách nào không, chứ hiện nay hầu như rất khó quản lý", ông Thuận than phiền.

    Chủ nhiệm Thuận cũng lo ngại, nếu không có biện pháp mạnh, không quản lý được thu đổi ngoại tệ thì giá ngoại tệ sẽ tiếp tục tăng, dẫn đến mất cân đối lớn. “Anh nào có tiền thì đi mua vàng hay đổi USD đưa vào ngân hàng”, ông Thuận quan ngại.

    Tại báo cáo thẩm tra sơ bộ về báo cáo bổ sung của Chính phủ, Ủy ban Kinh tế cũng nhấn mạnh, thị trường tiền tệ, thị trường vàng và ngoại tệ diễn biến phức tạp. Cung - cầu trên thị trường ngoại hối tiếp tục mất cân đối, gây nhiều sức ép lên tỷ giá.

    “Những diễn biến phức tạp của chỉ số giá tiêu dùng, lãi suất và tỷ giá đã gây thêm khó khăn cho sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, vốn đã bị tác động mạnh từ sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, đồng thời ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân, gây tâm lý lo lắng trong xã hội”, Chủ nhiệm Hà Văn Hiền nêu rõ.

    Bởi vậy, trong một số nhiệm vụ, giải pháp chính cần tập trung thực hiện trong năm 2011, Thường trực Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhấn mạnh, cần triển khai mạnh mẽ và đồng bộ các biện pháp quản lý thị trường vàng và thị trường ngoại tệ nhằm ngăn chặn tình trạng gia tăng Đô la hóa, vàng hóa trong nền kinh tế; từng bước đưa hoạt động kinh doanh này vào khuôn khổ pháp lý.

    Điều hành lãi suất không thể máy móc

    Bên cạnh vàng và ngoại tệ, câu chuyện lãi suất cũng chất chứa ưu tư của nhiều vị đại biểu tham dự phiên họp sáng nay.

    Thừa nhận đến nay lãi suất vẫn ở mức cao trong điều kiện lạm phát cao, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu không khỏi lo ngại lạm phát tháng 2/2011 có thể cao hơn dự kiến.

    Nêu ý kiến của dư luận về ngân hàng lãi lớn nhưng tại sao lãi suất cho vay cao, Tổng kiểm toán Nhà nước Vương Đình Huệ cho rằng cũng phải thông cảm cho ngân hàng thương mại. Vì, đây là ngành kinh doanh có rủi ro lớn, lãi lớn cũng phải đề phòng cho lúc rủi ro xảy đến.

    Tuy nhiên, ông Huệ cũng cho rằng không thể áp dụng máy móc lý thuyết lãi suất thực dương được. Vì không ít người hễ có chút tiền thì gửi ngân hàng, chứ không phải do lãi suất thực dương.

    “Cá nhân tôi không tán thành lãi suất thực dương, chỉ ở mức độ nào đó thôi, chứ nếu không thì doanh nghiệp “chết”, ông Huệ phát biểu.

    Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Thu Ba cũng tỏ ra lo ngại, khi nghe Thống đốc Nguyễn Văn Giàu giải thích về nguyên nhân tăng lãi suất và giảm tăng trưởng tín dụng.

    Thống đốc nói giảm tăng trưởng tín dụng thì doanh nghiệp phải tính toán việc vay vốn, nhưng nếu không tính được thì họ vẫn phải vay. Song khả năng có lãi rất khó khăn, lãi suất từ18 đến 20% thì làm sao làm ăn đủ trả lãi.

    Phải tính toán thật kỹ nếu không ban đầu vài doanh nghiệp đổ vỡ sau đó sẽ đổ vỡ dây chuyền thì rất nguy hiểm, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội”, bà Thu Ba lo ngại.

    Chiều nay, Ủy ban Thường vụ Quốc hội vẫn tiếp tục thảo luận về nội dung nói trên.

    Theo Nguyên Thảo
    VnEconomy​


    ​
  8. mendeleev

    mendeleev Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    31/12/2009
    Đã được thích:
    0
    nếu không làm thì sẽ là một Thái Lan thứ 2

    bài học từ Thái Lan trong trang dưới đây

    What caused the Asian Economic Crisis? <P class=MsoNormal style=[/IMG][FONT=.VnArial]By[/FONT]​




    [FONT=.VnArial]Xu ShiChang, Desmond[/FONT]​


    [FONT=.VnArial]Current account deficits in Asian economics[/FONT]​

    [FONT=.VnArial]There account deficits in many Asian countries were very high. An account deficit of 5% of GDP is already considered very dangerous. However, evidence shows that during the 1990’s Asian economies had relatively high account deficits.[/FONT]
    [FONT=.VnArial]Particularly in Thailand where the current account deficits was always above 6% of GDP in the 1990’s and approached 9% of GDP in 1995 and 1996[/FONT][FONT=.VnArial] and Malaysia where it has equally high numbers with over 10% of GDP in 1993 and slowly decreasing to 3.7% of GDP in 1996. The ffice:smarttags" />Philippines had a current account deficit of about 5% of GDP on all the years. In Korea, it was it was low (0-3%) form 1990-1993 but later rose quickly to almost 5% of GDP in 1996. Indonesia had an account deficit of 4% at the start of the decade, but it shrank in 1992 and 1993, only to widen to 3-4% in 1995-1996. Honk Kong had an account surplus averaging 7% of GDP from 1990-1993, however it dropped to 2% in 1994 and went in to more than 2% deficit in 1995 and 1996. Taiwan turned in high account surpluses with 4.5% of GDP in surplus for 1996. Singapore’s case is very different, its account surplus averaged 10% for 1990-1993 and 16% of GDP for 1994-1996. Due to the weakening of the Asian currencies, the account deficits had a devastating impact.[/FONT]
    [FONT=.VnArial]And those countries with small account deficits or surpluses did not suffer as much. China had a stable currency, Hong Kong had the reserves to successfully defend their dollar. Singapore and Taiwan’s currencies depreciated by only 18%, much lower than other crisis countries.[/FONT][FONT=.VnArial][/FONT]
    [FONT=.VnArial]The account deficits could not be sustained at such high levels. Usually, it is the solvency of an economy which determines how much of a deficit it can sustain. If a country accumulates foreign debt at a rate that higher than the cost of borrowing, it cannot possibly carry on borrowing forever. However, if the economy can generate surpluses in the future, it can still pay off its debt.[/FONT]

    [FONT=.VnArial]Excessive lending by banks[/FONT][FONT=.VnArial][/FONT]​

    [FONT=.VnArial]According to figures, there was a lending boom is Asia, the growth of private sector lending was smallest at 7% in China, and highest at 151% in Philippines, 58% in Thailand[/FONT][FONT=.VnArial] and 31% in Malaysia between 1990 and 1996. This can be compared to the Mexico, where private sector lending grew 116% from 1990 to 1994, Argentina’s 57% and Brazil’s 68%.[/FONT]
    [FONT=.VnArial]The fact that there was a lot of lending need not be bad for the Asian economies if they performed well. However, a high proportion of them were non-performing loans.[/FONT][FONT=.VnArial] Just before the crisis came about, non-performing loans as a proportion of total loans is estimated at 14% in the Philippines, 8% for Korea, 10% for Malaysia,13% for Thailand.13% for Indonesia and 4% in Singapore. It is really a wonder why banks were willing to continue lending out so much although they already were laden with so many non-performing loans. Cronyism comes to mind. Most of the loans made were to finance dubious investments or for speculation of assets especially property.[/FONT]
    [FONT=.VnArial][/FONT]

    [FONT=.VnArial]Huge foreign debt in Asian economies[/FONT]​

    [FONT=.VnArial]Since the 1980’s and until the crisis, Asian economies have been growing rapidly. The Asian miracle relied on high investment rates. The Asian economy borrowed a lot of money, usually in foreign currencies which have lower interest rates. Their economies had to depend on borrowing to finance their investments. Their foreign debt therefore grew to a huge liability. As long as they could keep borrowing, they could keep their economy growing. However, they cannot keep borrowing forever. When they could no longer borrow more money, they were unable to finance their debts.[/FONT][FONT=.VnArial] Some corporations went bust while others incurred huge losses.[/FONT]
    [FONT=.VnArial][/FONT]
    [FONT=.VnArial]They have also come to be dependent on high growth rates. It was the high growth rates that brought in their investments and made profits for their corporations and enhanced their ability to repay foreign debt. As long as the economy was growing, they would have a higher ability to pay their debts. However, this crisis made things worse than it already was, making the financing of debt difficult.[/FONT]

    [FONT=.VnArial][/FONT]​


    [FONT=.VnArial]High growth and inflation (Overvaluation of Asian currencies)[/FONT][FONT=.VnArial][/FONT]​

    [FONT=.VnArial]Due to the high growth rates in Asia in the years before the crisis, it brought about a high level of confidence and its people started spending more on optimism that their wages will rise further. However, the US dollar continued to show strength from 1995 all the way up to the crisis and beyond. As the currencies in Asia were mostly fixed or semi-fixed, Asian currencies followed and became grossly overvalued. The overvalued currencies made Asian exports less competitive. Since many Asian economies were export driven, they suffered when exports growth fell, sometimes to negative territory.[/FONT][FONT=.VnArial][/FONT]

    [FONT=.VnArial]Small foreign reserves of Asian Governments[/FONT]​

    [FONT=.VnArial]Many Asian governments had relatively small foreign reserves. Either most of their reserves were in local currencies, regional currencies, or that they had little reserves in the first place. Thus they had difficulty defending their currencies when investors panicked and sold their currencies. Since other Asian currencies also crashed, many of the governments which held other Asian currencies lost a lot of money. This contributed further to their[/FONT][FONT=.VnArial] inability to service foreign debts.[/FONT]
    [FONT=.VnArial][/FONT]

    [FONT=.VnArial]How the factors brought about the crisis[/FONT]​

    [FONT=.VnArial]Then in 1995, the US dollar strengthened substantially. Since most Asian currencies were pegged to the dollar, the competitiveness of Asian exports went down. This reduced their profitability and their economies had less foreign currency receipts to pay off their debt. As the dollar continued to show strength, it became apparent that it was no longer feasible to remain on a peg to the dollar. As the pegs began to loosen, their currencies began to slide. This caused many corporations a huge liability as they would have to pay back their foreign debt with more of their local currency. This caused many bankruptcies. Together with the earlier loss of profitability in Asian nations, this led to a fall in credit growth as banks and other financial institutions became more cautious and cut lending. This meant that Asian economies cannot sustain their rate of investment, and since Asian nations economies depended on it, it brought about many corporate bankruptcies and many other businesses and investments made a loss.[/FONT]
    [FONT=.VnArial] var _gaq = _gaq || []; _gaq.push(['_setAccount', 'UA-174705-4']); _gaq.push(['_trackPageview']); (function() { var ga = document.createElement('script'); ga.type = 'text/javascript'; ga.async = true; ga.src = ('https:' == document.location.protocol ? 'https://ssl' : 'http://www') + '.google-analytics.com/ga.js'; (document.getElementsByTagName('head')[0] || document.getElementsByTagName('body')[0]).appendChild(ga); })(); [/FONT][FONT=.VnArial][/FONT]

    sự giống và khác nhau giữ Việt Nam và Thái Lan 1997 là gì, hãy đọc sẽ thấy nó nguy hiểm mức nào



    [FONT=.VnArial]sự[/FONT]​
  9. Nuivang

    Nuivang Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    29/08/2010
    Đã được thích:
    0
    Có được lòng tin của nhà đầu tư khi mà ỔN ĐỊNH ĐƯỢC VĨ MÔ, còn tỷ giá đang quá bất ổn khó dự báo như hiện nay thì kêu gọi lòng tin làm sao?
    vì thế nếu vẫn là CÓ CÓ BÀN TAY CỦA NHÀ NƯỚC nghĩa là đang trên con đường đi đến kinh tế thị trường thực sự thì việc KẾT HỐI nhằm chủ động về ngoại hối bảo đảm thanh khoản về USD thì cũng là tốt cho chính doanh nghiệp chứ sao đâu?
    KẾT HỐI NGAY và CẤM MỌI THANH TOÁN NỘI ĐỊA DÙNG USD
  10. mendeleev

    mendeleev Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    31/12/2009
    Đã được thích:
    0
    tại sao các nuớc ASIAN bi khủng hoảng còn China và Hongkong trong thời kỳ 1997 thì không, đọc trong bài trên sẽ thấy

Chia sẻ trang này