1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

CHỈ THỊ 03: BỎ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THÔI BÀ CON(TIẾP PHẦN 3...)

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi KHOAITA, 29/06/2007.

289 người đang online, trong đó có 41 thành viên. 00:43 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 2418 lượt đọc và 21 bài trả lời
  1. Smilingmind

    Smilingmind Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    29/03/2007
    Đã được thích:
    0
    Ngày 26/06/2007, 15:16
    Chỉ thị 03 vẫn còn nhiều mâu thuẫn


    (ĐTCK-online) Trước phản ứng quyết liệt về Chỉ thị 03/2007/NHNN vừa được ban hành, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Lê Đức Thúy đã chính thức trả lời báo giới những câu hỏi liên quan đến vấn đề hạn chế ngân hàng cho vay cầm cố chứng khoán. Tuy nhiên, điều làm các ngân hàng cổ phần và nhiều người thất vọng là NHNN vẫn giữ quan điểm cứng rắn trong cho vay cầm cố chứng khoán, trong khi những nội dung chính trong Chỉ thị 03 vẫn còn nhiều mâu thuẫn hoặc chưa sáng tỏ.


    Thứ nhất, NHNN vẫn chưa trả lời cụ thể về tính hiệu lực của Chỉ thị 03. Bên cạnh đó, một số nội dung trong Chỉ thị mâu thuẫn với thông tin mà Thống đốc Lê Đức Thúy đưa ra trong buổi gặp mặt báo chí ngày 21/6 vừa qua.

    Theo ông Thúy, để kiểm soát chặt chẽ luồng vốn tín dụng đổ vào TTCK, đồng thời đảm bảo thị trường phát triển bền vững theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã thi hành một loạt biện pháp cảnh báo rủi ro về cho vay cầm cố. Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng vẫn chưa làm giảm được luồng vốn từ thị trường tiền tệ đổ vào chứng khoán, ngược lại còn gia tăng. Thống kê của NHNN cho thấy, so với cuối năm thì cho vay cầm cố chứng khoán chiếm 2,6% tổng dư nợ, nhưng đến tháng 5 vừa rồi chỉ giảm 0,1% xuống còn 2,5%. Do vậy, dưới góc độ là cơ quan quản lý, NHNN cảm thấy vẫn còn nhiều rủi ro.

    Tuy nhiên, lý giải trước những con số dư nợ này, Phó tổng giám đốc một ngân hàng cổ phần tại TP. HCM cho rằng, dư nợ của nhiều ngân hàng đối với cho vay cầm cố tăng dần trong những tháng đầu năm và chắc chắn đã vượt ngưỡng 3% theo quy định trong Chỉ thị 03 của NHNN, nhưng các ngân hàng vẫn đảm bảo được việc thu hồi nợ và hạn chế tối đa rủi ro. Mặt khác, vay cầm cố là một dịch vụ tín dụng đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển và còn hứa hẹn rất nhiều tiềm năng khi TTCK Việt Nam đang dần đi đến ổn định, bền vững. Như thế, mức dư nợ cho vay cầm cố chiếm 2,6% trên tổng dư nợ của toàn hệ thống ngân hàng chưa cần phải dùng đến biện pháp khống chế mức trần 3%.

    "Thay vì khống chế mức trần, NHNN nên đưa ra biện pháp kiểm soát chặt chẽ đối với các ngân hàng cổ phần trong cho vay cầm cố thì tốt hơn. Nếu áp dụng mức khống chế trên, luồng tiền từ TTCK sẽ dội trở lại thị trường tiền tệ. Trong khi đó, so với việc huy động vốn, hiện các ngân hàng còn gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút khách hàng tới vay, đó là chưa kể đến vấn đề NHNN vừa tạo thêm gánh nặng cho ngân hàng khi tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 10%, thay vì chỉ có 5% như trước", vị Phó tổng giám đốc trên nói.

    Một thông tin được Thống đốc Lê Đức Thúy đưa ra trong cuộc trả lời phỏng vấn vừa qua đã gây ra phản ứng từ nhiều phía, đó là hầu hết các nước không cho vay cầm cố chứng khoán để đầu tư chứng khoán. Trao đổi với ĐTCK về vấn đề này, cán bộ cấp cao của một quỹ đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam cho rằng, hiện các nước trên thế giới xem việc cầm cố cổ phiếu để lấy vốn tái đầu tư là chuyện bình thường. Các ngân hàng và kể cả người đi vay vốn luôn xem dịch vụ vay cầm cố là một sản phẩm tín dụng giống như các loại hình tín dụng khác.

    Còn theo giám đốc một ngân hàng, so với các nước trên thế giới thì TTCK Việt Nam vẫn còn non trẻ, việc cầm cố cổ phiếu cũng mới được hình thành và còn ở giai đoạn khởi đầu. Chính vì vậy, các ngân hàng trong nước chưa chuyên nghiệp trong cho vay cầm cố. Còn ở các nước trên thế giới, dịch vụ cho vay cầm cố cổ phiếu hiện đã đạt tới mức chuyên nghiệp và được xem như một loại hình tín dụng bình thường.

    Theo quy định tại Chỉ thị 03, ngoài việc khống chế dư nợ vốn cho vay chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư, kinh doanh chứng khoán ở mức dưới 3% tổng dư nợ, NHNN còn yêu cầu các ngân hàng cổ phần kiểm soát chặt việc nhà đầu tư đến vay vốn bảo đảm bằng tài sản khác để lấy vốn kinh doanh cổ phiếu. Nhưng Thống đốc NHNN lại cho rằng, NHNN cấm việc cho vay vượt quá tỷ lệ cho phép bằng cầm cố cổ phiếu đầu tư kinh doanh chứng khoán. Còn nếu nhà đầu tư mua chứng khoán nhưng đảm bảo bằng tài sản hoặc chữ tín thì NHNN không cấm. Riêng hoạt động cho cán bộ công nhân viên vay tiền mua cổ phiếu thì ngân hàng tự tính rủi ro. Thông tin này này đã làm không ít ngân hàng thắc mắc, vì hoàn toàn trái ngược với nội dung của Chỉ thị 03. Theo tổng giám đốc một ngân hàng, nếu được thực hiện như lời Thống đốc NHNN đưa ra thì sẽ rất tích cực cho cả thị trường tiền tệ và TTCK. Hay nói cách khác là tính thanh khoản của cổ phiếu sẽ được nâng cao. Tuy nhiên, để hiểu rõ về những quy định của Chỉ thị 03, các ngân hàng đang trông chờ văn bản hướng dẫn cụ thể của NHNN.



    Vân Linh
  2. 4focus

    4focus Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    20/06/2007
    Đã được thích:
    0
    SÀI GÒN ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH
    ?oSóng thần? 03 tiếp tục lan tỏa
    SGGP:: Cập nhật ngày 22/06/2007 lúc 09:22''(GMT+7)
    Liên tiếp 2 số báo gần đây, ĐTTC đã đề cập ảnh hưởng của Chỉ thị 03 về khống chế dư nợ cho vay kinh doanh chứng khoán (CK). Điều này đã thực sự trở thành cơn ?osóng thần? làm chao đảo thị trường và tác động khá rõ nét đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng (NH) thương mại.

    ?oĐóng cửa? cho vay kinh doanh CK

    Nhà đầu tư đau đầu với giá cổ phiếu. Ảnh: Cao Thăng

    Do dư nợ cho vay kinh doanh CK chiếm 10% tổng dư nợ (TDN) nên khi có quy định khống chế dư nợ dưới 3%, OCB đã chỉ đạo ngay các chi nhánh rà soát lại các hợp đồng vay vốn kinh doanh CK đến hạn thu hồi nợ, không cho gia hạn và không tái cho vay để kinh doanh CK. Nay OCB cho vay cầm cố CK để thực hiện các mục đích khác và NH này đã giảm 100 tỷ đồng dư nợ từ cho vay kinh doanh CK.

    Ông Lâm Hữu Hạnh, Phó Tổng giám đốc OCB, cho biết thời hạn thu nợ đến đâu thì NH thực hiện đến đó chứ không thể phá vỡ hợp đồng vay, thu nợ trước hạn với khách hàng để thực hiện đúng tiến độ theo quy định của NHNN.

    Việc thu hồi nợ đến hạn và không cho gia hạn nợ làm không ít khách hàng phải bán CK và rút bớt vốn từ sản xuất kinh doanh để trả nợ NH. Ngay cả việc xử lý nợ cũng phải có thời gian vì CK đang rớt giá, không dễ gì nhà đầu tư bán được. Vì vậy, có thể gần đến cả năm, NH mới có thể thực hiện đúng theo quy định của Chỉ thị 03.

    Là một trong những NH đầu tiên triển khai cho vay kinh doanh CK, đến nay ACB cho vay vượt mức quy định của NHNN khoảng 1-2% TDN. Đây không phải là mức khó khi xử lý nhưng NH này cũng đã tiến hành các biện pháp quản lý chặt chẽ. Với những món cho vay đã cam kết trước, ACB vẫn giải ngân và thu nợ các hợp đồng tín dụng cũ lúc đến hạn nhưng NH hạn chế cho vay mới và kiểm tra kỹ mục đích khi cho vay cầm cố bằng CK.

    Trước đây, Sacombank cho vay kinh doanh CK chiếm 4% TDN nên việc xử lý theo Chỉ thị 03 cũng khá nhanh. Đến thời điểm này TDN của Sacombank đạt 20.000 tỷ đồng, trong đó cho vay kinh doanh CK đạt 600 tỷ đồng, chiếm 3% TDN. Hiện Sacombank đã chính thức ngưng cho vay kinh doanh CK.

    Bà Phan Bích Vân, Tổng giám đốc Sacombank, cho biết sở dĩ Sacombank xử lý nhanh là vì NH cho vay thời hạn chỉ 2 tháng và luôn có hạn mức cụ thể để bảo đảm an toàn. Trước đó Sacombank cũng đã có dự đoán việc NHNN Việt Nam siết chặt tỷ lệ này nên việc xử lý khá chủ động. Các NH khác như VIB Bank, VPbank? cũng đang gấp rút thu hồi nợ và ngưng cho vay. Eximbank cho vay kinh doanh CK chiếm 2,7% TDN nhưng vẫn tuyên bố dừng cho vay.

    Phần lớn các NH cho biết sẽ thực hiện Chỉ thị 03 nhưng nếu phá vỡ hợp đồng dân sự giữa NH với khách hàng để thu nợ trước hạn, NH sẽ có nguy cơ bị người vay kiện. Vì vậy giảm tỷ lệ dư nợ cho vay kinh doanh CK xuống 3% là sức ép lớn cho các NH hiện nay.

    Chuyển hướng kinh doanh
    Theo ông Phạm Linh, Giám đốc kinh doanh VIB Bank TPHCM, hiện nay các NH cho vay vượt tỷ lệ khống chế 3% khá nhiều. Việc đáo hạn và không tiếp tục cho vay đang gây một áp lực bán CP dữ dội cho các nhà đầu tư vì những người kinh doanh CK đa phần đều vay tiền để kinh doanh.

    Thực tế cho thấy lượng cung tiền tệ cho TTCK càng giảm thì áp lực bán CP càng lớn. ?oChỉ thị 03 đưa ra nhưng không có số liệu thống kê rủi ro đối với nhà đầu tư và việc xác định mức 3% sẽ có tác động như thế nào đến nền kinh tế. Trong khi tham gia TTCK với tư cách là người cấp vốn, các NH đánh giá rủi ro rất tốt, CK được các NH sàng lọc và cho vay thường bảo đảm an toàn?? ?" ông Linh nói.

    Việc hạn chế cho vay CK buộc các NH thắt chặt hầu bao tín dụng không những có nguy cơ khách hàng quay lưng với hoạt động NH mà còn ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh và lợi nhuận của các NH. Hiện nay nhiều NH đã rút nguồn vốn từ cho vay kinh doanh CK để chuyển sang cho vay vào lĩnh vực khác như xuất nhập khẩu, sản xuất kinh doanh, bất động sản, tín dụng tiêu dùng, mua ô tô?

    Theo bà Phan Bích Vân, thay vì khống chế tỷ lệ dư nợ, NHNN nên khống chế tỷ lệ trích lập dự phòng đối với khoản dư nợ cho vay CK thì khả thi hơn. Ông Nguyễn Lê Nam, bộ phận cho vay có thế chấp của ACB, cho biết sẽ gửi công văn xin ý kiến của NHNN có hướng dẫn lộ trình cụ thể để thực hiện Chỉ thị 03 nhằm hạn chế khó khăn cho khách hàng và ảnh hưởng đến quan hệ giữa NH và khách hàng.

    Theo ông Nam, ACB triển khai cho vay kinh doanh CK từ năm 2002 đến nay nhưng chưa xảy ra tình trạng nợ quá hạn. Việc này xuất phát từ việc ACB có hệ thống quản lý rủi ro chặt chẽ trong lĩnh vực này.

    Nhà đầu tư bất an
    Ông Nguyễn Quốc Hương, Phó tổng giám đốc Eximbank, cho rằng việc đưa một biện pháp hành chính can thiệp vào nền kinh tế là không nên. Nhà đầu tư rất ngại môi trường kinh doanh mà họ không thể ngờ trước rủi ro có thể xảy ra do sự can thiệp bằng biện pháp hành chính.

    Thời gian gần đây, các chính sách liên quan đến TTCK tác động rất lớn đến tâm lý của nhà đầu tư, ngoài UBCKNN quản lý và giám sát TTCK còn có NHNN và cả cơ quan thuế cũng thể hiện vai trò can thiệp vào TTCK. Nhà đầu tư cảm thấy khi họ kiếm được lời thì các cơ quan quản lý nhảy vào can thiệp, siết lại trong khi lúc bị rủi ro thì không ai tính đến.

    Ông Hồ Hữu Hạnh, Phó Giám đốc thường trực NHNN chi nhánh TPHCM, cho biết NHNN chi nhánh TPHCM sẽ kiểm tra việc thực hiện theo Chỉ thị 03, nếu NH nào không chấp hành và không đạt yêu cầu thì NHNN sẽ cảnh báo và có biện pháp xử lý. Nếu gặp khó khăn trong quá trình thực hiện các NH có thể gửi văn bản kiến nghị NHNN để tìm ra các giải pháp tháo gỡ.

    Để rộng đường dư luận, PV báo ĐTTC đã có cuộc trao đổi với ông Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng vụ chiến lược NH ?"NHNN Việt Nam. Ông cho biết: Cách đây hơn một năm, NHNN Việt Nam đã dự định sẽ gây áp lực hạn chế các NH thương mại Việt Nam cho vay kinh doanh CK. Sau khi cân nhắc, NHNN Việt Nam thấy rằng không nên cấm vì TTCK Việt Nam là một thị trường mới nổi nên chỉ cảnh báo các NH thương mại tự kiểm soát rủi ro, cho vay ít vào TTCK. Tuy nhiên, một số NH thương mại không quan tâm đến khuyến cáo của NHNN Việt Nam. Nhiều NH đẩy mạnh cho vay kinh doanh CK rất cao, dễ phát sinh mất an toàn tín dụng.

    Theo thanh tra toàn ngành NH của NHNN Việt Nam thì có đến 12 NH thương mại nhỏ cho vay vượt xa mức 3% đến hàng chục lần, dễ dẫn đến nguy cơ làm đổ bể NH và làm mất an toàn hệ thống. Chính vì vậy, NHNN Việt Nam buộc phải ban hành Chỉ thị 03. Chỉ thị này chủ yếu làm nền tảng cho NHNN Việt Nam kiểm soát được việc cho vay kinh doanh CK ở một số NH.

    Sắp tới, NHNN Việt Nam sẽ có hướng dẫn thực hiện chỉ thị đó, trong đó quy định lộ trình 9 tháng hoặc một năm để hỗ trợ các NH thương mại hiện đang cho vay kinh doanh CK ở mức cao giảm xuống tỷ lệ dư nợ cho vay 3% theo quy định của Chỉ thị 03. Tỷ lệ 3% này cũng có thể thay đổi nếu NHNN Việt Nam thấy cần thiết.

    Hiện nay ở một số nước như Ấn Độ quy định tỷ lệ cho vay kinh doanh CK không quá 5% và ở hầu hết các nước khác, các NH thương mại tự khống chế tỷ lệ đó phù hợp khả năng quản trị rủi ro của từng NH.

    Mai Thảo
  3. kiemtientuCK

    kiemtientuCK Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    23/06/2007
    Đã được thích:
    138
    Gửi bạn Mitanomini,

    + Tôi thấy bạn có quan điểm rất ủng hộ Ông Thuý 03, ko biết là bạn có quan hệ gì với 03 ko ? chứ theo tôi (chỉ là 1 nhà đầu tư nhỏ lẻ mà thôi thì thấy rằng Ông Thuý 03 có lẽ không đủ khả năng để ở vào cương vị quan trọng của đất nước như vậy trong thời kỳ mới này vì những lý do mà người dân như tôi có thể nhìn nhận được :
    - Ở vị trí như vậy, cần phải có tầm nhìn dài hạn và đi trước thị trường để định hướng thị trường chứ ko phải chạy theo nhìn thị trường diễn biễn ra sao rồi mới bốc thuốc dựa vào kiểu : nghe người bạn nói ở NN người ta ko cho vay cầm cố CK để đầu tư vào CK (thực ra cac nước người ta vấn làm cả chứ ko phải như người ta kể cho Ông Thuý 03 đâu !!!). Chủ trương này là đúng nhưng nên được đưa ra từ năm 2003 chứ ko phải đến bây giờ mới chữa cháy bằng cách khi "thấy tỷ lệ mới giảm từ 2.6% xuống 2.5% " vẫn chưa đủ đô thì lại thêm một liều nữa là CT 03, hơn nữa lại đưa ra vào thời điểm thị trường đang thiếu lạc quan thay vì nên đưa ra ngay vào hồi thang 1 hoặc 2, 3 ngay sau khi TT có chỉ thị. Một chỉ thị như vậy mà cần đến 5 tháng để đưa ra, nhưng khi đưa ra thì vẫn thiếu giải thích cặn kẽ.... Điêu này chứng tỏ tầm nhìn và cách điều hành ko đạt yêu cầu...
    - Chuyện quản lý luồng tiền của ĐTNN cũng vậy, Ông Thuý 03 cũng không nhận biết được trước mà chỉ đến khi ĐTNN vào nhiều quá, mới bắt đầu lao vào tìm cách quản lý giám sát luồng tiền này. ..
    - ...Còn rất nhiều thứ nữa : đơn cử như việc thiếu tiền lẻ của dân chúng kêu la đã 2 năm nay những đến giờ vẫn thiếu, và vẫn chưa được giải quyết triệt để. Chất lượng tiền xu làm ko đảm bảo, và thực tế người dân ko muốn dùng tiền xu vì ko có nhiều tiện ích đi cùng thì lại làm quá sớm....

    Rất mong bác PM tìm được người có đủ Đức và Tài để thay thế vị trí này sớm, để đưa đất nước đi lên nhanh chóng và vững chắc.
  4. mitanomini

    mitanomini Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    24/02/2006
    Đã được thích:
    0
    Cám ơn những lời chân thành của bạn. Tôi cũng là một người mua chứng khoán cá nhân nhưng khác với bạn là tôi coi chứng khoán là một cách để đa dạng tài sản của tôi (giống như đất, vàng bạc, tiền mặt ... mỗi thứ giữ một ít để tránh rủi ro). Dù vậy tôi cũng ko tránh khỏi những cái bực mình mà cơn sốt chứng khoán vừa rồi đem lại (người thân tôi lao đầu vào chơi chứng khoán, mọi ngưòi hỏi vay tiền, ko cho vay thì thương mà cho vay thì nhìn chắc là ko biét đến bao giờ mới đòi được nợ, tôi can ngăn mọi người thì bị nhìn với con mắt ghẻ lạnh, gia đình bất hoà ... tóm lại là đủ thứ bà rằn nên cuối cùng cũng phải thoả hiệp một phần), nên có lẽ tôi cũng hiểu được xót xa của người chơi chứng khoán như bạn khi thị trường đi xuống.
    Tôi cũng ko phải nhân viên ngân hàng nhà nước (NHNN), cũng chẳng phải người thân của Thống đốc. Duy có một điều tôi nghĩ rằng tôi biết những người là tác giả của Chỉ thị 03, và nếu đúng là những người đó là tác giả thì tôi càng tin tưởng hơn vì tôi đã từng được tiếp xúc với họ, được biết rằng các chuyên gia nước ngoài đánh giá rất cao năng lực chuyên môn của họ. (Còn ông Thuý chỉ là người ký quyết định, nhưng cái dũng cảm và giỏi của ông Thuý cũng như Thống đốc Cao Sỹ Kiêm trước đây ko phải là chuyên môn mà là dám lắng nghe ý kiến mới và dám làm khi tin rằng những ý kiến đấy là đúng).
    Tôi cũng ko phải là một người chuyên về tiền tệ - tài chính, nhưng công việc của tôi có những liên quan đến các lĩnh vực đó nên đòi hỏi tôi phải biết thêm (nói chung cũng vì miếng cơm manh áo cả thôi), cũng biết thêm cả một ít về hệ thống ngân hàng của Mỹ, Nhật và Đức. Trong phạm vi hiểu biết của tôi, khi đặt lên so sánh giữa những lập luận của NHNN và những ý kiến phản đối, thì tôi thấy lập luận của NHNN chưa phải là thuyết phục hoàn toàn nhưng là hợp lý. Ngược lại, những ý kiến phản đối phần nhiều là chưa hợp lý và chưa chính xác.
    Nếu theo dõi hoạt động của NHNN trong vòng 5 năm gần đây, thì có thể khẳng định rằng các chính sách tiền tệ của NHNN về cơ bản là góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, luôn tạo ra một môi trường rất tốt để thúc đẩy tính tự chủ của các NHTM, loại bỏ dần cơ chế quản lý hành chính là tàn dư của thời kỳ trước. Một ví dụ điển hình là âm mưu của 1 số người ở Vụ QLNH định nhân danh lý do vớ vẩn về đô la hoá để áp đặt chế độ chuyển đổi ngoại tệ bắt buộc như những năm 1990 (nhằm quay lại chế độ xin cho giấy phép chuyển đổi ngoại tệ mà Vụ này đã kiếm bẫm trước đây) đã bị bác bỏ, nhờ đó mà dòng kiều hối và vốn FDI được khơi thông từ năm 2002 ko ngừng tăng trưởng.
    Cuối cùng, theo tôi được biết thì ở Nhật, Mỹ và Đức, quyền lực và sự can thiệp của NHTW còn kinh khủng hơn nhiều, và việc cho cá nhân vay để kinh doanh chứng khoán hầu hết bị cấm. Còn nếu ko có văn bản cụ thể ghi rằng cấm như vậy thì trên thực tế việc cho vay để kinh doanh chứng khoán được coi là một tiền lệ rất xấu trong kinh doanh ngân hàng và director của các ngân hàng có các dịch vụ cho vay này rất dễ bị NHTW sờ gáy, kiếm chuyện để buộc từ chức. (Tất nhiên, với những tổ chức tài chính ko nhân tiền gửi (deposit) của dân cư (như cty tài chính hay các cty cho vay nóng chẳng hạn) thì cho vay chứng khoán là một nghiệp vụ bình thường. Có lẽ các ý kiên ở VN phản đối chỉ thị 03 nhầm lẫn giữa những hoạt động cho vay của các tổ chức này với hoạt động cho vay của ngân hàng chăng?)
    Tất nhiên NHNN còn phải làm nhiều để tiếp tục cải tổ, cá nhân ông Thuý thì phải chịu trách nhiệm về vụ phân nhà, vụ nhập nhèm in tiền, nhưng thiết nghĩ cái gì là đúng đắn và cần thiết thì ko nên bị đánh lộn sòng.
  5. lazy2008

    lazy2008 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    26/04/2007
    Đã được thích:
    6
    Ngày 30/06/2007, 12:09
    Cảnh báo nguy cơ lạm phát


    Giá cả hàng hóa tiêu dùng liên tục ?osốt? nóng trong 6 tháng đầu năm là tác động dây chuyền của việc tăng giá hàng loạt các vật tư đầu vào của sản xuất như điện, than, xăng dầu? Ngày 29-6, Bộ Thương mại đã có cuộc họp phân tích kỹ nguyên nhân tăng giá và đề xuất các giải pháp với Chính phủ.


    ?oSốt? giá: tác động dây chuyền từ giá điện, xăng dầu...



    Chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm đã tăng với tốc độ ?ophi mã?: 5,2% so với tháng 12-2006, cao hơn nhiều so với mức tăng 4% của cùng kỳ năm 2006. Theo ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý Giá (Bộ Tài chính), đặc trưng của chỉ số tăng giá tiêu dùng trong 6 tháng đầu năm 2007 là chỉ số giá của hầu hết các nhóm hàng đều có tốc độ cao hơn cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm hàng có chỉ số tăng giá cao nhất là nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống: tăng 6,8%, nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,24%...



    Loại trừ các yếu tố tâm lý, yếu tố lợi dụng sự biến động của thị trường để tăng giá bất hợp lý (nhân tố không lượng hóa được), vẫn theo ông Nguyễn Tiến Thỏa có 3 nhóm nhân tố cơ bản tác động đến giá thị trường trong nước. Trong đó, trên thị trường thế giới, nhu cầu nguyên nhiên liệu đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế và nhu cầu hàng hóa tiêu dùng tăng cao nay giá tăng lên, làm cho giá những loại hàng hóa nước ta phải nhập khẩu với khối lượng lớn, mặt hàng xuất khẩu chủ lực tăng cao kéo giá trong nước tăng.



    So với cùng kỳ năm 2006, giá các loại hàng hóa nhập khẩu như: thép tăng 15%, phôi thép tăng 24,1%, phân bón urea: trên 7%, chất dẻo nguyên liệu: trên 12%... Trong khi đó, giá các mặt hàng xuất khẩu cũng tăng: gạo tăng 16,5%, cà phê tăng 27%, hạt tiêu: trên 90 %... Nhưng quan trọng hơn, từ đầu năm đến nay, Nhà nước đã thực hiện lộ trình giá thị trường đối với một số loại vật tư đầu vào cơ bản của nền kinh tế: điều chỉnh tăng giá bán điện bình quân lên 7,6%; tăng giá bán xăng 2 lần: tháng 3 tăng 8,9%, tháng 5 tăng 7,2%; giá bán than cũng tăng tới 20%... Những yếu tố này đã tác động ?odây chuyền? đến chỉ số giá tiêu dùng trong 6 tháng qua.



    Chất lượng tăng trưởng ?ocó vấn đề?



    Dự báo của Tổ Điều hành thị trường trong nước cũng cho thấy, trong tháng 7, do ảnh hưởng của nhiều nhân tố như dịch bệnh, nhu cầu xuất khẩu tăng? sẽ khó có thể kiềm chế tốc độ tăng ?ophi mã? của giá tiêu dùng. Đáng lo ngại nhất là nhóm hàng lương thực, thực phẩm. Theo dự báo trong 6 tháng cuối năm 2007, tình hình thời tiết sâu bệnh còn diễn biến phức tạp, chi phí đầu vào tiếp tục tăng, nhất là giá gạo thế giới còn ở mức cao sẽ là yếu tố hỗ trợ giá gạo trong nước và xuất khẩu của Việt Nam. Vì vậy, giá lương thực chỉ giảm nhẹ trong những ngày đầu tháng 7 sau đó sẽ tăng dần vào cuối năm.



    Trao đổi về vấn đề này, Bộ trưởng Trương Đình Tuyển cho rằng, giá hàng hóa đang tăng rất mạnh, rõ ràng phải hết sức lưu ý đến nguy cơ lạm phát. Trong 6 tháng đầu năm, chỉ số giá tiêu dùng đã tăng 5,2%. Chúng ta muốn giữ tốc độ tăng giá thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP, tức là chỉ số giá cả năm không vượt quá 8% nếu năm nay GDP tăng 8,5%. Nhưng với tốc độ tăng giá như hiện nay, dự báo chỉ số giá tăng 6% là không thực tế. Đối với nước mà chất lượng tăng trưởng còn có vấn đề như nước ta thì độ chênh giữa tốc độ tăng giá và GDP khó mà đạt 2%-3%, mà chỉ đạt 1%-1,5% là tốt . Như vậy, từ giờ đến cuối năm chỉ số giá chỉ tăng 2,8% nữa thôi.



    Về lý thuyết thì có thể đạt được nếu mỗi tháng chỉ số giá chỉ tăng 0,45%. ?oNhưng để đạt mức tăng này chúng ta cần thực hiện một số giải pháp quan trọng, không chỉ trên tổng cung, tổng cầu hàng hóa mà còn xem xét đến chính sách tiền tệ, cụ thể là hạn mức tín dụng. Nếu hạn mức tín dụng của chúng ta lớn quá thì sẽ kích thích nhu cầu tiêu thụ, gây ra hiệu ứng tăng giá; cho nên phải khống chế: khi giá tăng lên thì phải xiết chặt lại hạn mức tín dụng để đảm bảo tính tổng thể? ?" Bộ trưởng phân tích.



    Theo đánh giá của Tổ Điều hành thị trường trong nước, tốc độ tăng giá cao liên tục qua các năm đã phản ánh sự chậm trễ trong đổi mới công nghệ của sản xuất và kinh doanh, chất lượng phát triển kinh tế có nhiều vấn đề cần được mổ xẻ, trong đó có vấn đề quy hoạch và đầu tư phát triển nhiều ngành nghề, nhất là các ngành kinh tế trọng điểm của đất nước. Công tác rà soát và quản lý chặt các yếu tố giá thành chưa được coi trọng, hiệu quả kinh tế của các suất đầu tư chưa được xem xét thấu đáo nên giá thành sản phẩm luôn ở mức cao, hạn chế năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam ngay chính trên thị trường trong nước.



    Theo SGGP
  6. nam99

    nam99 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    11/12/2002
    Đã được thích:
    0
    Bác không phải nhân viên NHNN thì đúng rồi. Nếu là nhân viên/chuyên viên thì vào đây cãi hộ thắng dở hơi Thuý làm gì. Bác cũng phải cỡ Vụ phó trở lên, chịu trách nhiệm soạn thảo và trình cái đống **** đấy.
  7. Smilingmind

    Smilingmind Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    29/03/2007
    Đã được thích:
    0
    Xin được hỏi Thống đốc!
    Sau 1 tháng kể từ khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Chỉ thị 03/2007/CT-NHNN khống chế dư nợ cho vay kinh doanh chứng khoán (CK) dưới 3% tổng dư nợ của các ngân hàng thương mại, dư luận vẫn không ngớt lời phản ứng về chủ trương này.

    Thậm chí đã có người cho rằng, đây là nguyên nhân chính làm TTCK trở nên ảm đạm. Nhiều tờ báo đã đồng loạt lên tiếng với những hàng tít ấn tượng như ?oSóng thần 03?, ?oCho vay đầu tư chứng khoán sẽ bị khựng lại?? và cuối cùng, Thống đốc NHNN đã có cuộc trả lời báo giới về những điều dư luận nêu ra. Thống đốc đã đưa ra nhiều lý lẽ để giải thích cho quan điểm khống chế cho vay đầu tư chứng khoán, nhưng với thị trường, lý lẽ này lại chưa đủ thuyết phục.

    Có lẽ, trước hết chúng ta cần nhìn nhận chủ trương khống chế dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán với ý nghĩa tích cực, nhằm bảo đảm hoạt động kinh doanh của các ngân hàng được an toàn, tránh tình trạng rủi ro gây đổ vỡ cho toàn hệ thống. Cần phải nhìn nhận theo góc độ vĩ mô như thế để tránh sa đà vào các bức xúc tạo ra dư luận thái quá, nghiêng hẳn về phía nhà đầu tư. Các ý kiến của nhà đầu tư A, B nào đó cần phải được đặt trong quyền lợi của toàn hệ thống, theo nghĩa nó không làm làm ảnh hưởng đến điều hành kinh tế vĩ mô.

    Nhưng ngay cả khi đặt trong quyền lợi của toàn hệ thống như vậy thì các bước đi và lý giải của Thống đốc về chủ trương khống chế dư nợ cho vay chứng khoán áp dụng chung đồng loạt cho các ngân hàng cũng chưa thuyết phục được thị trường.

    Ngoài việc áp dụng đại trà, đồng loạt, mà không phân biệt theo chất lượng hoạt động của từng ngân hàng đã bị dư luận phản ứng, thì cái không thuyết phục đầu tiên là năng lực hoạch định và điều hành chính sách còn quá yếu, nếu không muốn nói là đầy cảm tính. Trả lời báo giới về chủ trương khống chế dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán, lý do đầu tiên mà Thống đốc đưa ra là để ?othực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng?. Vậy xin hỏi, nếu Bộ trưởng nào cũng lấy Thủ tướng ra làm viện dẫn cho các chính sách của mình thì còn gì phản biện, tranh luận và giải thích cho người dân thông?
    Thực ra, chỉ đạo mang tính cảnh báo của Thủ tướng là có thể đúng cho bất kỳ thời điểm nào và chỉ đạo này là vô cùng cần thiết trong giai đoạn nhạy cảm hiện nay. Nhưng chính là vì đang trong giai đoạn nhạy cảm, nên cần được hiểu thiên về một định hướng chứ không phải là một mệnh lệnh, cụ thể, điều quan trọng là chính NHNN phải phân định rằng, đã đến lúc cần áp dụng liều thuốc mạnh hay chưa. Tại sao NHNN không đưa ra liều thuốc thử thăm dò dư luận trước khi đưa ra quyết định chính thức?

    Để thuyết phục dư luận, NHNN nên công bố chính thức các số liệu và khảo sát để chứng minh cho giải pháp mạnh tay của mình. Cần lưu ý, trước khi áp dụng bất kỳ biện pháp nào, kể cả các biện pháp kinh tế, NHTW các nước đều thuyết phục thị trường bằng cách đưa ra các chỉ số kinh tế để người dân tin rằng, các biện pháp mà NHTW thực hiện đang hướng về một ?okỳ vọng hợp lý?. Vậy cái ?okỳ vọng hợp lý? mà NHNN hướng đến khi ban hành quy định khống chế cho vay đầu tư chứng khoán là gì: TTCK phát triển quá nóng, đầy rủi ro hay hệ thống ngân hàng đang trong tình trạng quá nguy hiểm? Dòng vốn đang đổ vào nền kinh tế quá nhiều, cần phải hạn chế bớt để làm giảm áp lực lên lạm phát hay vì một lý do nào khác? Cho đến lúc này, giới quan sát vẫn chưa nhận được câu trả lời thuyết phục.

    Thống đốc NHNN cũng trích lời từ một chuyên gia nào đó (?) cho rằng, hầu hết các nước không cho vay cầm cố CK để đầu tư CK và rằng, Việt Nam gần như là một nước duy nhất mà ngân hàng lại cho cầm cố CK để vay tiền đi đầu tư CK. Lại một lần nữa, sau khi viện dẫn chỉ đạo của Thủ tướng, Thống đốc viện dẫn ý kiến từ một chuyên gia!

    Thực ra, đây chỉ đơn thuần là một khuyến cáo không chính thức của một tổ chức hoặc cá nhân, chứ không phải là một vấn đề mang tính nguyên lý trong kinh doanh nói chung và kinh doanh ngân hàng nói riêng. Không thể cho rằng, tất cả các nước trên thế giới ngoài Việt Nam đều không cho vay đầu tư CK. Trong hoạt động kinh doanh, các ngân hàng có quyền tính toán, cân đối hợp lý từng danh mục đầu tư cụ thể để vừa đạt hiệu quả kinh doanh vừa bảo đảm an toàn, trong đó cho vay đầu tư cũng là một trong những danh mục kinh doanh của các ngân hàng. Không thể vịn vào ý kiến của một ai đó làm nền cho giải pháp, mà thiếu đi quan điểm riêng và chứng cứ thuyết phục của chính NHNN.

    Một quan điểm khác từ lãnh đạo NHNN cho rằng, việc khống chế dư nợ cho vay là để tránh tình trạng tay ?okhông bắt giặc?, tuy không nói thẳng ra, nhưng từ trong tư duy chính sách thì các vị này cho rằng, có tiền thì mới chơi, không tiền thì đừng chơi CK. Tư duy này đi ngược lại hoàn toàn với sự phát triển vượt bậc của các sản phẩm trên thị trường tài chính hiện nay. Thậm chí, thị trường đã phát kiến đến những giao dịch theo kiểu nhà đầu tư có thể bán cái mà mình không có, huống hồ là vay nợ để đầu tư CK. Chẳng hạn, nhà đầu tư có thể thực hiện các giao dịch bán khống hay việc sử dụng các sản phẩm như quyền chọn (option) hay giao sau (future) để đặt ra lệnh ?obán trước? các CK mà hiện giờ tuy mình chưa có, nhưng thị trường (người khác) đang dư thừa. Chính vì cho phép ?obán cái mà mình không có nhưng thị trường có? nên TTCK ở các nước lúc nào cũng nhộn nhịp người mua kẻ bán và phát triển vượt bậc như ngày hôm nay. Chẳng phải NHNN trước đây đã cho phép một số ngân hàng thương mại như Eximbank, ACB, Sacombank? thực hiện giao dịch option trên tiền đồng, ngoại tệ và vàng đó hay sao.

    Nếu thật sự hàm ý bên trong của NHNN khi đưa ra khống chế dư nợ cho vay kinh doanh CK là để không muốn thấy tình trạng các nhà đầu tư ?otay không bắt giặc? thì phải còn rất lâu nữa TTCK Việt Nam mới trở thành một ngôi sao sáng như dự báo của các tổ chức quốc tế. Còn nếu nói chung, tức là không phiến diện khi quy cho tất cả các chính sách đều phải hướng đến sự phát triển của TTCK như dư luận chờ đợi, thì tư duy như cách xây dựng Chỉ thị 03 chắc chắn cũng tác động ít nhiều đến nền kinh tế nói chung, do dòng vốn bị hãm lại đối với nhà đầu tư và xa hơn là đối với chính các DN muốn huy động vốn trên TTCK. Phải nói rõ như thế, vì khi tranh luận về Chỉ thị 03 chúng ta hầu như chỉ hướng về TTCK, trong khi tác động lan tỏa của nó còn truyền dẫn sang lĩnh vực của chính sách kinh tế vĩ mô.

    Dùng chính sách tiền tệ hay hạn chế tiền tệ để kiểm soát lượng cung ứng tiền trên thị trường thì không có gì phải bàn cãi. Cái thiếu chính là cơ sở của nó và cách trả lời của Thống đốc. Đó mới là điều đáng nói.



    PGS.TS Trần Ngọc Thơ, Trường đại học Kinh tế TP. HCM
    ___________________________
    TS Trần Ngọc Thơ ơi, nói với mấy tay cạo bàn giấy , phòng máy lạnh với mớ lý thuyết xuông chỉ chăm chăm đi chọc gậy thị trường làm gì. Thủ tướng cũng chẳng dung mấy ông này đâu. Làm phách lại đi dựa bóng Thủ tướng.Chắc bác Dũng cũng cay mũi.
    Cứ cung cách người xây, kẻ phá, TTCK VN lại về cái máng lợn rồi.
    Bỏ thị trường chứng khoán thôi bà con(để nó giãy chết ở 900, bà con hãy trở lại cho nó lành)

    Được khoaita sửa chữa / chuyển vào 16:39 ngày 29/06/2007

    Phản hồi của độc giả về bài viết này: PNT
    anhky - - anhkyho@yahô.com.vn Tôi đồng ý với ý kiến của thầy Thơ. Tôi không bị ảnh hưởng bởi CT 03, không vay tiền chơi chứng khoán, nhưng tôi thấy CT 03 của NHNN thật sự không quan tâm đến lợi ích người đầu tư chứng khoán, một chính sách liên quan đến kinh tế, đến dân chứ không phải như gia đình được: nói khuyên bảo không nghe thì ráng chịu, Nhà nước không thể làm vậy được, nhà đầu tư vẫn phải được nhà nước bảo vệ chứ không thể bỏ mặc thế được. Tôi nghĩ Thủ tướng cũng không muốn thế. Không nói CT 03 là không có tích cực, rất cần lá khác, nhưng chính cách ban hành đột ngột và bất chấp ý kiến của những đối tượng bị tác động là không đúng tầm của một cơ quan quản lý "kim chỉ nam" như NHNN. Hệ thống NH, TTCK VN hiện nay chưa phải đang ở mức hay bên bờ vực khủng hoảng đâu mà phải can thiệp cấp bách? Nếu chỉ thị 03 có hiệu lực từ ngày 01/07/2008 thì chẳng ai than, mà còn ủng hộ vì đã được NHNN cảnh báo trước và rất trách nhiệm, nhưng ngày 01/07/2007 lại khác: NHNN bỏ mặc, bất chấp thiệt hại của nhà đầu tư, đôi khi có thể gây khủng hoảng cho nhà đầu tư vì phải chấp nhận lỗ, chấp nhận mất cái mà mình không đáng mất, đáng thiệt hại.Mất của ngay trước mặt, giữa ban ngày thì mới phát hiện: xung quanh mình chẳng có ai bảo vệ.

    Nguyen Truong - 279 Le Van sy - [email protected] Sao mọi người ai cũng nói ông thống đốc sai hết vậy.Chẳng lẻ CT03 là hoàn toàn vô ích, nó phải mang lại ích lợi nào đó chứ. Mà sao bữa giờ tìm hoài ko thấy ai nói về ích lợi của nó hết á, ai có quởn thì làm ơn chỉ ra vài điểm tích cực của CT này để Bờm tui học hỏi nhe. À mà sao cũng ko thấy ai đưa ra giải pháp nào hay hay thử coi, đánh giá 1 vấn đề đã xảy ra thì dễ quá...kết thúc Bờm tui cũng bắt chước ông thống đốc dẫn lời của 1 vị chiên da nào đó (quên mất tên rồi) là: khi tham gia TTCK chỉ cần nhớ 2 câu thơ này là được: KHÔN BA NĂM,DẠI MỘT GIỜ...THÀ DẠI BÂY GIỜ KHỎI CHỜ BA NĂM.

    Thanh Tùng - 54 Tạ Quang Bửu, Hai Bà Trưng - [email protected] Tôi cũng rất bất bình với cách giải thích của Thống đốc Thuý. Có thể do lo ngại TTCK Việt Nam đã phát triển quá nóng? Để rồi khi TTCK giảm như tháng 3/2007, các đồng chí mới tìm cách dỡ bỏ chỉ thị này hoặc tìm cách khác kích thích thì than ôi lợi nhuận đã chẩy hết vào túi các nhà đầu tư nước ngoài.

    Bảy - Công ty CP Xi Măng Bỉm Sơn - [email protected]. vn
    Tôi rất ghét kiểu trả lời của ngưòi đứng đầu như thống đốc ngân hàng Lê Đức Thúy. Bắt đầu lý giải rât nhiều vấn đề bằng câu: Đây là làm theo tinh thần của Thủ Tướng chính phủ. Nghe thế nào ấy?

    Trần Tuấn Anh - - [email protected] Bài viết rất hay . Đáng để các vị có trách nhiệm suy nghĩ. Không phải cứ ý kiến nào đó cũng là mệnh lệnh, nếu có phải có chỉ thị bằng văn bàn chứ. Vậy thử hỏi việc gì cũng viện dẫn ý TT, thế thì vai trò và trách nhiệm của Ô thống đốc để đâu. Ông là người hiểu sâu sắc vấn đề này nhất, có kiến thức sâu nhất, Ông phải có chính kiến của Ông chứ .

    Phạm Tường Phán - - [email protected] Tôi đồng tình với Tác giả bài viết. Thống đốc NHNN ban hành Chỉ thị 03 một cách cảm tính, thiếu cân nhắc cẩn trọng sự tác động của Chỉ thị này đến thị trường chứng khoán và thậm chí, đến Chương trình cổ phần hóa của Chính phủ. Chỉ thị 03 tại sao lại ra đời, dù chưa chính thức có hiệu lực, "đúng lúc" Bảo Việt chuẩn bị IPO (hạn cuối cùng nộp phiếu đấu giá Bảo Việt là 29/5, ngày đấu giá 31/5, trong khi ngày của Chỉ thị là 28/5). Đồng ý rằng NHNN cần độc lập trong điều hành Chính sách tiền tệ, tuy nhiên vẫn phải hướng tới mục tiêu chung của Chính Phủ, một trong những mục tiêu lớn của Chính phủ là đẩy nhanh và thực hiện thành công Chương trình cổ phần hóa các DNNN. Nhưng với sự ra đời của Chỉ thị 03, các nhà đầu tư đã bị đẩy vào thế tiến thoái lưỡng nan, và đã diễn ra cảnh bán quyền mua cổ phần trúng giá thậm chí với giá thấp hơn giá đấu thành công thấp nhất. Và nếu không có việc trả lời(dù là muộn) Báo chí ngày 21/6 của Thống đốc, liệu Bảo Việt có thể tự tin là không phải đấu giá lại. Và nếu Bảo Việt phải đấu giá lại, các nhà đầu tư sẽ hoang mang, thị trường chứng khoán sẽ phát triển ổn định như mục tiêu mà Thống đốc đề cập, và điều quan trọng hơn là Chương trình Cổ phần hóa của Chính Phủ có bị ảnh hưởng (gần đây Thủ tướng đã chỉ đạo UBCKNN cân nhắc lại thời điểm IPO của các doanh nghiệp lớn, là một minh chứng). Có thể nói Chỉ thị 03 được ban hành vào một thời điểm không hợp lý, khi mà thị trường chứng khoán đã qua giai đoạn sốt nóng, và đang trong giai đoạn điều chỉnh mạnh.

    Phạm Lãi - Hà Nội - Việt Nam - [email protected] Tôi thấy ý kiến PGS.TS Trần Ngọc Thơ thật xác đáng và thấy rất buồn về cách làm chính sách của NHNN. Có lẽ họ chưa lường hết được hiệu ứng dây chuyền của chỉ thị này.
    TTCK sụt giảm như vừa qua là do nhà đầu tư thiếu tin tưởng vào các nhà làm chính sách chứ không hẳn vì lo ngại nguồn cung lớn hơn cầu trong thời gian tới. Với cách làm chính sách như vậy vô hình chung đẩy các nhà đầu tư thành đầu cơ, đẩy các nhà đầu tư chuyên nghiệp có kiến thức bị động như phải lao vào cuộc đỏ đen bởi họ không hề biết sắp tới liệu có chính sách nào gây sốc thị trường nữa không?. Những nhà đầu tư có kinh nghiệm còn cảm thấy nản thì làm sao kết nạp thêm được những nhà đầu tư mới. Không kết nạp được thêm các nhà đầu tư mới liệu TTCK Việt Nam có thể lớn mạnh được không? Nếu các nhà đầu tư trong nước không mặn mà thì các nhà ĐTNN có còn mặn mà với TTCK của chúng ta nữa hay không và làm sao có thể huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư vào TTCK? Làm sao chương trình cổ phần hóa đối với các doanh nghiệp nhà nước có thể thực hiện đúng tiến độ được?...Các chương trình của chính phủ nếu không thực hiện đúng tiến độ thì bao giờ nước Việt Nam ta ?oHóa Rồng? ?

    Phan Hoàng Anh - Lê Thánh Tôn, Q.1, TP.HCM - [email protected] Tôi cũng đồng tình với GS về vấn đề trên. Là một thống đốc NH khi giải trình một vấn đề lại không đưa ra được một lời giải thích để thuyết phục nhà đầu tư.

    Huy An - 63/15/2 Dong Thanh - [email protected] Tôi rất đồng ý với các nhận định và phân tích của Giáo sư trong bài viết "Xin được hỏi ông Thống Đốc". Nhưng thú thật Chỉ thị 03 được xem như là biện pháp dùng Vũ lực về hành chánh, mà chưa ở đâu có cả, khi bất lực thì dùng vũ lực, khi bị chất vấn thì mới biết được trình độ ...

    thanh Binh - hoang quoc viet ha noi - [email protected] Tôi đồng tình với ý kiến của ông Giáo sư. Đứng trên quan đểm lãnh đạo tầm vĩ mô, khi thị trường chứng khoán đang nóng bỏng thì không thấy Chỉ thị 03 ra đời, đến khi thị trường nguội ngặt mọi người đang muốn vực dậy, vì nếu không vực dậy thì kế hoạch cổ phần hóa của Chính phủ sẽ gặp nhiều khó khăn, Nhà nước sẽ bị thua thiệt vì đấu giá thấp, có lợi cho các tổ chức nước ngoài.
    Chỉ thị 03 ra đời thật không đúng lúc, không đúng tầm của người lãnh đạo. Điều khiển kiểu này thì có lợi cho ai đây, xin ông Thống đốc ngân hàng hãy trả lời?

    http://www.tinnhanhchungkhoan.vn/tintuc.php?nid=1948
  8. wall

    wall Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    29/03/2001
    Đã được thích:
    174
    Hâm bỏ mịa, mục đích đầu tư chứng khoán được nêu trong Luật hẳn hoi nhé, LÀ HUY ĐỘNG VỐN NHÀN RỖI CHO TRUNG VÀ DÀI HẠN NHÁ...

    Các bác fản đối 03 là toàn bác ôm nhiều cổ phiếu. Chắc hô lùi lại độ 1, 2 năm để chờ đẩy cổ đi là lại mong nó giảm ngay thôi.

    Bác Thuý dù sao cũng là người dám ký cái CT03 là giỏi roài, bác Dũng em bảo ký đấy, đừng có tưởng bác Dũng bác Triết phản đối nhá, he he, CK cứ thu tiền từ Tây nhợn và Việt kiều là ngon roài, chứ thu hút từ mấy bác ngân hàng thì nhỡ...ngân hàng sập tiệm tiền em gửi ngân hàng cũng theo hút về nơi xa vắng à. Theo em cho vay cầm cố Cổ phiếu tầm 3% vẫn cao, nên là 2% thoai.
  9. lazy2008

    lazy2008 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    26/04/2007
    Đã được thích:
    6
    BÁc thúy hâm bỏ mịa lẽ ra phải không chế cho vay từ lâu rồi đến giờ mới làm. làm là tốt rồi còn hơn ko làm!
    mịa ông chọn đúng lúc mình mua CP ông tuyên bố thế mới đau
  10. KHOAITA

    KHOAITA Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    05/05/2007
    Đã được thích:
    0

Chia sẻ trang này