1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

CK đi, bất động sản sắp đi.Ngân hàng chẩn bị sập .có link

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by hastc1500, May 22, 2011.

Có 30418 người đang online, trong đó có 69 thành viên. 14:46 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 0 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 0)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. vietchuanjsc

    vietchuanjsc Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Jan 2, 2009
    Likes Received:
    1,710
    tiền nằm ở những dự án treo chứ ở đâu :))
  2. hastc1500

    hastc1500 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Nov 23, 2008
    Likes Received:
    0
    iem lo quá cứ đà này có khi ............Mất hết không còn gì kể cả chết không có chỗ chôn.^:)^^:)^^:)^^:)^^:)^^:)^
  3. hastc1500

    hastc1500 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Nov 23, 2008
    Likes Received:
    0
    sợ nhất là Nhà đầu tư nước ngoài tháo cống MSN,BVH,VIC,VNM,vì nếu thay đổi cách tính chỉ số.^:)^^:)^^:)^^:)^^:)^^:)^

    Đằng sau việc bán ròng cổ phiếu vốn hóa lớn


    [​IMG]
    Áp lực bán ròng ra mấy hôm nay tại nhóm cổ phiếu lớn – hàng ưa thích của quỹ chỉ số - cho thấy có vẻ như hoạt động cắt lỗ đã khởi động.

    Liệu có là sự trùng hợp hay không, khi thị trường đón nhận thông tin HSX có khả năng tính lại chỉ số VN-Index để hạn chế sự méo mó của một vài mã vốn hóa lớn. Hiện tượng này đã được cộng đồng đầu tư than phiền từ đầu năm khi hình thành con sóng tăng “quái dị” nhất từ trước tới nay của VN-Index.
    Chỉ số này tăng gần 10% trong tháng 1/2011 nhưng đa số cổ phiếu lại mất giá trầm trọng. Duy chỉ có BVH tăng 45%. Sau khi BVH điều chỉnh, đến lượt MSN tăng gần 63%, VNM tăng 22%. Tính chung 4 cổ phiếu BVH,MSN,VIC,VNM, từ đầu năm, danh mục này có thể đem lại lợi suất tối đa 41%, một tỉ suất cực kỳ ấn tượng trong khi VN-Index giảm 0,6%.
    Trước sự bức xúc của cộng đồng NĐT, cơ quan quản lý đã có một vài động thái quan trọng, yêu cầu HSX nghiên cứu và báo cáo khả năng tính lại chỉ số VN-Index.
    Việc thay đổi trọng số tính toán VN-Index có cần thiết hay không vẫn còn gây tranh cãi. Dưới góc độ một chỉ số đại diện cho thị trường chứng khoán chính của Việt Nam, nếu chỉ số không phản ánh sát nhất diễn biến thì ý nghĩa sẽ không còn. Tuy nhiên, dưới góc độ đầu tư, chỉ số cũng không hẳn quan trọng nếu NĐT biết cân đối danh mục của mình. Thay đổi cách tính VN-Index cũng không làm thay đổi biến động giá của cổ phiếu, nếu chiến thuật đẩy giá những mã thanh khoản thấp vẫn diễn ra.
    Việc biến động giá của nhóm vốn hóa lớn mà điển hình là BVH được chú ý từ khi dòng vốn ngoại của các quỹ đầu tư chỉ số tham gia một cách rõ rệt vào thị trường chứng khoán Việt Nam. Đặc điểm của phương pháp đầu tư chỉ số là danh mục phải bám sát diễn biến của Index và sự phân bổ vốn phải tương đương với tỉ trọng của các cổ phiếu trong rổ tính Index. Thường thì không quỹ nào bỏ vốn vào tất cả những mã niêm yết mà chỉ cần đầu tư vào các mã có trọng số lớn. Do đó cũng khó nói các quỹ này làm giá VN-Index được.
    Có thể nói các quỹ này đã chơi theo luật chơi của chính thị trường chứng khoán Việt Nam. Với thông tin thay đổi luật chơi, sẽ là bất ngờ đối với các quỹ này vì chiến lược có thể phải thay đổi.
    Phương án “sửa” VN-Index khả thi nhất là chỉ tính khối lượng có thể giao dịch được, tức là trừ phần nắm giữ của Nhà nước, cổ đông sáng lập hoặc khối lượng bị hạn chế chuyển nhượng theo thời gian quy định. Tiền lệ thì đã có với SQC tại sàn Hà Nội. Nếu như vậy, chắc chắn BVH hay VNM sẽ chỉ là những “con tốt” vì vốn hóa lúc này teo tóp lại đáng kể.
    Liệu đây có phải là tác nhân gây nên hiện tượng bán ròng ở một số mã vốn hóa lớn liên tiếp mấy phiên gần đây hay không? Điều này có vẻ hợp lý với BVH khi phần lớn số cổ phiếu đang lưu hành nằm trong tay cổ đông nhà nước. BVH ba phiên gần đây bị bán rất mạnh. Chẳng hạn phiên ngày 18/5 NĐT nước ngoài bán ra chiếm 86,4% tổng khối lượng giao dịch. Phiên cuối tuần lượng bán ra cũng chiếm gần 73%.
    Tuy nhiên, suy luận trên có thể không đúng với trường hợp của MSN. MSN là một công ty tư nhân. Mặc dù thanh khoản thấp do cổ đông sáng lập và cổ đông nội bộ nắm giữ là chủ yếu nhưng đó cũng không phải là khối lượng không thể giao dịch để bị loại bỏ khỏi công thức tính VN-Index. Theo quy định thì thời hạn hạn chế chuyển nhượng một phần và toàn bộ của cổ đông nội bộ sẽ hết sau tháng 6 tới. Như vậy chắc chắn MSN vẫn sẽ là cổ phiếu vốn hóa lớn nhất thị trường, bất chấp thanh khoản sẽ vẫn thấp vì cổ đông lớn không giao dịch nhiều.
    NĐT nước ngoài từ đầu tháng 5 trở lại đây liên tục bán ra nhiều tại MSN. Trong 13 phiên của tháng 5, khối lượng bán ròng đạt 134.700 cổ phiếu. Đây chưa hẳn là khối lượng lớn về con số tuyệt đối nhưng về tỉ trọng thanh khoản hàng ngày, ảnh hưởng lại không hề nhỏ. Nhiều phiên khối lượng bán ra của khối ngoại chiếm trên 80% tổng giao dịch của MSN.
    Suy luận trên cũng không đúng với hoạt động mua vào lớn tại CTG và VCB. Nếu công thức sửa VN-Index không tính đến khối lượng sở hữu của nhà nước thì VCB và CTG cũng không thăng tiến là bao trong thứ tự vốn hóa. BVH, VNM, EIB, DPM, PVF có thể phải hạ bậc, nhưng trên VCB và CTG sẽ vẫn còn khá nhiều công ty tư nhân khác như VIC, HAG, FTP, STB, HPG, SSI, KBC, KDC...
    Hoạt động mua vào tại hai mã ngân hàng này là rất đáng chú ý. Khối lượng mua ròng lớn nhất tại CTG tập trung trong tháng 3 và tạo sóng đáng kể. Gần 2 tháng trở lại đây, CTG không còn được mua nhiều mà thay vào đó là VCB.
    Trong phiên giao dịch cuối tuần, hoạt động bán ra của khối ngoại là khá bất ngờ. Lần đầu tiên sau gần 3 tháng mua ròng liên tục qua khớp lệnh tại HSX, NĐT nước ngoài đã bán ròng ở sàn này trên 41 tỉ đồng. Trong đó, riêng nhóm blue-chip vốn hóa lớn bị bán ròng hơn 46 tỷ đồng. VIC, MSN, DPM, BVH, MSN bị bán lớn nhất về giá trị.
    Chính hoạt động bán này làm nảy sinh nghi ngại sự tháo chạy của quỹ ngoại trước khả năng thay đổi cách tính chỉ số VN-Index. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, vẫn chưa thể khẳng định chắc chắn mối liên hệ giữa hai sự kiện này. Số liệu mua bán của khối ngoại chỉ là một con số tổng hợp, trong đó có nhiều thành phần khác nhau. Rất có thể việc bán ra cũng chỉ là hoạt động cắt lỗ, đảo hàng, cơ cấu danh mục bình thường mà thôi.
    Theo Khánh Hà​
    VnEconom
  4. BinhTinh

    BinhTinh Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Mar 12, 2010
    Likes Received:
    3
    Giống Ai-Len không nhỉ ?

    :))
  5. hastc1500

    hastc1500 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Nov 23, 2008
    Likes Received:
    0
    Biến tướng lãi suất lan rộng


    [​IMG]
    Thực tế dòng tiền tiết kiệm vào ngân hàng không hề được tăng thêm, mà chủ yếu chạy lòng vòng trong hệ thống dưới tác động của biến động lãi suất.

    Cuộc đua tranh lách luật trần lãi suất huy động tiền đồng đã không còn dừng lại ở các ngân hàng thương mại (NHTM) quy mô nhỏ, mà thực sự đang lan rộng sang cả các ngân hàng cổ phần có gốc gác nhà nước.
    Phương thức lách luật cũng trở nên đa dạng hơn, thay vì các hình thức một sổ (tiết kiệm) hai biểu lãi suất mộc mạc như trước đây.
    Chuyện chẳng đặng đừng
    Phản ánh với LĐ, một khách hàng cho biết vừa thực hiện giao dịch gửi 1 tỉ đồng tại chi nhánh một NHTM cổ phần gốc gác quốc doanh - có hội sở chính tại Hà Nội, với lãi suất lên tới 18,5%/năm trong thời hạn 1 tháng.
    Thay vì lập sổ xác nhận gửi tiền cho khách hàng với hai mức lãi suất (lãi suất thực tế ghi trên sổ, thường là theo trần 14%/năm và phần lãi suất thoả thuận cộng thêm bên ngoài) như một số NHTM khác, chi nhánh NHTM trên thực hiện chuyển số tiền của khách hàng đang nằm trong tài khoản ATM sang hình thức nhận vốn ủy thác.
    Sự linh động này thực tế đã giúp chi nhánh NHTM nói trên giữ lại một khoản vốn quý báu trong ngân hàng (NH), thay vì bị dịch chuyển sang NH khác trong bối cảnh lãi suất huy động phổ biến, như nhiều thông tin phản ánh, lên tới 18-20%/năm.
    Là chuyện chẳng đặng đừng, song chi nhánh NHTM nói trên cũng thừa hiểu rằng sự “linh động” này hoàn toàn trái pháp luật và cũng không phải là đơn vị đầu tiên thực hiện huy động vốn trái luật theo hình thức nhận ủy thác.
    Chỉ cách đây ít ngày, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) - trong văn bản trả lời chính thức gửi tới NHNN chi nhánh Tiền Giang, từng cảnh báo rất rõ về hiện tượng này. Dù rằng các NH được thực hiện nghiệp vụ ủy thác và nhận ủy thác để cho vay, song việc huy động vốn dưới hình thức nhận vốn ủy thác, theo NHNN là không đúng pháp luật.
    Thực tế nghiệp vụ ủy thác cho vay là việc bên ủy thác giao vốn cho NHTM thông qua hợp đồng ủy thác để trực tiếp cho vay, thu nợ đối với khách hàng, bên ủy thác trả phí cho bên NHTM và thu lãi tiền vay từ khách hàng vay. Song dù là biến tướng dưới hình thức nào, điểm mấu chốt nhất vẫn là thực tế lãi suất huy động vượt xa trần quy định 14%/năm đang trở nên phổ biến và bản thân các NHTM quy mô lớn cũng không thể nằm ngoài luồng.
    Nhiều đánh giá cho rằng, các NHTM có tiềm lực vốn lớn phải chấp nhận tăng lãi suất lên cao là nhằm chống lại sự dịch chuyển nguồn vốn sang các NHTM cổ phần quy nhỏ đang “treo” lãi suất huy động tiền đồng ở mức rất cao.
    Mất tác dụng
    Quyết định thắt chặt thêm chính sách tiền tệ thông qua việc nâng lãi suất thị trường mở từ 14%/năm lên 15%/năm một thời gian ngắn sau các điều chỉnh tăng lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu cho thấy, việc cạnh tranh huy động giữa các NH sẽ càng gay gắt hơn. Và thực tế lãi suất huy động tiền đồng phổ biến ở nhiều NHTM chỉ sau một thời gian biến động ngắn đã lên mức 18-20%, áp dụng đối với các khoản tiền gửi lớn.
    Diễn biến cũng cho thấy, trần lãi suất huy động 14% mà NHNN đặt ra có thể đã không còn phù hợp trong bối cảnh thanh khoản của hệ thống ngân hàng luôn trong trạng thái căng thẳng. Sự căng thẳng có thể bước đầu lộ diện nếu chỉ cần nhìn vào sự sụt giảm tới 1,09% tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các TCTD trong tháng 4.2011 mà trong đó VND giảm đến 1,84%.
    Đấy là chưa kể trong lúc tín dụng 4 tháng đầu năm đạt mức tăng trưởng 5%, tổng số dư tiền gửi đến cuối tháng 4.2011 lại chỉ tăng khoảng 0,46%. Vậy đâu là nguyên nhân khiến tiền gửi vào NH sụt giảm, trong lúc lãi suất đầu vào vẫn cứ ồ ạt leo thang?
    Nhiều chuyên gia và tổ chức đồng thuận với nhau khi cho rằng, thực tế dòng tiền tiết kiệm vào ngân hàng không hề được tăng thêm, mà chủ yếu chạy lòng vòng trong hệ thống dưới tác động của biến động lãi suất. Kẻ kéo người giữ, buộc các ngân hàng phải cạnh tranh bằng cách thi nhau đẩy lãi suất lên.
    Và đương nhiên, khi lãi suất đầu vào cao sẽ khiến lãi suất cho vay đầu ra cao dẫn đến hệ quả là mặt bằng lãi suất không thể giảm được. Cty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) cho rằng, NHNN có thể xem xét sớm tháo bỏ quy định trần lãi suất 14%/năm để lãi suất vận hành theo cơ chế thị trường hơn, tránh việc cạnh tranh lãi suất không lành mạnh, dẫn đến việc vốn huy động không tăng thêm mà chỉ chạy lòng vòng trong hệ thống ngân hàng.
    Song đồng thời với giải pháp này, một số chuyên gia lại cho rằng cần khống chế một mức trần lãi suất cho vay (đầu ra) ở mức hợp lý mà cả ngân hàng và doanh nghiệp đều có thể chấp nhận và hài hoà lợi ích. Thay vì giữ trần đầu vào, song lại để mở đầu ra khiến lãi vay liên tục biến động, kéo theo những biến tướng của lãi suất huy động hiện nay. Song mở trần huy động lúc nào, ấn định trần vay ở mức bao nhiêu lại phụ thuộc vào quyết định và các tính toán không hề đơn giản từ phía NHNN.
    Theo Văn Nguyễn
    Lao động​
  6. hieunv2000

    hieunv2000 Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Mar 20, 2010
    Likes Received:
    4

    cả nước đang bầu cử mà nói đh đ
    bó tay:))
  7. crv

    crv Thành viên tích cực

    Joined:
    Mar 30, 2010
    Likes Received:
    5


    điều tất yếu
  8. thailo2011

    thailo2011 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 21, 2011
    Likes Received:
    1,285
    Ngân hàng từ góc nhìn lợi nhuận: Triển vọng không sáng sủa

    Khởi tạo bởi : chungkhoan | Đăng bởi : tinkinhte | Cập nhật: 21/05/2011 22:46E-mail | Bản in | Lưu xem sau
    [​IMG][​IMG]

    [​IMG]Lợi nhuận của hầu hết các ngân hàng trong quí 1-2011 đều tăng khá mạnh so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, phân tích của chúng tôi cho thấy kết quả này không thật sự tích cực như nhiều người nghĩ. Bên cạnh đó, nguồn gốc lợi nhuận của các ngân hàng chủ yếu đến từ việc dư nợ tín dụng tăng mạnh, đi kèm theo đó là rủi ro tín dụng.

    Doanh thu và lợi nhuận tăng mạnh nhờ hoạt động tín dụng Thống kê tám ngân hàng đang niêm yết cho thấy, tổng doanh thu tăng hơn 80% và lợi nhuận tăng gần 20%. Trong đó, Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank-EIB) đạt mức tăng trưởng doanh thu cao nhất với 196%, về nhì là Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB) với 110%. Các ngân hàng khác như Ngoại thương (Vietcombank-VCB) và Công thương (Vietinbank-CTG) cũng đạt mức tăng trưởng doanh thu lần lượt là 72% và 98%. Doanh thu của các ngân hàng tăng chủ yếu đến từ việc tổng dư nợ của các ngân hàng trong quí 1-2011 đã tăng rất mạnh so với cùng kỳ và lãi suất cho vay cũng ở mức ngất ngưởng.

    Trong đó, đặc biệt ngân hàng có mức doanh thu cao nhất là EIB và SHB cũng là hai ngân hàng có tăng trưởng cho vay cao nhất. Trong số tám ngân hàng nói trên, ngoại trừ CTG có lợi nhuận sau thuế giảm 12% so với cùng kỳ, do khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tăng thì lợi nhuận của các ngân hàng còn lại đều tăng khá mạnh.

    Lợi nhuận sau thuế quí 1 của EIB tăng gấp hai lần so với cùng kỳ năm trước, đạt 640 tỉ đồng. Lợi nhuận EIB tăng chủ yếu đến từ hoạt động tín dụng và dịch vụ, còn hoạt động ngoại hối của công ty thì thua lỗ.

    Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) cũng có mức lợi nhuận sau thuế tăng tới 45%, nhờ mức dư nợ cho vay tăng 56%. Tương tự như EIB, lợi nhuận của ACB cũng đến từ hoạt động tín dụng và dịch vụ còn kinh doanh ngoại hối của ACB cũng lỗ 94,6 tỉ đồng trong quí 1.

    Ngân hàng không lãi lớn như “vẻ bề ngoài”

    Với những con số trên ta thấy kết quả kinh doanh của các ngân hàng rất khả quan, nhưng để đánh giá hiệu quả của ngân hàng chúng ta phải xem xét một số các yếu tố khác.

    Xét hệ số NIM (tỷ lệ lãi biên) tính theo quí [(tổng doanh thu từ lãi - tổng chi phí trả lãi)/tổng tài sản có sinh lời bình quân], ta thấy hầu hết các ngân hàng đều tăng khá mạnh so với cùng kỳ. Điều này cho thấy hoạt động từ tín dụng của các doanh nghiệp được cải thiện đáng kể. Trung bình hệ số NIM của tám ngân hàng đang niêm yết trong quí 1 là 0,94%, cao hơn mức 0,74% của cùng kỳ năm trước. Việc hệ số NIM tăng là do khoảng chênh lệch giữa lãi suất huy động và cho vay đã được nới rộng để bù đắp rủi ro của nền kinh tế.

    Trong khi đó, ROA (lợi nhuận trên tổng tài sản) của tám ngân hàng trong quí vừa qua là 0,33%, giảm so với mức 0,38% của cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, ROE (lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) cũng chỉ đạt 4,58% (quí 1 năm ngoái là 4,81%). Chỉ có hai ngân hàng là ACB và EIB có ROE tăng so với cùng kỳ năm trước do dư nợ cho vay tăng mạnh.

    Tóm lại, nguồn gốc lợi nhuận của các ngân hàng tăng mạnh phần lớn nhờ hoạt động tín dụng được mở rộng. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng sụt giảm. ROE của các ngân hàng trong quí 1-2011 thấp hơn trung bình của cả năm 2010 và chỉ tương đương suất sinh lời bình quân của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán. ROE của ngân hàng còn thấp hơn nhiều so với lãi suất cho vay trên thị trường trong giai đoạn hiện nay.

    Khó khăn đang chờ phía trước

    Như đã phân tích ở trên, hiệu quả kinh doanh trong quí 1 của các ngân hàng không phải là quá cao. Không những vậy, các kết quả kinh doanh của các ngân hàng trong thời gian tới khó có thể duy trì do một số nguyên nhân sau:

    Tăng trưởng tín dụng bị giới hạn

    Năm 2011, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) áp trần tăng trưởng tín dụng đối với tất cả các ngân hàng là 20%. Thống kê của chúng tôi đối với các ngân hàng niêm yết cho thấy dư nợ cho vay khách hàng tăng 5,57% trong quí 1. Như vậy, với với mức trần tín dụng 20% trong năm này thì dư nợ mà các ngân hàng có thể cho vay trong thời gian tới không nhiều. Điều này, cho thấy tiềm năng tăng trưởng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng của ngân hàng không lớn. Ngoài ra, việc NHNN mới tăng lãi suất chiết khấu lên khá cao cũng khiến cho “cửa” kiếm lợi nhuận từ việc mua trái phiếu chính phủ sau đó chiết khấu lại cho NHNN cũng giảm.

    Áp lực từ việc tái cấu trúc nợ

    Theo quy định của NHNN, các ngân hàng thương mại bị khống chế tỷ lệ dư nợ cho vay phi sản xuất ở mức tối đa là 22% vào cuối tháng 6 và tiếp tục giảm xuống tối đa là 16% vào cuối năm 2011. Tính đến đầu tháng 5, còn khoảng 24 ngân hàng có tỷ lệ cho vay khu vực phi sản xuất lớn hơn 22%, trong đó có một số ngân hàng có tỷ lệ này lên tới 40%. Do vậy, việc tái cơ cấu này cũng sẽ ảnh hưởng khá mạnh đến hoạt động của một số ngân hàng. Ngoài ra, việc NHNN buộc các ngân hàng thương mại dừng hoạt động huy động và cho vay vàng từ ngày 1-5-2011 sẽ ảnh hưởng mạnh đến một số ngân hàng có tỷ trọng tín dụng bằng vàng chiếm tỷ lệ cao.

    Nguy cơ nợ xấu của các ngân hàng tăng cao

    Dư nợ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng quí 1 của tám ngân hàng đang niêm yết tăng 17,57%, cao hơn nhiều so với tăng dư nợ cho vay. Trong đó, đáng chú ý là khoản trích lập dự phòng của CTG tăng tới hơn 50%, còn hai ngân hàng lớn khác là ACB và STB cũng tăng hơn 9%.

    Theo Fitch Ratings, tỷ lệ nợ xấu cuối năm 2008 của hệ thống ngân hàng Việt Nam lên tới 13%. Con số ngày khá cao so với con số công bố chính thức của Việt Nam do chuẩn phân loại nợ xấu khác nhau. Mới đây Economic Intelligence Unit (EIU) xếp rủi ro hệ thống ngân hàng Việt Nam hạng CCC và đánh giá “ổn định”. Tuy nhiên, số điểm đo lường rủi ro lại tăng liên tục, từ mức 66 vào tháng 9-2010 lên mức 69 điểm vào tháng 3-2011, tương đương với con số đầu năm 2009.

    Kinh tế vĩ mô hiện nay có nhiều nét tương đồng so với năm 2008. Lãi suất quá cao và kinh tế tăng trưởng chậm đẩy nhiều doanh nghiệp đến nguy cơ vỡ nợ. Ngoài ra, với sự sụt giảm mạnh của thị trường bất động sản và chứng khoán cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến chất lượng tín dụng của khu vực này. Thêm vào đó, với tình trạng thiếu minh bạch trong báo cáo về nợ xấu của các tổ chức tín dụng đặc biệt là ngân hàng thương mại nhà nước thì nguy cơ về nợ xấu càng trở nên khó lường.

    Trước thực trạng đó, nợ xấu của các ngân hàng có thể tăng cao trong thời gian tới. Điều này cũng đồng nghĩa với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng bị ảnh hưởng mạnh. Việc giá cổ phiếu ngân hàng không tạo được sóng trong thời gian qua có lẽ đã ngầm chứa sự rủi ro này.
    (Thời báo KTSG)
  9. thailo2011

    thailo2011 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 21, 2011
    Likes Received:
    1,285
    Đề phòng lạm phát và suy thoái

    Khởi tạo bởi : chungkhoan | Đăng bởi : tinkinhte | Cập nhật: 21/05/2011 22:46E-mail | Bản in | Lưu xem sau
    [​IMG][​IMG]

    [​IMG]Lượng tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống NH trong 4 tháng đầu năm tăng 4,12%, huy động vốn khó khăn, nguồn tiền gửi VND giảm, nhưng tăng trưởng tín dụng cao hơn nhiều tốc độ tăng vốn huy động…. là những vấn đề đáng chú ý trong hoạt động ngân hàng 4 tháng đầu năm.

    Theo số liệu từ NHNN, tính đến 21.4, vốn huy động chỉ tăng 0,46% nhưng vốn huy động VND giảm 1,84%, trong khi đó tốc độ tăng trưởng tín dụng vẫn ở mức cao (+5,01%) so cuối năm trước. Chênh lệch như vậy vì nhu cầu về vốn của nền kinh tế Việt Nam luôn cao hơn khả năng cung ứng do mô hình tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm qua dựa chủ yếu vào mở rộng đầu tư và tăng vốn chứ không phải dựa vào tăng năng suất lao động hoặc đổi mới công nghệ.

    Trong 4 tháng đầu năm 2011, huy động vốn khó khăn nhưng tốc độ tăng dư nợ của các ngân hàng thương mại (NHTM) vẫn cao, bởi vì thu lãi từ hoạt động tín dụng vẫn là nguồn thu chủ yếu của các NH. Dịch vụ NH ngoài hoạt động tín dụng chưa được mở rộng và phát triển tốt, tỉ trọng thu dịch vụ trong tổng thu của các NH đa số dưới 20%.

    Trong khi đó, cơ chế chính sách và môi trường kinh doanh nói chung lại tạo động lực và có dư địa để các NH tăng trưởng tín dụng mạnh, thể hiện ở một số vấn đề như: (i) Lãi suất cho vay không bị khống chế; (ii) Nhu cầu vay của nền kinh tế, nhất là nhu cầu vay tín dụng phi sản xuất, đặc biệt vay kinh doanh bất động sản cao; (iii) Tốc độ tăng vốn điều lệ của các NHTM cổ phần quá lớn.

    Trong giai đoạn 2008-2010, tổng số vốn điều lệ tăng thêm của 37 NHTM cổ phần Việt Nam khoảng 97.000 tỉ đồng. Do tăng vốn quá lớn trong một thời gian quá ngắn và để duy trì mức chi trả cổ tức cho cổ đông trong khi nguồn thu nhập dựa chủ yếu vào thu lãi cho vay, nên ban lãnh đạo các NH đã thường thực hiện tăng trưởng “nóng” dư nợ tín dụng bằng mọi phương cách, khiến hoạt động tín dụng tăng mạnh.

    Tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống tăng 4,12%


    Nếu xem xét trong tương quan với các chỉ tiêu khác thì tốc độ tăng này cũng gần với tốc độ tăng trưởng tín dụng (5,01%) và tương đương với tốc độ tăng của tổng phương tiện thanh toán (+4,12%) trong 4 tháng đầu năm. Điều đó có nghĩa tỉ trọng thanh toán bằng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán vẫn ở mức như những năm trước. Hiện nay, DN và dân cư vẫn ưa thích và thường xuyên thanh toán bằng tiền mặt cho các nhu cầu chi tiêu của mình, kể cả những nhu cầu chi lớn.

    Tình trạng thanh toán bằng tiền mặt vẫn phổ biến trong nền kinh tế, mặc dù mấy năm qua ngành NH đã nỗ lực để triển khai, phát triển dịch vụ thanh toán qua ngân hàng thông qua việc thực hiện Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010 - được phê duyệt bởi QĐ số 291/2006/QDD-TTg, ngày 29.12.2006. Khi thanh toán bằng tiền mặt còn phổ biến, số dư tiền mặt nằm ngoài hệ thống NH còn lớn và mức độ tăng sẽ song hành với mức độ tăng CPI, với mức độ tăng của tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế cùng thời kỳ .

    Trần lãi suất cho vay chỉ là giải pháp tạm thời

    Trước tình hình LS cho vay VND đang quá sức chịu đựng của nền kinh tế, đã có nhiều ý kiến nên áp dụng trần LS cho vay VND để giảm LS thị trường. Nếu đưa ra trần lãi suất cho vay thì đây lại là một biện pháp hành chính nữa, nhưng trong bối cảnh thị trường hiện nay nên áp dụng vì có tác dụng nhất định trong việc giảm mặt bằng LS thị trường.

    Tuy nhiên, những biện pháp hành chính không thể giải quyết được gốc của vấn đề và hiệu quả cũng không cao. Trong thực tế, các NH có rất nhiều thủ thuật để lách thanh tra, giám sát ngân hàng không thể kiểm tra, giám sát hết được, nhất là kỷ luật thị trường hiện nay lại chưa được nghiêm. Tác động mạnh để giảm mặt bằng lãi suất thị trường là phải giảm nhu cầu về vốn thông qua giảm nhu cầu về vốn của khu vực công; giảm nhu cầu về vốn vào đầu tư, kinh doanh bất động sản thông qua một số chính sách hợp lý về quản lý đất đai, BĐS, đặc biệt sớm áp dụng thuế lũy tiến đối với sở hữu BĐS.

    Đề phòng lạm phát trong suy thoái

    Lạm phát và suy thoái là tình trạng vừa có lạm phát, giá cả tăng cao, vừa có tình trạng đình đốn, trì trệ sản xuất. Tình trạng lạm phát đồng thời với suy thoái kinh tế là một tình trạng rất nguy hiểm, một nguy cơ có thể xảy ra trong tương lai nếu nguyên nhân gốc, nguyên nhân chủ yếu về lạm phát của Việt Nam không được nhanh chóng khắc phục; nếu việc thực thi các giải pháp theo NQ 11/ NQ-CP không thành công để lạm phát cao kéo dài, các doanh nghiệp sản xuất không mở rộng sản xuất, thậm chí thu hẹp quy mô sản xuất vì khó tiếp cận nguồn vốn và vì LS vay quá cao, doanh nghiệp không còn khả năng sinh lời; vòng xoáy lạm phát diễn ra, hậu quả của lạm phát chu kỳ trước lại là nguyên nhân tăng mức độ lạm phát của chu kỳ sau ở mức cao hơn chu kỳ trước. Điều này thời gian gần đây cũng đã được một số nhà kinh tế cảnh báo.

    (Báo Lao Động)
  10. chungtruong

    chungtruong Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Jan 29, 2010
    Likes Received:
    4,017
    đại hội đảng đâu ocseu ? hôm nay bầu cử , tội này còn to hơn hỏi link =))=))=))=))=))=))

Share This Page