1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Đồng Việt Nam (VNĐ) sắp lên ngôi, các bác sẽ dần quên vàng, ngoại tệ đi nhé

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by lehero, Mar 17, 2011.

Có 16271 người đang online, trong đó có 55 thành viên. 00:14 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 1)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. lehero

    lehero Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 21, 2008
    Likes Received:
    14
    http://cafef.vn/2011031710060538CA34/ty-gia-truoc-gio-g.chn

    Tỷ giá trước giờ G

    Ngày 16-3 NHNN đã bắt đầu mua ngoại tệ vào với giá thấp hơn so với giá niêm yết của một số ngân hàng.
    Nguồn tin đáng tin cậy từ NHNN cho biết có thể từ tuần này tỷ giá do NHNN công bố hàng ngày sẽ rất linh hoạt, linh hoạt hơn hẳn những tuần qua.Có thể hiểu là độ dao động mỗi ngày của tỷ giá sẽ rộng hơn.
    Những động thái bề mặt
    Công ty Tài chính quốc tế (IFC) tuần trước đã bán 110 triệu đô la Mỹ cho Vietcombank theo tỷ giá niêm yết. Đây là khoản ngoại tệ lớn trong nhiều tháng qua mà Vietcombank mua được. Còn IFC thì cần tiền đồng để thanh toán tiền mua cổ phiếu của Ngân hàng Công thương.
    Cũng thời điểm đó một số ngân hàng nước ngoài chào bán đô la Mỹ nhiều hơn trên thị trường liên ngân hàng. Giới tài chính phỏng đoán nguồn cung ngoại tệ này có thể xuất phát từ việc ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam vay đô la Mỹ từ ngân hàng mẹ với lãi suất thấp khoảng 2-3%/năm, chuyển đổi sang tiền đồng cho doanh nghiệp trong nước vay hoặc kinh doanh trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất 20%/năm.
    Không ít ngân hàng nước ngoài tin rằng trong 3-6 tháng tới, tỷ giá giữa đô la Mỹ và tiền đồng sẽ không có nhiều biến động, nên mức chênh lệch lãi suất sẽ mang lại cho họ khoản lợi nhuận đáng kể.
    Ngay cả trong trường hợp tiền đồng có mất giá thêm 1-2% trong vòng nửa năm thì họ vẫn có lời. Ngoài ra, lãi suất tiền đồng đang ở đỉnh, khó mà cao hơn. Nếu không tận dụng ngay cơ hội, một khi lãi suất đồng nội tệ giảm xuống, mức chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền sẽ không còn hấp dẫn.
    Ông Don Lam, Tổng giám đốc Công ty Quản lý quỹ VinaCapital, cho biết Quỹ VOF (quỹ lớn nhất do VinaCapital quản lý) sau khi thanh lý một số khoản đầu tư vào các công ty tư nhân (private equity) đang có trong tay 140 triệu đô la Mỹ. VOF đang đợi giải ngân vào chứng khoán và một trong những dấu hiệu mà VinaCapital theo dõi hàng ngày là chênh lệch tỷ giá chính thức và thị trường tự do.
    “Chúng tôi đang quan sát diễn biến của lạm phát và lãi suất. Nhưng quan trọng nhất vẫn là tỷ giá. Nếu khoảng cách giữa tỷ giá của ngân hàng và thị trường tự do thu hẹp ở mức kỳ vọng, tôi nghĩ không chỉ VOF mà nhiều quỹ nước ngoài khác cũng sẽ giải ngân”.
    So với ngày 11-2-2011, ngày tỷ giá mới có hiệu lực, tỷ giá do NHNN công bố ngày 12-3-2011 đã giảm 30 đồng/đô la Mỹ, từ mức 20.693 xuống 20.663 đồng/đô la Mỹ. Trong năm tuần qua, có lúc tỷ giá liên ngân hàng đã “nhảy” lên tới 21.370 đồng/đô la Mỹ, nhưng sau đó giảm dần khi NHNN liên tiếp ban hành các văn bản thắt chặt cung tiền đồng thông qua việc tăng mạnh hai lần liên tiếp một số loại lãi suất. Tỷ giá liên ngân hàng đã có nhiều ngày “tranh chấp” quyết liệt ở ngưỡng 21.000 đồng/đô la Mỹ, song cuối cùng cũng đã mất mốc trên.
    Vẫn thắt chặt cung tiền đồng
    Những ngày qua NHNN ban hành cùng lúc ba văn bản. Thứ nhất là Thông tư 04 áp dụng lãi suất không kỳ hạn ở mức thấp nhất đối với những khoản tiền gửi có kỳ hạn rút trước hạn. Thứ hai là Thông tư 05 cho phép các ngân hàng thu phí trong trường hợp trả nợ trước hạn và thu luôn phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
    Với hai thông tư này, doanh nghiệp cũng như người dân phải tính toán kỹ khoản tiền gửi/vay, thời hạn vay cũng như trả nợ, tránh gây xáo trộn vốn trong hệ thống. Sâu xa hơn, nó xóa bỏ một số điều kiện để đầu cơ. Chẳng hạn nếu nhà đầu cơ đột ngột muốn rút tiền đồng để chuyển sang ngoại tệ thì phải chịu lãi suất tiền đồng thấp, do đó buộc phải tính toán lại kỳ vọng tỷ giá tăng.
    Văn bản thứ ba yêu cầu các tổ chức tín dụng báo cáo việc huy động và cho vay vốn bằng vàng. Văn bản này nhắc lại quy định của Thông tư 22 ngày 29-10-2010 yêu cầu các ngân hàng không được chuyển đổi vàng huy động thành tiền và số vàng đã chuyển thành tiền trước đó phải tất toán trước ngày 30-6-2011. Số vàng đã chuyển thành tiền lên tới hàng chục ngàn tỉ đồng. Mặc dù còn hơn ba tháng để chuyển ngược lại tiền thành vàng, nhưng việc chuyển ngược lại đòi hỏi một lượng tiền đồng lớn và đây là áp lực không nhỏ đối với một số tổ chức tín dụng.
    Cung tiền đồng ngày càng trở nên eo hẹp. Các ngân hàng nhỏ đã khó lại càng khó. Lượng vốn “bơm” ra qua thị trường mở đang bị rút xuống dần. Một ngân hàng có nhiều trái phiếu Chính phủ cho biết mấy ngày nay họ phải “xếp hàng” trên thị trường mở từ sớm mà cũng chỉ “mua” được vài chục tỉ tiền đồng.
    Các ngân hàng nhỏ không dám xin tái cấp vốn với NHNN, vì các hồ sơ tín dụng với doanh nghiệp phần lớn cho vay bất động sản, chưa kể một số ngân hàng có những khoản đảo nợ. Vay tái cấp vốn là phải thế chấp hồ sơ tín dụng, chẳng khác nào “vạch áo cho người xem lưng”, mời thanh tra NHNN vào, nên kênh tái cấp vốn hầu như đang ngưng trệ.
    Giờ G
    Một khi tỷ giá liên ngân hàng ở mức thấp hợp lý, NHNN sẽ mua vào ngoại tệ nhằm tăng dự trữ ngoại hối, tiền đồng sẽ được đưa ra, cung tiền đồng tăng, lãi suất sẽ giảm. Giờ G đồng nghĩa với mức tỷ giá hợp lý nhưng mức đó là bao nhiêu, chỉ có NHNN xác định được. Nó đang rất gần!
    Trước giờ G, một động thái dứt khoát nữa sẽ được thực thi: giảm lãi suất huy động ngoại tệ. Việc sửa đổi Thông tư 25 hạn chế đối tượng cho vay ngoại tệ đã gần như hoàn tất và thời điểm ban hành đang tính từng ngày. Đầu ra của ngoại tệ bị “bóp” lại, tất yếu lãi suất tiết kiệm đô la Mỹ sẽ giảm.
    Eximbank đã giảm ngay lãi suất huy động ngoại tệ từ 0,1-0,25%/năm các kỳ hạn khi lượng vốn huy động bằng ngoại tệ của ngân hàng này tuần qua tăng lên. Chỉ cần lãi suất tiền gửi ngoại tệ giảm một, hai phần trăm/năm so với mức hiện tại, chênh lệch lãi suất huy động đô la Mỹ và tiền đồng sẽ vượt mức 10%/năm; tiền đồng sẽ càng có giá và việc người dân chuyển từ đô la Mỹ sang tiền đồng sẽ xảy ra.
    Các doanh nghiệp có nguồn thu đô la bắt đầu bán ngoại tệ cho ngân hàng. Tuy nhiên, NHNN sẽ không mua ngoại tệ dồn dập, mà khối lượng cũng như tiến độ mua sẽ phụ thuộc vào diễn biến lạm phát. Cung tiền đồng không thể được nới lỏng mạnh nếu chỉ số CPI giảm chậm chạp. Vì thế, tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng sẽ còn xuống thang trong tuần này và những tuần sau. Theo tin mới nhất TBKTSG có được, ngày 16-3 NHNN đã bắt đầu mua ngoại tệ vào với giá thấp hơn so với giá niêm yết của một số ngân hàng.
    Một quan chức cấp cao của cơ quan quản lý ngành ngân hàng cho biết, trong thời gian tới sự biến động của tỷ giá do NHNN công bố hàng ngày sẽ rộng hơn, không chỉ 5-10 đồng/ngày mà có thể 20-30 đồng/ngày và có thể xuống/lên cả tuần liền. Chỉ cần tỷ giá công bố biến động 100 đồng/tuần thì doanh nghiệp sẽ không còn tính toán có bán ngoại tệ cho ngân hàng hay không, mà là canh bán lúc nào cho có lợi nhất. Trong bối cảnh đó, biết đâu câu ngạn ngữ “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn” lại có giá trị?
    Một khi tỷ giá liên ngân hàng ở mức thấp hợp lý, NHNN sẽ mua vào ngoại tệ nhằm tăng dự trữ ngoại hối, tiền đồng sẽ được đưa ra, cung tiền đồng tăng, lãi suất sẽ giảm.
    Theo Hải Lý
    TBKTSG​
  2. WIN-WIN

    WIN-WIN Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 14, 2010
    Likes Received:
    67
    hay,một lời giải tốt nhất từ trước đến nay
  3. lehero

    lehero Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 21, 2008
    Likes Received:
    14
    http://*********.vn/ChannelID/757/Tin-tuc/183571-cuoi-tuan-ban-viec-tang-du-tru-bat-buoc.aspx

    Cuối tuần bàn việc tăng dự trữ bắt buộc

    http://*********.vn/ImageView.aspx?ThumbnailID=31113
    Theo uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia, nếu tăng mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ buộc ngân hàng từng bước hạn chế cho vay, tiến tới chấm dứt cho vay và huy động ngoại tệ. Khi đó, những người nắm giữ ngoại tệ sẽ phải cân nhắc khả năng bán ra.
    Cuối tuần này, hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia sẽ họp bàn về việc nên hay không nên quy định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng ngoại tệ của các tổ chức tín dụng.
    Cuộc họp chưa diễn ra nhưng theo ghi nhận của chúng tôi, nhiều ý kiến tỏ ra đồng thuận với chủ trương này vì cho rằng đây là giải pháp mềm dẻo nhằm hạn chế tình trạng găm giữ ngoại tệ, góp phần chống đôla hoá trong nền kinh tế.
    Theo quy định hiện hành (áp dụng từ tháng 2.2010), tỷ lệ dự trữ bắt buộc với tiền gửi ngoại tệ của các tổ chức tín dụng là 4% (với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng) và 2% (với kỳ hạn 12 tháng trở lên). Phó chủ tịch uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia Lê Xuân Nghĩa cho rằng, nếu tăng mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc – có thể lên mức 10% trên tổng số dư tiền gửi – sẽ buộc các ngân hàng phải tính toán lại hoạt động kinh doanh ngoại tệ, từng bước hạn chế cho vay, tiến tới chấm dứt cho vay và chấm dứt huy động ngoại tệ. Khi đó, những người nắm giữ ngoại tệ sẽ phải cân nhắc khả năng bán ra bởi nếu không, chỉ có thể “để dưới gối”.
    Ông Phạm Thế Anh, kinh tế trưởng công ty chứng khoán Thăng Long, tính toán: với mặt bằng lãi suất huy động đôla Mỹ hiện nay (dao động quanh mức 5 – 6%/năm), trong trường hợp tỷ lệ dự trữ bắt buộc nâng lên mức 10%, các ngân hàng sẽ phải cho vay ra với mức lãi suất 15% mới có lợi nhuận. Trong khi đó, lãi suất vay vốn USD ở mức 10%/năm trở lên là chẳng ai dám vay bởi quá đắt đỏ. Do vậy, các ngân hàng sẽ buộc phải hạ mặt bằng lãi suất huy động đôla, xuống mức 2 – 3%/năm hoặc thấp hơn. So với mặt bằng lãi suất huy động VND hiện khoảng 14%/năm, lãi suất huy động USD dưới 5%/năm sẽ kém hấp dẫn với người gửi tiền.
    Ông Cao Sỹ Kiêm, thành viên hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, cho biết ông cũng ủng hộ biện pháp tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc với tiền gửi ngoại tệ và lưu ý một số công việc khác phải được hoàn chỉnh để thực hiện đồng bộ, chẳng hạn như hệ thống chính sách chống đôla hoá đã có nhưng chưa đầy đủ; việc tổ chức thực hiện các quy định thiếu triệt để và công tác xử lý thiếu nghiêm minh… Ông Kiêm cũng cho rằng nên quản lý chặt chẽ việc kinh doanh vàng miếng như cách thức quản lý ngoại tệ hiện nay và khi đó, người dân có thể cất giữ, mang theo người, nhưng nếu giao dịch phải được sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền thay vì tự do mua – bán.
    Trước một số ý kiến xem xét khả năng tăng dự trữ bắt buộc với tiền gửi VND, lãnh đạo một ngân hàng thương mại cổ phần lo lắng: thông tư 13 của ngân hàng Nhà nước quy định ngân hàng không được cho vay vượt 80% vốn huy động cũng tương tự như một quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Nếu ngân hàng Nhà nước lại tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ là làm tăng gánh nặng chi phí vốn của ngân hàng, khiến lãi suất càng khó giảm, ngay cả khi lạm phát đã “hạ nhiệt”. Ông này cho rằng kinh tế vĩ mô cần có thời gian để “ngấm” các chính sách, do vậy, không thể kỳ vọng lạm phát giảm ngay được. Mặt khác, nếu để điều tiết cung tiền, ngân hàng Nhà nước có thể điều tiết qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO), bằng cách bán trái phiếu chính phủ và các giấy tờ có giá thay vì bằng công cụ dự trữ bắt buộc.
    Thảo Nguyễn
    SÀI GÒN TIẾP THỊ

    ​
  4. lehero

    lehero Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 21, 2008
    Likes Received:
    14
    Không hẳn khi mà tối qua TTCK Mỹ và Châu Âu giảm mạnh, thị trường Châu Á sáng nay đều giảm nhưng TTCK VN lại có 1 phiên GD khá hào hứng.
    TTCK luôn đi trước thông tin vĩ mô.
  5. lehero

    lehero Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 21, 2008
    Likes Received:
    14
    http://vinacorp.vn/news/do-la-hoa-va-niem-tin-vao-dong-noi-te/ct-440536

    Đô la hóa và niềm tin vào đồng nội tệ


    Thứ Tư, 16/03/2011, 16:49

    “Quá trình đô la hóa làm giảm hiệu quả của các công cụ ổn định kinh tế vĩ mô, nhất là chính sách tiền tệ và tỉ giá”.

    [​IMG]
    Giải quyết vấn đề đô la hóa, lấy lại niềm tin vào đồng nội tệ, không hẳn chỉ là việc đóng cửa các điểm buôn bán ngoại tệ tư nhân.

    Sự phản ứng của thị trường sau lệnh đóng cửa thị trường ngoại tệ “chợ đen” nhìn chung là tích cực. Có thể chưa xóa ngay lập tức các giao dịch tự do, nhưng ít nhất sự khan hiếm, căng thẳng ngoại tệ do găm giữ USD để đầu cơ đã được giảm thiểu. Qua phân tích động cơ đại lý buôn bán ngoại tệ buôn bán, găm giữ và đầu cơ USD, có thể đưa vào một số nhóm lý do.

    Thứ nhất, sự chênh lệch tỉ giá giữa thị trường tự do và thị trường chính thức (tức trong ngân hàng) rất lớn. Thứ 2, khả năng tiếp cận với nguồn ngoại tệ của người có nhu cầu sử dụng ngoại tệ chính đáng không được đáp ứng. Thứ 3, lạm phát cao. Về góc độ tỉ giá, VND mất giá rất nhiều so với USD và ngoại tệ khác khiến lòng tin vào VND không còn chắc chắn. Người dân sẽ tìm phương tiện khác để bảo toàn nguồn vốn của mình. Và khi không thể mua USD từ ngân hàng, họ phải đi mua tại các điểm thu mua ngoại tệ với giá cao hơn ngân hàng. Nhu cầu cao sẽ khiến thị trường USD tự do tồn tại dai dẳng nếu như nguyên nhân cơ bản nhất không được khắc phục: khôi phục lòng tin vào VND.

    Cùng với Lào và Campuchia, Việt Nam là nền kinh tế bị đô la hóa rất cao. Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), tỉ trọng ngoại tệ dao động từ khoảng 20% nguồn tiền lưu thông tại Việt Nam, khoảng 50% tại Lào và hơn 90% tại Campuchia. Một nghiên cứu của ADB công bố vào tháng 10 năm ngoái cũng cho thấy chi phí và lợi ích của hiện tượng đô la hóa. Về khía cạnh lợi ích, hiện tượng này khiến Chính phủ không dễ dàng tài trợ thâm hụt ngân sách thông qua việc in tiền mà chỉ bằng biện pháp tăng thuế. Hơn nữa, hiện tượng đô la hóa dẫn đến tỉ giá gần như cố định và do đó giá cả sẽ ổn định hơn.

    Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ ra, việc sử dụng nhiều đồng tiền có thể làm giảm khả năng kiểm soát của các cơ quan quản lý kinh tế đối với các chính sách tỉ giá và tiền tệ. Điều này cũng làm giảm khả năng của Ngân hàng Nhà nước với tư cách là “người cho vay cuối cùng” trong trường hợp xảy ra khủng hoảng ngân hàng.

    Ông Jayant Menon, chuyên gia kinh tế cao cấp của Vụ Hội nhập Kinh tế Khu vực của ADB, cho biết: “Quá trình đô la hóa làm giảm hiệu quả của các công cụ ổn định kinh tế vĩ mô, nhất là chính sách tiền tệ và tỉ giá”.

    Ông Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, cho rằng sự mạnh tay của cơ quan chức năng đối với thị trường mua bán ngoại tệ tự do là cần thiết. Điều này đi theo lộ trình đề án chống đô la hóa nền kinh tế, được Chính phủ ban hành trong Quyết định của Thủ tướng số 98/2007/QĐ-TTg ngày 4/7/2007 về việc phê duyệt đề án nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam, khắc phục tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế.

    “Vấn đề là song song với các biện pháp xử lý, rất cần giải quyết nhu cầu ngoại tệ chính đáng trong dân cư”, ông Kiêm cho biết. Nhưng trên hết vấn đề vẫn nằm ở chỗ có thể khôi phục đến mức độ nào niềm tin vào đồng nội tệ


    NCĐT
  6. VNdoidaukethuTQ

    VNdoidaukethuTQ Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Mar 16, 2011
    Likes Received:
    0
    Muốn người dân giữ VND thì có khó gì đâu.

    Chỉ cần giữ VND ổn định và tăng nhẹ, chỉ cần giữ lạm phát thấp, chỉ cần tăng trưởng thực nhiều hơn...và cuối cùng những người ở trên họ phải tiên phong là người đem USD, Vàng...ra bán cho NHNN để thiên hạ thấy cái đã.

    Cái gì cũng có sự làm gương.
  7. lehero

    lehero Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 21, 2008
    Likes Received:
    14
    Tình hình sắp tới sẽ như ý bác thôi.
  8. lehero

    lehero Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 21, 2008
    Likes Received:
    14
    Các bác tham khảo bài viết này để thấy chủ TOP đã nói rất có lý.

    http://www.baomoi.com/Home/TaiChinh/vef.vn/Go-dan-bai-toan-ty-gia-lai-suat-va-lam-phat/5892090.epi

    Gỡ dần bài toán tỷ giá, lãi suất và lạm phát

    Tác giả: TS. Phạm Đỗ Chí
    Bài đã được xuất bản.: 18/03/2011 06:00 GMT+7






    (VEF.VN) - Một cơ chế làm tăng giá trị cho tiền Đồng đang dần dần hình thành, tỷ giá sẽ sớm giảm và NNHH sẽ nhanh chóng mua USD vào để tăng dự trữ ngoại hối. Bài toán tỷ giá, lãi suất và lạm phát đang dần được tháo gỡ.
    Tỷ giá sẽ sớm giảm, dự trữ ngoại hối tăng
    Trước những diễn biến khá mạnh của thị trường ngoại hối và thị trường vàng trong 3 tuần qua, những chính sách mới ban hành trong Nghị quyết 11 nhằm tạo ra sự ổn định cho các thị trường này và tiến tới mục đích giảm mặt bằng lãi suất cho tiền đồng (VND). Nhìn trên cục diện toàn thị trường, sự ổn định của tỷ giá đang được hỗ trợ mạnh hay nói đúng hơn là một cơ chế làm tăng giá trị cho tiền Đồng đang dần dần hình thành.[1]
    Thứ nhất, nguồn cung tiền đồng đang giảm. Ngày 8/3/2011, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành quyết định 379 để điều chỉnh tăng hầu hết các mức lãi suất trên thị trường lên mức 12%/năm, trừ mức lãi suất cơ bản vẫn giữ nguyên 9%. Lãi suất tái chiết khấu có mức tăng mạnh nhất, từ 7% lên 12%.
    Lãi suất tiền đồng tăng lên khiến cho những doanh nghiệp đang găm giữ ngoại tệ, để tránh vay tiền đồng lãi suất cao (mà có thể lãi suất cao cũng không vay được) sẽ phải bán đô la Mỹ lấy tiền đồng. Nguồn cung ngoại tệ theo đó sẽ dồi dào. Đây là một trong những nguyên nhân góp phần làm cho tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng những ngày sau đó giảm và tác động khiến tỷ giá thị trường tự do rơi xuống khỏi mốc 22.000 VND/USD về gần 21.000.
    Như vậy, với tình hình lãi suất tiếp tục giữ ở mức cao như hiện nay thì khả năng tỷ giá VND/USD sẽ sớm giảm về trong biên độ tỷ giá của NHNN. Không chỉ thế, sau khi Bộ Tài chính phát hành thành công gần 10.600 tỷ đồng trái phiếu chính phủ thì lượng tiền bơm ra qua kênh thị trường mở giảm hẳn.
    Thứ hai, với những tín hiệu từ chính sách quản lý vàng, và đặc biệt là NHNN đang hoàn tất Nghị định cấm kinh doanh vàng miếng, nhu cầu vàng sẽ giảm đi. Nhu cầu giảm có thể khiến giá vàng trong nước thấp hơn hẳn so với giá thế giới (điều đã từng xảy ra trong quá khứ), khi đó hoạt động xuất lậu vàng qua biên giới sang các nước khác sẽ xuất hiện và đô la được chuyển vào trong nước làm tăng cung ngoại tệ. Sự biến động của thị trường ngoại hối, vàng có thể rất nhanh. Nhờ đó, NHNN có thể can thiệp mua USD vào để tăng dự trữ ngoại hối (điều mà NHNN đã từng làm vào năm 2007 khi luồng vốn USD đầu tư nước ngoài vào Việt Nam gia tăng đột biến).
    [​IMG]
    Nhu cầu giảm có thể khiến giá vàng trong nước thấp hơn hẳn so với giá thế giới. Điều này cũng sẽ có tác dụng bình ổn tỷ giá, ngược với khuynh hướng vài tháng trước đây (bắt đầu từ năm 2009) là giá vàng trong nước cao hơn bên ngoài đã làm xuất hiện thu mua ngoại tệ trên thị trường tự do để buôn lậu vàng, và đã làm VND mất giá liên tiếp. Cơ chế chính sách thì đã có nhưng điều quan trọng còn lại là làm sao để cơ chế ấy thành công, đó chính là sự kết nối giữa nói và làm, giữa cam kết và thực thi.
    Việc thị trường ngoại tệ tự do bị đóng băng như hiện nay đã ảnh hưởng nhiều đến nhu cầu mua ngoại tệ của người dân cho các mục đích chính đáng, bởi các NHTM hầu như vẫn hạn chế bán ngoại tệ cho người dân. Mặc dù rằng ngày 12/3/2011, NHNN đã ban hành văn bản 2033/NHNN-QLNH về tăng cường hoạt động mở thẻ thanh toán quốc tế và các Tổ chức tín dụng (TCTD) được phép bán ngoại tệ tiền mặt để đáp ứng nhu cầu hợp pháp của cá nhân theo quy định của pháp luật, nhưng liệu các ngân hàng thương mại (NHTM) có sẵn sàng bán ngoại tệ cho người dân hay không khi mà sẽ có nhiều chi phí phát sinh.
    Nếu như NHNN không sớm đưa ra những biện pháp tích cực để đảm bảo cho những nhu cầu này thì trong thời gian tới, một điều chắc chắn rằng các hoạt động mua bán ngoại tệ trên thị trường chợ đen sẽ xuất hiện trở lại với các hình thức kín đáo, tinh vi hơn, khi đó sẽ nảy sinh nhiều khó khăn hơn nữa.
    Tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng sẽ có thể giảm về mức nằm trong biên độ của NHNN, đặc biệt nếu tin tức về việc thực hiện kết hối các tập đoàn và tổng công ty được đưa ra. Nếu điều này xảy ra, và nếu NHNN sử dụng một cách linh hoạt hơn nữa mức tỷ giá mua vào và tham gia mua bán trên thị trường ngoại hối như một nhà tạo lập thị trường, thì không những tỷ giá sẽ ổn định được trong biên độ mà NHNN còn có thể tăng được dự trữ ngoại hối lên.
    Chu trình chặn lạm phát và giảm mặt bằng lãi suất
    Để giảm mặt bằng lãi suất, lãi suất huy động bằng tiền VND khó có thể giảm xuống do tác động của việc tăng tỷ giá VND/USD và lãi suất tiền gửi USD, do tác động của các hành vi và lực đẩy đưa đến ngang bằng lãi suất giữa lãi suất cho VND và lãi suất cho USD (interest rate parity) trong nền kinh tế Việt Nam đang bị đô la hóa trầm trọng (đây là công thức thường được áp dụng cho 2 nước với 2 đồng tiền khác nhau):
    Lãi suất VND = lãi suất USD + độ điều chỉnh kỳ vọng (%) của tỷ giá VND/USD
    Lấy thí dụ của việc điều chỉnh tỷ giá 9,3% của NHNN (thay đổi tỷ giá liên ngân hàng từ 18.932 đồng đổi một đô la lên 20.693 đồng) hôm 11/2 vừa qua, ta có thể thấy công thức trên dự đoán khá chính xác mức thay đổi của tỷ giá từ vài tháng qua:
    Lãi suất huy động VND (14%) = lãi suất USD (4%-5%) + điều chỉnh tỷ giá đã xảy ra (9,3%)
    Một cách gián tiếp, ta cũng có thể hiểu rằng lãi suất VND phụ thuộc lãi suất USD và kỳ vọng về mức lạm phát vì khi lạm phát cao hơn có nghĩa là VND sẽ phải mất giá và USD lên giá; lạm phát gần 12% ở Việt Nam năm 2010 đã cao hơn lạm phát ở Mỹ khoảng 10% và điều chỉnh tỷ giá 9,3% là suýt soát mức khác nhau về lạm phát.
    [​IMG]
    Tỷ giá sẽ sớm giảm, dự trữ ngoại hối tăng. Chu trình giảm lãi suất sẽ gồm 2 giai đoạn: (i) trong ngắn hạn (6 tháng) mong muốn giảm lãi suất huy động tiền đồng và ổn định tỷ giá VND/USD phải bắt đầu từ việc giảm lãi suất huy động tiền USD và giảm kỳ vọng lạm phát và (2) còn cần một chương trình trung hạn như sẽ thảo luận chi tiết dưới đây nhằm tái lập các cân đối vĩ mô cần thiết sau độ 3 năm. Do tín dụng ngoại tệ đã tăng quá nhanh (thí dụ trên 41% trong TP.HCM năm qua), chính sách thắt chặt tín dụng áp dụng cho năm 2011 nên tiếp theo bằng việc tăng dự trữ bắt buộc trên tiền gửi ngoại tệ từ 3% lên hẳn 8%-10%. Việc tăng dự trữ bắt buộc cho tiền nội tệ có thể thấp hơn hay chưa cần ngay bây giờ trong tình trạng thiếu thanh khoản của các ngân hàng (theo lời Thống đốc NHNN mới đây), để duy trì một khoảng cách "hấp dẫn" hơn cho việc huy động và cho vay tiền đồng Việt Nam.
    Trong dài hạn, việc giảm lãi suất huy động tiền USD và tăng dự trữ bắt buộc trên các tài khoản ngân hàng tiền USD còn nhằm giảm tình trạng đô la hóa của nền kinh tế Việt Nam, và song hành với việc giảm tín dụng ngân hàng cho vay bằng USD để nhắm tới mục đích xa là cấm hẳn huy động và cho vay bằng tiền USD trong lộ trình chọn lựa, thí dụ là sau 3 năm.
    Làm sao để giảm lạm phát dự báo 2011 từ tháng 4?
    Số lạm phát vừa công bố là 2,09% cho tháng 2/11 và dự đoán trên 2% cho tháng 3 do kết quả của việc tăng giá điện và dầu xăng mới đây lại gây xôn xao cho thị trường tài chính và giới truyền thông, vì sẽ khó kiểm soát được ở mức 7% cho cả năm nếu đà tăng giá này tiếp tục.
    So với 12 tháng trước, CPI có thể còn tiếp tục tăng ở mức 2 con số trong suốt năm 2011, nếu kể đến tác động mạnh mẽ của việc tăng cung tiền và tín dụng trong nửa năm sau của 2010 và độ trễ từ 6-8 tháng lên chỉ số CPI, cũng như ảnh hưởng của mức tăng giá điện và xăng dầu vào cuối tháng 2 và của giá hàng hóa nhập khẩu dự báo, nhất là lương thực-thực phẩm trong 6 tháng đầu năm, sẽ gây áp lực mới đáng kể trong năm nay. Do đó trong các bảng 1 và 2, mức dự báo lạm phát cuối tháng 12/2011 dự báo có thể lên tới 11% (so với cùng kỳ năm trước).
    Theo phân tích định lượng của người viết, trong năm 2011 còn phải giảm mức tăng M2 xuống còn 15% và mức tăng tín dụng xuống còn 17%-18%, đồng thời với các cắt giảm lớn trong chi tiêu công để đem tỷ lệ bội chi ngân sách xuống còn khoảng 4,5% GDP (so với 5,9% năm 2010), nếu muốn kiểm soát lạm phát hữu hiệu trong suốt năm và đem nó về mức 9% vào cuối năm 2011, dựa vào mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 6% (thay vì 7% dự kiến) và cân bằng cán cân thanh toán quốc tế cho năm 2011 (tức là chặn hẳn sự thâm hụt vào quỹ dự trữ ngoại hối như trong 2 năm qua).
    Vấn đề giảm chi trong chính sách tài khóa, và nhất là đầu tư công, sẽ đóng vai trò thiết yếu trong chương trình giảm lạm phát tương lai. Vì mặc dù mức lạm phát đã cao tới 11,75% trong năm 2010, mức giá chung đã được kềm giữ phần nào nhờ các chi tiêu thường xuyên của ngân sách để hỗ trợ giá xăng dầu và nhất là giá điện dưới mức thị trường chung trong vùng. Trong tương lai để giảm tỷ lệ bội chi ngân sách so với GDP, bắt buộc phải giảm mạnh mức tổng chi-cả chi tiêu thường xuyên lẫn đầu tư công trong vài năm tới, như trong các định hướng chính sách trung hạn đề xuất dưới đây.
    Bảng 1 và 2: Lạm phát theo khuynh hướng hiện nay
    [​IMG]

    Nguồn: dựa trên các tính toán của tác giả​
    Lập Ủy ban liên bộ phối hợp triển khai các chính sách vĩ mô
    Khung 1 dưới đây tóm tắt một số đề xuất quan trọng về chính sách vĩ mô trung hạn mà Chính phủ cần xây dựng chi tiết, do một Ủy ban Liên bộ, và thông báo rộng rãi ra dân chúng và cộng đồng giới đầu tư nước ngoài để nói lên quyết tâm xây dựng một hệ thống chính sách đồng bộ và nhất quán nhằm vào ổn định vĩ mô, tái cấu trúc kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội như đã thông báo.
    Các chính sách hàng năm sẽ được triển khai chi tiết theo các định hướng trung hạn cũng như các diễn tiến kinh tế tài chính năm trước. Các định hướng đề xuất sẽ là:
    - Năm 2011, ưu tiên hàng đầu sẽ là ổn định vĩ mô bắt đầu bằng việc kiềm chế lạm phát thay vì ưu tiên tăng trưởng như vài năm gần đây; mục tiêu tăng trưởng có thể tạm thời đem xuống 6% cho năm nay, sau đó sẽ tăng dần lên 8% cho 2015.
    - Do những biện pháp điều chỉnh tỷ giá, giá điện và xăng dầu ồ ạt vào 2 tháng đầu năm, lạm phát có thể ở mức 2 con số trong suốt năm, cần dùng những biện pháp vĩ mô thắt chặt để đem mức tăng CPI xuống thấp trong 9 tháng cuối của năm và mức lạm phát xuống còn 9% cho tháng 12 (so với cùng kỳ năm trước). Cho các năm tới còn cần đem lạm phát trung hạn xuống còn 5% mỗi năm.
    - Điều quan trọng nhất là kiểm soát chặt chẽ chính sách tài khóa để đem bội chi ngân sách xuống còn 4,5% của GDP cho năm 2011 và giảm dần tỷ lệ này xuống 2,5% cho 2015, bằng cách giảm mạnh đầu tư công để đem tỷ lệ đầu tư toàn xã hội/GDP xuống còn 39% năm 2011 và giảm dần trung hạn xuống 35% năm 2015.
    - Về phía chính sách tiền tệ, sẽ giảm mức tăng tín dụng hàng năm xuống còn 16%-17% và cung tiền M2 còn 15% trong trung hạn.
    - Nhờ vào các chính sách trên, có thể giảm thâm hụt của cán cân vãng lai xuống còn 9% của GDP năm 2011 và xuống hẳn 5% năm 2015 bằng cách giảm sâu mức nhập siêu trong trung hạn; nhờ đó có thể xây dựng lại và tăng cường nhanh chóng mức dự trữ ngoại hối vào năm 2015 để ổn định tỷ giá cho suốt 5 năm tới.
    [​IMG]
    Nguồn: ước tính và dự báo dựa trên các tính toán của tác giả nhằm vào lập giả thuyết. [1] Hải Lý, Thời báo Kinh tế Sài gòn, số ra ngày 3/3/2011, trang 24.
  9. lehero

    lehero Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 21, 2008
    Likes Received:
    14
    TOP này mình lập đã hơn 1 tháng, giờ đã chính xác rồi nhé.

    http://ndhmoney.vn/web/guest/dau-tu...64?_journal_content_INSTANCE_1oY8_version=1.0

    Đôla Mỹ bắt đầu ế, tiền đồng lên ngôi

    Lần đầu tiên ở Việt Nam trong vòng mười năm qua, đôla Mỹ xuống giá từng ngày so với tiền đồng.
    [​IMG]​
    Chỉ số dollars index đang xuống thấp nhất kể từ năm 2008 so với các ngoại tệ mạnh khác trên thế giới và lần đầu tiên ở Việt Nam trong vòng mười năm qua, đôla Mỹ xuống giá từng ngày so với tiền đồng.

    Ngày 28/4/2011, giá mua đôla Mỹ tiền mặt và chuyển khoản của các ngân hàng đồng loạt ở mức sàn 20.486 đồng/USD (giá công bố của ngân hàng Nhà nước (NHNN) trừ hết biên độ 1% - NV), giá bán ra dao động trong khoảng 20.560 – 20.570 đồng/USD.

    Thị trường ngoại hối đã quay ngoắt 180 độ so với hai tháng trước! Ngay cả các ngân hàng cũng không thể tưởng tượng nổi cung cầu ngoại tệ thay đổi nhanh đến vậy. Hơn nữa, sự thay đổi này không giống với năm 2007 vì nó kéo dài đã một tuần và nhiều khả năng còn tiếp diễn. Người dân bán ngoại tệ cho ngân hàng đã đành, những doanh nghiệp xuất khẩu cũng đăng ký bán. Một ngân hàng cho biết vai trò ngân hàng – nhà xuất khẩu thay đổi hẳn. Mới tháng trước nhà xuất khẩu là người ra giá bán ngoại tệ, nay vai trò đó thuộc về ngân hàng. Ngân hàng là người ra giá mua.

    Tiền đồng lên ngôi

    Theo một nguồn tin thân cận trong giới tài chính, NHNN đang mua vào ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối nhưng không mua ào ạt. Khối lượng mua, thời điểm mua trong ngày, giá mua được tính toán cẩn trọng. Lượng ngoại tệ mua vào phải cân đối với lượng tiền đồng đưa ra để không ảnh hưởng đến lượng nội tệ trong lưu thông, vẫn đảm bảo mục tiêu chống lạm phát. NHNN đang ở thế thượng phong và chủ động hoàn toàn trên thị trường ngoại hối.

    Đã thấy rõ cung cầu tiền đồng và cung cầu ngoại tệ đang có mối quan hệ mật thiết, bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Để đảm bảo vừa mua được đôla Mỹ, vừa không đẩy cung tiền đồng dội chợ, NHNN có thể sẽ kéo dài thời gian mua. Như vậy đôla Mỹ có khả năng tiếp tục mất giá so với tiền đồng hoặc đứng ở mức thấp. Từ nay giá mua ngoại tệ của các tổ chức tín dụng sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào tỷ giá công bố hàng ngày của cơ quan quản lý ngành ngân hàng. Còn giá bán ra cũng sẽ không thể có khoảng cách quá xa so với giá mua. Một khi đầu vào ngoại tệ dồi dào, thì lợi nhuận nhiều ít không chỉ phụ thuộc vào khoảng cách giá mua – giá bán, mà còn phụ thuộc vào khối lượng tiêu thụ. Chênh lệch giá vào – ra thấp, nhưng tiêu thụ được nhiều, thì lợi nhuận vẫn có thể cao hơn.

    NHNN, theo thông tin của chúng tôi, đang xem xét khả năng nâng trần lãi suất huy động tiền đồng từ 14% lên 16%/năm nhằm hút thêm tiền gửi của dân cư vào ngân hàng. Động thái này nếu được thực hiện có hai cái lợi: thứ nhất nó giúp cải thiện nhanh tình trạng thanh khoản của ngân hàng, đặc biệt ngân hàng nhỏ và nó không làm thay đổi mặt bằng lãi suất bởi thực tế không ít ngân hàng đã thoả thuận lãi suất tiền gửi với khách hàng 16 – 18%/năm dưới nhiều hình thức khác nhau. Nâng trần lãi suất huy động chỉ là sự hợp thức hoá một thực tế đang tồn tại.

    Mặt khác, các ngân hàng cũng không thể tăng lãi suất cho vay cao hơn vì lãi suất đầu ra đang dao động quanh 19 – 24%/năm. Tăng nữa doanh nghiệp không chịu nổi, họ sẽ không vay. Đó là chưa kể đến sự dịch chuyển tiền gửi ngoại tệ sang tiền đồng của dân cư chưa kết thúc và còn kéo dài, nên về căn bản cung tiền đồng sẽ bớt căng thẳng. Những ngân hàng đón đầu, đi trước sẽ không dại gì tăng thêm lãi suất cho vay.

    Thứ hai, nó củng cố sự kiên định và tính hợp lý trong điều hành tiền tệ của NHNN bắt đầu từ lần điều chỉnh tỷ giá ngày 11.2.2011. Mục tiêu ổn định và gia tăng sức mạnh cho đồng Việt Nam đang được ưu tiên. Những nghi ngờ xung quanh việc tiền đồng có thể yếu trở lại vẫn còn và chắc chắn chưa thể bị xoá bỏ hết ngày một ngày hai. Hiện tại chỉ có sự nhất quán và kiên định mới dần loại bỏ được mối nghi ngờ đó.

    Tín dụng ngoại tệ sẽ giảm?

    Câu hỏi đặt ra bây giờ là liệu tín dụng ngoại tệ có tăng mạnh khi tỷ giá đang có lợi cho người vay đôla Mỹ và lãi suất tiền đồng đang cao? Hãy cùng cân nhắc hai khả năng. Muốn cho vay ngoại tệ, theo quy định hiện hành, ngân hàng buộc cam kết có ngoại tệ bán lại cho bên vay vào thời điểm đáo hạn để trả nợ hoặc bên vay có nguồn thu ngoại tệ để trả nợ. Vế thứ hai chỉ đúng với nhà xuất khẩu. Ở vế thứ nhất, ngân hàng không được lợi gì khi trữ đôla Mỹ để bán lại cho bên vay sau này vì để trữ đôla phải có lượng tiền đồng tương ứng. Tiền đồng đang có giá, hà cớ gì lại trữ, khác nào chôn vốn, không sinh lời? Chưa kể sắp tới có thể trạng thái ngoại hối sẽ giảm xuống, lúc đó ngân hàng muốn giữ nhiều ngoại tệ cũng không được.

    Bên cạnh đó vốn huy động ngoại tệ của ngân hàng sẽ giảm do dân cư chuyển sang gửi tiền đồng. Hiện tổng dư nợ ngoại tệ của một số ngân hàng còn cao hơn tổng huy động ngoại tệ, cho vay thêm có thể dẫn tới tình trạng mất cân đối huy động – cho vay đôla Mỹ, ẩn chứa rủi ro. Xét ở khía cạnh đó, tín dụng ngoại tệ sẽ giảm chứ không tăng.

    Khi điều chỉnh tỷ giá tăng 9,3% vào đầu tháng 2 năm nay, một quan chức lĩnh vực tài chính – ngân hàng giấu tên nói rằng mục tiêu năm nay là đưa tỷ giá ổn định ở mức 20.500 đồng/USD. Vào thời điểm đó, nhiều người không tin. Còn bây giờ, xem ra mục tiêu đó là có thể...




    Theo Hải Lý - SGTT /**/ /**/
  10. 22222

    22222 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Jul 23, 2010
    Likes Received:
    130
    Lãi suất 16-18 % + tiền đồng đang có giá => CK Tèo ?????:)):)):)):))

Share This Page