1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Dự đoán không cần NHNN phá giá, USD sẽ vượt ngưỡng 21k5 trong năm 2010!

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by mrking164, Nov 20, 2010.

Có 2915 người đang online, trong đó có 111 thành viên. 16:23 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 1)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. mrking164

    mrking164 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Feb 2, 2010
    Likes Received:
    2,161
    Đợt đỉnh 21k5 vừa rồi do tình hình vàng tăng nóng kéo theo giá USD tăng, chưa phải là bản chất cung cầu USD tạo nên.


    Không cần NHNN tuyên bố phá giá USD, em mạnh dạn sự đoán giá USD sẽ vượt đỉnh 21k5 trong năm nay:

    - USD index trong xu hướng đi lên sau khi ở mức thấp kỉ lục
    - Dự trữ ngoại tệ của NHNN mỏng: mới đây nhất là 7 tuần nhập khẩu theo IMF
    - Cuối năm các doanh nghiệp vay mượn USD tới hạn phải trả, con nợ Vinashin sẽ làm nóng thêm vụ tỉ giá
    - Nhập khẩu hàng hóa phục vụ Tết tây và ta
    - Lạm phát cao khiên dân tìm kiếm sự an toàn trong vàng, usd, BDS nhà ở...



    Thời kì loạn lạc, niềm tin vào VND chỉ là 1 đóng giấy vụn.
    Khi cung cầu chênh lệch tất yếu dẫn đến đồng usd tiếp tục lập đỉnh mới


    [​IMG]
    ​
  2. huynhhhung

    huynhhhung Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Dec 26, 2009
    Likes Received:
    34
    Gót chân A-sin của tiền tệ



    Dùng nguồn cung vốn ngắn hạn để cân đối nhu cầu vốn dài hạn là sự trật đường cần phải được uốn nắn không chậm trễ.



    [​IMG]Tuần qua, đặc biệt ngày 9 và 10-11-2010, đánh dấu sự “nóng cháy” của lãi suất tiền đồng trên thị trường tiền tệ. Người ta đổ lỗi sự bùng phát của lãi suất cho việc gia tăng đột biến của giá vàng, tỷ giá.

    Đó là hiện tượng bề ngoài, hay nói một cách chính xác hơn thị trường tiền tệ đã bộc lộ gót chân A-sin của chính nó.

    Gót chân ấy không phải tự nhiên mà có, nó đã được “nuôi dưỡng” suốt một thời gian dài, đặc biệt là từ đầu năm 2010. Cái cần bây giờ là một mũi tên của hoàng tử Paris xuyên qua gót chân A-sin.

    Nhưng giương cung ra sao, dưới tầm ngắm nào để mũi tên đến đích đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất tổn thương cho doanh nghiệp, cho nền kinh tế là trách nhiệm không chỉ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

    Những người “mua tiền” ăn đong

    Trưa ngày 9-11-2010, người đứng đầu một ngân hàng quốc doanh tầm cỡ đang công tác ở nước ngoài nhận được tin nhắn từ nhà gửi sang cho biết lãi suất liên ngân hàng lên 18%/năm.

    Ngay lập tức ông yêu cầu hội sở cùng các chi nhánh giảm tối đa việc cho vay và tạm ngừng đưa vốn ra thị trường liên ngân hàng. Ông không phải là người đầu tiên ra quyết định giảm cung ứng vốn cho thị trường.

    Trước đấy vài ngày, ngay sau khi Chính phủ tuyên bố cho thả nổi lãi suất, nhiều ngân hàng ở vai trò người “bán tiền” trên thị trường liên ngân hàng đã âm thầm giảm giao dịch. Họ co về “phòng thủ” bởi không đoán định được lãi suất sẽ biến động ra sao.

    Động thái của những người “bán tiền” đã khiến các tổ chức tín dụng ở vị trí người “mua tiền” trên thị trường liên ngân hàng, chủ yếu là các ngân hàng nhỏ và một số ngân hàng tầm trung, trở tay không kịp.

    Ngày 27-10-2010, NHNN còn ra thông báo lãi suất cơ bản, tái chiết khấu, tái cấp vốn áp dụng cho tháng 11-2010 không thay đổi ở mức 8%/năm. Rồi những ngày cuối tháng 10 khối lượng và kỳ hạn tiền được NHNN bơm ra qua thị trường mở hầu như không thay đổi. Đùng một cái, một tuần sau gió đổi chiều!

    Những ngân hàng “mua tiền” trở tay không kịp vì họ không có tiền dự trữ trong két. Số tiền họ đang có trong tay là tiền ăn đong do vay được từ ngân hàng khác hoặc từ thị trường mở qua giao dịch giấy tờ có giá với kỳ hạn 1-2 tuần.

    Số tiền họ đang xài sẽ phải trả cho chủ nợ vào tuần sau, nhưng đến tuần sau họ lại vay của chủ nợ khác để trả cho chủ nợ hiện hành hoặc xin chủ nợ hiện hành gia hạn.

    Những khoản vay vài ngày, một tuần cứ thế nối tiếp nhau, gối đầu cho nhau. Nay thực hiện chính sách chống lạm phát, NHNN giảm kỳ hạn dài ngày trên thị trường mở, từ bốn loại 1, 2, 3, 4 tuần xuống chỉ còn loại một tuần, cộng với sự rút bớt tiền về để đảm bảo thanh khoản dài hạn của những tổ chức tín dụng “bán tiền” trên thị trường liên ngân hàng, các ngân hàng “mua tiền” lâm vào tình trạng không lối thoát.

    Phản ứng dây chuyền

    Giới quan sát đã bất ngờ: đúng là có ngân hàng thiếu vốn, nhưng tại sao lãi suất không nhảy từng bước một mà lại nhảy vọt?

    Thử hình dung: ngân hàng A cho ngân hàng B vay 500 tỉ đồng, kỳ hạn một tuần. Nay A không những không gia hạn tiếp mà đòi lại ngay. B quay sang ngân hàng C, D, E… nhưng C, D, E… cũng lắc đầu.

    Đáo hạn, không thấy B trả tiền, A “dọa”: “Lãi suất không phải 10%/năm đâu nhé, 20% đấy”. B gật cái rụp vì 20% chứ 25%/năm họ cũng bắt buộc phải gật vì có tiền đâu mà trả.

    A nâng lãi suất lên chủ yếu để đòi cho được tiền, không ngờ với lãi suất đã nâng ấy mà tiền cũng không lấy lại được, họ lo lắng.

    Trên thị trường, không chỉ có A hoặc B giao dịch với nhau, còn hàng trăm ngân hàng khác với những mối quan hệ mua bán chằng chịt. Phản ứng dây chuyền diễn ra!

    Bị đòi nợ ráo riết, chỉ còn kênh duy nhất để huy động vốn là dân cư, những ngân hàng ở vào thế như ngân hàng B đành phải tăng lãi suất tiết kiệm.

    Lãi suất tiền gửi “nhảy” lên 13-13,5%/năm, nhưng tiền vẫn không vào được bao nhiêu vì các ngân hàng lớn và uy tín cũng đưa ra lãi suất như thế.

    Ngân hàng B đành phải “đi đêm”, thỏa thuận lãi suất tiền gửi 14-15% với số lượng từ 500 triệu đến 1 tỉ đồng trở lên với những khách hàng lớn dạng tổ chức kinh tế. Vòng xoáy lãi suất cứ thế hình thành, đẩy cả những ngân hàng có hệ số sử dụng vốn trên vốn huy động thấp vào thế bị động!

    Cốt lõi sự vận hành của dòng tiền

    Vậy vốn khả dụng của những tổ chức tín dụng đi “mua tiền” như ngân hàng B nằm ở đâu mà khi đáo hạn hay bị đòi bất ngờ họ không có để trả? Thứ nhất, ngân hàng B dùng vốn vay và huy động (ở đây phần lớn là vốn ngắn hạn) để mua trái phiếu chính phủ.

    Còn nhớ quí 2-2010 khá nhiều ngân hàng nhỏ đã mua hoặc bảo lãnh phát hành khối lượng lớn trái phiếu chính phủ với lãi suất thấp hơn lãi suất tiết kiệm. Họ chấp nhận lãi suất trái phiếu thấp vì sau đó họ dùng trái phiếu giao dịch trên thị trường mở để có tiền đồng với lãi suất chỉ có 7-8%/năm.

    Tiền có được từ thị trường mở là ngắn hạn, nhưng họ lại cho vay với kỳ hạn dài. Chừng nào cơ chế lãi suất thị trường mở và trái phiếu vẫn còn chênh lệch 2-3%/năm, họ còn có thể kiếm lời và động thái này còn tiếp tục.

    Bài toán trái phiếu và lãi suất thị trường mở không phải chỉ ngân hàng nhỏ như B nhìn ra. Tất cả các tổ chức tín dụng đều nhìn thấy nó. Những ngân hàng lớn cũng mua trái phiếu, cũng tham gia thị trường mở và cũng hưởng chênh lệch.

    Chỉ có điều họ không dùng vốn có được từ thị trường mở cho vay dài hạn mà đem ra giao dịch trên thị trường liên ngân hàng, cho những ngân hàng dạng như B vay. Họ giống như “siêu đại lý” cấp một vì họ có trái phiếu và có nhiều.

    Họ có thể “bán tiền” giá thấp (lãi suất thấp) và số lượng lớn cho những người mua cấp hai, để những người này bán lẻ cho người mua cấp ba với lãi suất cao hơn. Cứ thế hệ số tạo tiền tăng lên nhanh chóng.

    Nay ngân hàng đầu tiên rút tiền về, chỉ cần rút một nửa thôi, cái hệ thống vận hành của dòng tiền ấy sẽ không chuẩn bị kịp.

    Cái chính là sự không kịp chứ không phải quy mô lượng tiền rút về. NHNN thừa biết rằng nếu giảm ngay và giảm nhanh khối lượng tiền bơm ra qua thị trường mở, thị trường tiền tệ sẽ bị tác động. Vì thế lượng tiền NHNN đưa ra giảm dần có tính toán số lượng hợp lý.

    Tuy nhiên sự không hợp lý lại nằm ở chỗ tiền phải qua nhiều cấp bậc, nhiều ngân hàng mới trở về được kho NHNN. Quãng đường dài ấy đòi hỏi thời gian mà NHNN thì không cho thời gian.

    Xét cho cùng, “cơn sốt” lãi suất đã xảy ra vì sự mất cân đối của dòng tiền trên thị trường và sự mất cân đối ấy đã tồn tại từ lâu, nó có đủ thời gian để tích tụ lại.

    Ngoài ảnh hưởng của cơ chế lãi suất trái phiếu - thị trường mở, nó còn được gia cố bởi sự lách luật của các ngân hàng khi thực hiện quy định của NHNN về việc chỉ được sử dụng tối đa 30% vốn huy động ngắn hạn cho vay trung, dài hạn.

    Quy định này nhằm hạn chế rủi ro trong sử dụng kỳ hạn vốn. Nhưng các tổ chức tín dụng đã lách (đồng loạt) bằng cách huy động tiền gửi dài hạn, song trả lãi và vốn ngắn hạn định kỳ.

    Chẳng hạn trên sổ tiết kiệm của khách hàng, kỳ hạn gửi là 24 tháng, nhưng bên dưới lại ghi rõ trả gốc và lãi sau 1, 2, 3, 6… tháng theo yêu cầu của người gửi.

    Thực chất đó là tiền gửi ngắn hạn, nhưng trên sổ sách nó là tiền gửi 24 tháng và các ngân hàng sử dụng 100% số tiền huy động đó để cho vay trung, dài hạn (từ 12 tháng trở lên). Từ đây dẫn đến mất cân đối kỳ hạn - là một trong những rủi ro lớn nhất của hoạt động tín dụng.

    Giải quyết tận gốc

    Thoáng nhìn, “cơn sốt” lãi suất lần này có vẻ giống “cơn sốt” năm 2008, tuy nhiên quy mô và tầm ảnh hưởng của nó lớn hơn nhiều. Nếu chỉ nhìn vào tổng vốn huy động và dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng cùng con số tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán thì dường như mọi việc vẫn ổn.

    Thực chất lại không như vậy. Sự thay đổi đang diễn ra ở cơ cấu của dòng vốn và sự vận hành trong sự mất cân đối kỳ hạn của nó.

    Tỷ trọng vốn huy động ngắn hạn của hệ thống ngân hàng đang tăng lên và chiếm tỷ lệ áp đảo, kỳ hạn đưa vốn ra qua thị trường mở (cho dù để đảm bảo thanh khoản) cũng đang ngắn lại (chưa bao giờ dài hơn 28 ngày), trong khi nhu cầu vốn thực sự của nền kinh tế không phải là 1-2 tuần hay một tháng, mà là 6, 9, 12 tháng thậm chí dài hơn.

    Dùng nguồn cung vốn ngắn hạn để cân đối nhu cầu vốn dài hạn là sự trật đường cần phải được uốn nắn không chậm trễ.

    Trên cơ sở đó, việc NHNN thông báo duy trì bơm vốn qua thị trường mở, khôi phục kỳ hạn 14 ngày bên cạnh kỳ hạn một tuần là chưa đủ. Khi có lửa cháy, nước cứu hỏa cần phải đưa thẳng đến nơi ngọn lửa bắt đầu và dập lửa tại gốc.

    Nhưng trong bối cảnh hiện tại, nước cứu hỏa lại phải vượt qua hai, ba tòa nhà khác mới tới nơi lửa cháy, mà trên đường đi ấy, giá nước đã tăng lên rồi!

    Không phải ngẫu nhiên, ngay từ nhiều tháng trước, đã có những ý kiến yêu cầu kiểm soát việc bơm tiền qua thị trường mở và tăng kỳ hạn đưa tiền ra lên ba hoặc sáu tháng.

    Động thái này nên được nghiên cứu thực hiện và đi kèm với nó là gia tăng lãi suất. Lãi suất thị trường mở kỳ hạn ba tháng, thí dụ, có thể tới 12%/năm. Tới đây, sự gia tăng của lãi suất trái phiếu chính phủ sẽ không còn là điều phải bàn cãi.

    Sự phối hợp giữa Bộ Tài chính và NHNN để cân đối hợp lý lãi suất trái phiếu và lãi suất thị trường mở là cần thiết. Hơn nữa, nhu cầu phát hành trái phiếu chính phủ năm 2011 theo biểu quyết của Quốc hội vừa rồi là 45.000 tỉ đồng, thấp hơn hẳn mức 100.000 tỉ đồng của năm nay. Đó là một thuận lợi cần được tận dụng.




    Bản tin ngày: 19/11/2010 ( Được xem : 292 lần ) Theo: TBKTSG
  3. TungTienHn

    TungTienHn Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 19, 2010
    Likes Received:
    5,057
    Bài viết hay! Đọc cái rõ liền! Thanks
  4. stock_vnexpress

    stock_vnexpress Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Jan 17, 2010
    Likes Received:
    0
    Cái này gọi là rủi ro về cấu trúc kỳ hạn của "lãi suất" :))
  5. stock_vnexpress

    stock_vnexpress Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Jan 17, 2010
    Likes Received:
    0
  6. mrking164

    mrking164 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Feb 2, 2010
    Likes Received:
    2,161
    Việt Nam: vẫn tiếp tục cuộc chạy đua đạt tốc độ bất kể chất lượng và ổn định

    Năm 2007 mở đầu cho sự kiện Việt Nam vào WTO với dòng tư bản ồ ạt chảy vào. Chứng khoán và giá nhà lên tận mây. Ai nấy đều kỳ vọng mức phát triển cao với tốc độ 9-10%. Vinashin và hàng loạt các dự án tiền tỷ khác được đặt lên bệ phóng, quên mất tác dụng của chúng mang đến cho ngân sách và tiền tệ. Vay mượn tăng, dòng chảy tư bản nước ngoài đổ vào, tín dụng tăng, chi tiêu nhà nước tăng. Lạm phát nhanh chóng tăng, đạt mức 28% vào năm 2008. Thiếu hụt cán cân thanh toán tăng. Và sau đó ngòi nổ xẹp vì kinh tế thế giới khủng hoảng. May là có khủng hoảng, cắt đứt dòng chảy tư bản vào Việt Nam nếu không tác hại của dòng vốn này còn cao hơn nữa.


    Vấn đề là Việt Nam vẫn đặt các chỉ tiêu tăng trưởng cao, tiếp tục chi tiêu quá mức, lần này là với lý do nhằm làm giảm ảnh hưởng tiêu cực từ khủng hoảng kinh tế thế giới. Tất nhiên bội chi ngân sách tăng rất cao. Theo kế hoạch năm 2010, thiếu hụt ngân sách được quyết định là 6,2% GDP, nhưng theo IMF, có thể lên tới 9% nếu tính cả chi tiêu ngoài ngân sách. Nợ công tăng nhanh, năm 2009 tăng 9% và năm 2010 tăng 12% năm, do đó tỷ lệ nợ công trên GDP đã nhanh chóng vượt quá 50% GDP, có lẽ là 57%.


    Nhập siêu vẫn tiếp tục lớn, năm 2009 là 12,2 tỷ đô-la, năm 2010 dự báo cũng sẽ tương tự, ít nhất là trên 12 tỷ đô-la. Nợ nước ngoài vì vậy tăng nhanh, hiện nay là khoảng 28 tỷ đô-la, bằng khoảng 40% GDP.


    Tình hình như thế nhưng không giống như bất cứ nước nào trên thế giới là có lạm phát rất thấp, Việt Nam lại vẫn lạm phát cao; vào năm 2010 sẽ ở mức gần đạt hai con số. Khó có thể chấp nhận mức lạm phát như thế vì trong năm năm qua, kể từ năm 2006, lạm phát đã làm giảm sức mua gần 57% và như thế khiến đời sống người lao động ngày càng khó khăn thêm. Hiện nay lạm phát lại đang trong đà tăng tốc ; đây là những dấu hiệu đáng cảnh báo nhất.


    Tất cả chỉ là vì các nhà làm chính sách ở cả trung ương và địa phương vẫn chạy đua nhằm đạt tốc độ tăng GDP cao, thậm chí tất cả mọi tỉnh đều báo cáo đạt mức tăng trên dưới 10% GDP, trong khi cả nước chỉ tăng 6%. Vì đặt chỉ tiêu tốc độ tăng GDP cao, bất chấp thực tế và các hệ luỵ của nó, mà chúng ta đã thấy tỷ lệ đầu tư tăng nhanh từ 33% GDP năm 2006 lên 42% GDP hiện nay và ngay năm 2011 sắp tới, chỉ tiêu vẫn ở mức 42% và tốc độ phát triển là 7-8%.


    Tỷ lệ đầu tư ở Việt Nam hiện nay là cao nhất thế giới. Mà càng đầu tư cao, càng cần vốn, cần tín dụng, và vì không thể tăng năng suất do đó mà lạm phát. Đầu tư cao, đặc biệt tập trung ở các doanh nghiệp và tập đoàn nhà nước, là tăng cường cho cơ hội tham nhũng cho các nhóm lợi ích, chính vì thế mà từ trung ương đến địa phương nơi nào cũng muốn có đầu tư cao. Đầu tư ở Việt Nam rất khác Trung Quốc. Họ nhập công nghệ mới, để tự tạo ra máy móc, sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu có sức cạnh tranh với nước ngoài. Ngược lại, Việt Nam là nhập máy móc, nhập nguyên liệu, làm gia công để bán tài nguyên thiên nhiên và lao động rẻ tiền. Có lẽ các nhà làm chính sách hài lòng vì có tốc độ tăng GDP coi được. Nhưng đây là kinh tế ảo, vì về mặt thống kê học, khi có đầu tư thì giá trị đầu tư làm tăng GDP vì nó được tính trực tiếp vào GDP. Mặt trái của đầu tư cao, như trường hợp Vinashin, là tăng nhập siêu và nếu không bán được hàng thì phá sản, đưa đến công nợ không trả được. Nhu cầu ngoại tệ đang tăng cao để nhập máy móc, nhập nguyên liệu và trả nợ nước ngoài. Dự trữ ngoại tệ trước đây là trên 25 tỷ đô-la, mới đây theo IMF chỉ còn 15 tỷ đô-la. Rất tiếc là không có thông tin về dự trữ ngoại tệ hiện nay, nhưng có lẽ còn xuống thấp hơn nữa.


    Tình hình hiện nay: vấn đề vàng và đô la Mỹ


    Có thể nói một nền kinh tế bình thường là nền kinh tế ở đó nhà nước có thể kiểm soát được phương tiện thanh toán. Khi phương tiện thanh toán vượt ngoài tầm hoạt động của mình thì rõ ràng là có vấn đề. Để làm chủ được nền kinh tế, tất cả mọi nước đều cố gắng làm chủ được phương tiện thanh toán, qua đó điều hành chính sách tiền tệ. Tất nhiên điều hành sai hay đúng là chuyện khác nhưng phải đặt nó trong tầm tay của mình.

    Ngày trước, đã có lúc người Việt chỉ có tin vàng và đô la Mỹ. Sau cải cách từ năm 1989, giá trị của đồng tiền Việt đã trở lại.


    Từ năm 2008, giá trị đồng tiền Việt giảm đều, vàng và đô la lại trở thành phương tiện thanh toán trong nước, tước bỏ đi một phần quan trọng khả năng điều hành kinh tế của nhà nước. Tất nhiên, lý do cơ bản là lạm phát, mà lạm phát là kết quả của chính sách chạy theo tốc độ GDP, bỏ tiền cho doanh nghiệp quốc doanh đầu tư vô tội vạ.


    Để ổn định tình hình nhà nước cần điều chỉnh chính sách phát triển chạy theo chỉ tiêu số lượng như hiện nay, tức là phải giảm mức đầu tư, và như vậy phải tăng lãi suất nhằm thu hút tiền vào ngân hàng, và đồng thời tăng giá tín dụng mà nhà đầu tư phải trả. Về mặt tiền tệ, dù là trong ngắn hạn, mọi biện pháp cần thiết là triệt tiêu việc biến vàng và đô la thành phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, chứ không phải cổ võ việc dùng chúng là tiền.


    Nhưng các nhà chính sách Việt Nam đang làm ngược lại. Ngân hàng Nhà nước giữ giá đồng đô la, làm lợi cho những người có thể vay dễ dàng (như các tập đoàn) và tạo thêm nhu cầu giả tạo, không phải nhằm đầu tư mà nhằm đầu cơ. Thiên hạ, những người không thể tiếp cận đô la, phải đổ xô mua vàng. Ngân hàng Nhà nước lại cho phép nhập vàng để giảm giá vàng. Mà ổn định giá vàng đâu có phải là nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước. Tất nhiên là tuyên bố như thế thì hy vọng sẽ tạo ra tâm lý giảm giá vàng. Nhưng nếu nhập thì sẽ mất nguồn ngoại tệ, tạo thêm áp lực tăng giá trị của nó. Rồi lại có những “kinh tế gia " đề nghị tạo ra tài khoản tiết kiệm vàng và trả lãi cho nó. Đây là hành động của thời bao cấp trước đây. Chứ hiện nay là phải làm sao có biện pháp xóa bỏ vàng như một phương tiện thanh toán. Và để làm điều này dễ nhất là đánh thuế nhập hay xuất vàng. Giống như đánh thuế các cuộc tháo chạy tư bản nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của chúng đối với nền kinh tế mà nhiều nước đã làm.


    Quan trọng hơn, cần thay đổi cách suy nghĩ theo hướng chạy đua đạt tốc độ GDP, từ đó đầu tư cao mà thiếu hiệu quả, bội chi ngân sách, đẩy mạnh cung tiền để tài trợ bội chi, đưa đến lạm phát và sự mất giá của đồng bạc. Mọi tiêu cực đang phát triển hiện nay là do cách tư duy này và các chính sách hiện nay.


    Thông tin mới nhất từ báo chí là quyết định bù lỗ xăng dầu để chống tăng giá. Kinh nghiệm cho thấy chính sách này sẽ không thành công vì lạm phát đâu có thể bù lỗ để giảm. Nguyên nhân của chúng nằm trong chính sách tài khoá và tiền tệ dễ dàng để đẩy mạnh đầu tư các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước. Chính sách đang đi về đâu đây? Phải chăng đang chờ đón một cuộc khủng hoảng toàn diện, bắt đầu từ khủng hoảng thiếu ngoại tệ ?
  7. mrking164

    mrking164 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Feb 2, 2010
    Likes Received:
    2,161
    " Đầu tư ở Việt Nam rất khác Trung Quốc. Họ nhập công nghệ mới, để tự tạo ra máy móc, sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu có sức cạnh tranh với nước ngoài. Ngược lại, Việt Nam là nhập máy móc, nhập nguyên liệu, làm gia công để bán tài nguyên thiên nhiên và lao động rẻ tiền. Có lẽ các nhà làm chính sách hài lòng vì có tốc độ tăng GDP coi được. Nhưng đây là kinh tế ảo, vì về mặt thống kê học, khi có đầu tư thì giá trị đầu tư làm tăng GDP vì nó được tính trực tiếp vào GDP. Mặt trái của đầu tư cao, như trường hợp Vinashin, là tăng nhập siêu và nếu không bán được hàng thì phá sản, đưa đến công nợ không trả được. Nhu cầu ngoại tệ đang tăng cao để nhập máy móc, nhập nguyên liệu và trả nợ nước ngoài. Dự trữ ngoại tệ trước đây là trên 25 tỷ đô-la, mới đây theo IMF chỉ còn 15 tỷ đô-la. Rất tiếc là không có thông tin về dự trữ ngoại tệ hiện nay, nhưng có lẽ còn xuống thấp hơn nữa..."
  8. mrking164

    mrking164 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Feb 2, 2010
    Likes Received:
    2,161
    Bảng Giá TP.HCM : Ngày 21/11/2010

    Vàng Thế Giới : 1353.38

    Vàng SJC Mua : 3551 Bán: 3554

    USD Mua : 2112 - Bán: 2120

    Còn 30 đồng nữa thôi!
  9. mrking164

    mrking164 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Feb 2, 2010
    Likes Received:
    2,161
    Bảng Giá TP.HCM : Ngày 20/11/2010

    Vàng Thế Giới : 1353.38

    Vàng SJC Mua : 3550 Bán: 3554

    USD Mua : 2115 - Bán: 2125. .

    Còn 25d
  10. Garimpeiro

    Garimpeiro Thành viên mới

    Joined:
    Apr 13, 2010
    Likes Received:
    0
    Đúng theo cái đồ thị này thì vui wá :))

Share This Page