1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Gương mặt mốc trong tuần:"Giảm lãi suất để...."kềm" giá"

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by mrking164, Nov 22, 2010.

Có 2851 người đang online, trong đó có 279 thành viên. 15:35 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 1)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. gachoick

    gachoick Thành viên mới

    Joined:
    May 10, 2010
    Likes Received:
    0
    [​IMG]
    Phó GS, TS Trần Hoàng Ngân​

    Trong năm 2010, giá tăng có nguyên nhân do chi phí giáo dục tăng, giá lương thực thế giới tăng kéo giá lương thực trong nước tăng 16%.





    Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiểm soát lạm phát nhưng giá vẫn tăng. Dự kiến chỉ số giá tiêu dùng cả năm 2010 ở mức hai con số. Do vậy, theo PGS.TS Trần Hoàng Ngân - thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, cần phải điều chỉnh chính sách, giúp giảm lãi suất để góp phần kiểm soát giá tốt hơn.

    PGS.TS Trần Hoàng Ngân cho biết:

    Tháng 11 chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tại TP.HCM là 1,73%, còn tại Hà Nội là 1,93%, ước cả nước vào khoảng 1,8%. Như vậy chỉ số CPI 11 tháng đã lên đến 9,4% và dự tính cả năm CPI sẽ ở mức hai con số.


    Trong năm 2010, giá tăng có nguyên nhân do chi phí giáo dục tăng, giá lương thực thế giới tăng kéo giá lương thực trong nước tăng 16%. Ngoài ra, giá xăng dầu thế giới tăng cũng làm nhóm chi phí giao thông vận chuyển tăng.


    Nhìn chung, giá tăng là do chi phí tăng chứ không phải do tiền được bơm ra quá nhiều. Thực tế Ngân hàng Nhà nước đã và đang thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ để chống lạm phát và bảo vệ sức mua của VND. Không chỉ thắt chặt tiền tệ, trong năm 2010 Chính phủ còn ổn định giá xăng dầu thông qua quỹ bình ổn giá, kềm giá điện và than. Một số địa phương vẫn còn hỗ trợ quỹ bình ổn giá các mặt hàng thiết yếu của người dân.

    Vậy đâu là nguyên nhân chính đẩy giá tăng?

    Nền kinh tế VN hiện có độ mở rất lớn, lên đến 140-150%. Độ mở của nền kinh tế được đánh giá thông qua hoạt động xuất nhập khẩu trên tổng sản phẩm quốc nội. Kim ngạch xuất nhập khẩu của VN những năm gần đây khoảng 130-140 tỉ USD, trong khi GDP chỉ trên dưới 100 tỉ USD.


    Với độ mở lớn như vậy, yếu tố giá trong nước phụ thuộc rất lớn vào giá hàng hóa trên thế giới. Năm 2010 kinh tế thế giới phục hồi, giá nguyên vật liệu tăng làm giá trong nước tăng theo. Năm 2009 do suy thoái kinh tế, giá dầu thô chỉ có 60 USD/thùng, nay trên 80 USD/thùng. Giá gạo trên thế giới tăng kéo giá thu mua lúa, gạo trong nước tăng...


    Với nền kinh tế có độ mở lớn, VN phải chấp nhận lạm phát ở mức độ hợp lý, đồng thời phải có cơ chế để khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh thay vì tiếp tục thắt chặt tiền tệ như thời gian qua. Chúng ta cần tăng năng lực sản xuất trong nước để có thêm nhiều hàng hóa, nếu không tới đây sẽ phải nhập nhiều hàng hóa, nhập siêu tăng, gây áp lực lên tỉ giá.

    Có nghĩa là chúng ta phải chấp nhận sống chung với lạm phát và tìm cách giảm áp lực của nó lên đời sống người dân?

    m.


    Vì vậy cần điều chỉnh chính sách, nới lỏng tiền tệ có định hướng, thực chất là giúp giảm lãi suất vay vốn, điều mà từ nhiều tháng qua vẫn chưa làm được. Nếu được vay vốn với lãi suất thấp, doanh nghiệp sẽ bung ra làm ăn, có thêm hàng hóa, cạnh tranh, giá cả sẽ bớt nóng. Cần lưu ý lãi suất tại VN hiện rất cao. Giả sử lạm phát cả năm 2010 là 10% thì lãi suất huy động hiện lên đến 12-13% là vẫn rất cao.


    Mới đây, chúng ta tăng lãi suất cơ bản nhưng giá vẫn tăng. Kéo theo đó là lãi suất vay cũng tăng, càng làm tăng chi phí của doanh nghiệp. Sẽ phức tạp hơn nếu doanh nghiệp vì ngại lãi suất cao mà không dám đầu tư. Ngoài ra, cũng cần có thêm gói hỗ trợ cho các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều này là cần thiết vì cáNhư trên đã phân tích, giá vẫn tăng dù đã thắt chặt tiền tệ. Việc này khiến doanh nghiệp phải chịu lãi suất vay rất cao, họ không muốn đầu tư nữa. Doanh nghiệp có tiền đem gửi ngân hàng hơn là sản xuất kinh doanh, về lâu dài có thể dẫn đến thiếu hụt hàng hóa, không tạo ra được nhiều công ăn việc làc nước sau gói kích thích thứ nhất đã tung ra gói thứ hai để giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn định. Còn tại VN, chúng ta vẫn chưa có thêm gói kích thích thứ hai sau gói hỗ trợ lãi suất.

    Nhưng vừa rồi Ngân hàng Nhà nước đã bơm thêm tiền mà lãi suất đâu có giảm?

    Cần lưu ý rằng việc bơm tiền này được thực hiện trong điều kiện thắt chặt tiền tệ. Tuy nhiên, cũng phải tính toán lại cách bơm tiền, nếu không thì có bơm tiền lãi suất vẫn cao. Thời gian qua,


    Ngân hàng Nhà nước bơm tiền cho các ngân hàng nhưng chỉ một số ngân hàng đủ điều kiện tiếp cận được số vốn rẻ này. Các ngân hàng này đem cho những ngân hàng khác vay lại hưởng chênh lệch. Vốn rẻ trở thành không rẻ và đến tay doanh nghiệp vẫn cao. Cần có cơ chế đặc thù cho phép Ngân hàng Nhà nước bơm vốn rẻ đến một số ngân hàng cần vốn, từ đó vốn đến thẳng doanh nghiệp.

    Lạm phát có xu hướng tăng, nay lại nới lỏng tiền tệ liệu có đổ dầu vào lửa?

    Nới lỏng tiền tệ để giảm lãi suất, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh nhưng vế bên kia là phải thực hiện chính sách tài chính nghiêm ngặt. Phải thắt chặt chi tiêu công. Lạm phát cao hiện nay một phần do chi tiêu công cao và không hiệu quả. Năm tới, với Luật ngân sách mới, bội chi ngân sách chỉ là 5,3% thay vì khoảng 6% như năm 2010.


    Cũng phải xử lý vấn đề đầu cơ hàng hóa và tăng giá không hợp lý. Nếu giải quyết được bài toán lãi suất thì chi phí trả lãi vay ngân hàng của doanh nghiệp giảm. Cuối cùng là giải bài toán tỉ giá. Chính phủ phải can thiệp mạnh vào thị trường ngoại tệ để đưa tỉ giá ổn định, góp phần đưa giá cả được kiểm soát tốt hơn.


    Giải được bài toán lãi suất, tỉ giá sẽ giúp ổn định tâm lý của người dân, bớt những cú sốc do chạy đua lãi suất, tăng tỉ giá..., tạo niềm tin trong dân, góp phần ổn định giá cả trong nước. Nền kinh tế nước ta bị đôla hóa rất cao, vì vậy giá USD tăng là nguyên nhân chính làm CPI tăng cao trong năm 2008 và 2010. Do đó để lạm phát được kiểm soát tốt, thời gian tới cần có đề án giảm tình trạng đôla hóa ở VN.

    Có ý kiến cho rằng so với vàng thì VND vẫn giảm sức mua?

    Vàng không phải là thước đo duy nhất sức mua của VND. Giá vàng tăng do giá thế giới, mình phải chấp nhận nhưng giá phải biến động phù hợp với quy luật chung của giá vàng thế giới.


    Thời gian qua chúng ta điều hành thị trường chưa tốt, tạo ra những cơn sốt giá vàng và USD, từ đó tác động xấu lên giá các loại hàng hóa khác. Vì vậy Ngân hàng Nhà nước và các bộ cần phối hợp, đồng thuận giải quyết dứt dạt câu chuyện về vàng, tỉ giá vì thời gian qua người dân nhấp nhổm chủ yếu là do mức tăng trong nước không bình thường so với thế giới.


    ----------------
    Biện pháp của bác này đưa ra rất hợp lý đối với Việt Nam. Bác này rất hiểu thực trạng kinh tế Việt Nam
    Trong ngắn hạn, không phải lúc nào lạm phát cũng có nguyên nhân từ tiền tệ. Thời điểm 2006-2008, lạm phát tăng cùng với cung tiền M2 (bác nào xem thống kê thì thấy rõ) và tăng trưởng tín dụng cao. Nhưng tín dụng và cung tiền năm nay chỉ quay mức 25%. Mặt khác CPI nếu loại bỏ những mặt hàng dễ biến động như giá lương thực thì tăng không hề cao. Như vậy, lạm phát hai con số của năm nay không bắt nguồn từ cung tiền. Căn nguyên của bệnh không phải từ tiền tệ thì không thể giải quyết bằng tiền tệ được. Đúng như bác này nói, nguyên nhân là đầu tư công không hiệu quả dẫn đến hàng hóa và các nguồn lực tài nguyên bị tiêu dùng lãng phí. Bỏ tiền ra mua 10 kg sắt mới mài được một cây kim thì giá cây kim sẽ bằng giá 10kg sắt. 80,000 tỉ vứt vào đài hóa thân Vinashin mà đem hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì Việt Nam đã chẳng phải phí USD đi nhập hàng trung quốc kém chất lượng làm gì.



    Nếu bác nào nghiên cứu về lạm phát kĩ thì chắc hiểu thế nào là lạm phát cơ cấu. Đối với những nước quá trình ccông nghiệp hóa nhanh, tốc độc chuyển dịch từ sx nông nghiệp sang công nghiệp mạnh nhưng không có kế hoạch tăng năng suất hiệu quả dễ dẫn đến lạm phát , đặc biệt là lạm phát giá lương thực. Nguyên nhân là quĩ đất nông nghiệp bị chiếm dụng chuyển sang công nghiệp ( Thái Bình, Nam ĐỊnh, những khu vực sx nông nghiệp truyền thống đều thi nhau xây dựng khu công nghiệp), nên nông dân sẽ không còn đất canh tác, do vậy giá nông sản tăng cao. Đặc biệt, nếu việc chuyển dịch không hiệu quả thì, đất bị để không thì vấn đế này còn nặng hơn nữa. Nếu Vinashin và các Tập đoàn nhà nước không ôm một đống đất rồi vứt không đấy, các dự án sân golf vẽ ra rồi quây hàng rào vứt đấy, thì Vietnam đã không phải nhập su hào và cải bắp trung quốc. Giá thực phẩm đã không tăng kinh vậy.
  2. pckids

    pckids Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Jul 8, 2004
    Likes Received:
    0
    Nói ngắn gọn, phát biểu của giáo sư Ngân gây ra nhiều tranh cãi do thiếu phân tích chiều sâu, đi ngược lại các lý thuyết chính thống hiện nay.

    Nói về kinh tế học, lý thuyết vĩ mô của kinh tế học tiền tệ cơ bản nhất hiện giờ, mô hình IS-LM không cho phép mở rộng tiền tệ theo lý do như thế này. Mọi biện pháp nới lỏng tiền tệ mà không tương ứng với tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế đều gây ra việc tăng chỉ số giá (tăng theo hệ số nhân).

    Do đó tôi nghĩ chúng ta nên ngầm hiểu GS Ngân đang nói về ngắn hạn. Và chúng ta đã có bài học hỗ trợ lãi suất, nhanh chóng khoát khỏi khủng hoảng nhưng cũng nhanh chóng ngập trong vũng vầy hiện nay. Vòng lẩn quẩn sẽ không thể thoát ra nếu chúng ta áp dụng chính sách tiền tệ một cách tự phát như thế này.

    Thực ra công cụ hựu hiệu để giải quyết vấn đề là chính sách tài khóa. Nhưng ở VN thì chính sách tài khóa lại được sử dụng để tạo ra những vũng lầy như hiện nay. Và chính sách tiền tệ phải đứng ra giải quyết những vấn đề vượt quá chức năng của nó --> GS Ngân đang bị nhầm lẫn ở chỗ này.

    Một điều khác biệt mà các bạn cần phải biết, tại sao nước ngoài người ta gọi là ngân hàng trung ương mà VN gọi là ngân hàng nhà nước??? Vì tính độc lập của state bank of VN rất thấp so với các central bank ở những nước khác. Nó bị lợi dụng để làm những việc ngoài chức năng của nó, --> không đủ linh hoạt, tự do để điều chỉnh những vấn đề quan trọng khác là BỘ BA BẤT KHẢ THI (chính sách tiền tệ - tỷ giá - dòng vốn bên ngoài)

    Kết luận: bộ tài chính phải chịu trách nhiệm chính trong việc thanh toán lạm phát và ngân hàng nhà nước chịu trách nhiệm trong việc ổn định tỷ giá. Không được đổ mọi thứ lên state bank thưa GS Ngân !!!!!!!!!!!!!!!!

Share This Page