1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Hãy giành chút thời gian đọc để biết nên làm gì lúc này nhé .

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by quocdai307, Mar 18, 2011.

Có 14760 người đang online, trong đó có 311 thành viên. 15:32 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 1)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. quocdai307

    quocdai307 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Nov 22, 2009
    Likes Received:
    3,984
    Chào anh em, trước khi quyết định tất tay hay short hàng hôm nay, hãy đọc trước nhé [r2)]





    Thứ Năm, 17/03/2011 | 13:49

    Phản hồi: 9 | A A A


    Lạm phát: Cần hiểu đúng và có những phản ứng phù hợp

    http://*********.vn/ImageView.aspx?ThumbnailID=31166
    Lạm phát đang trở thành nỗi ám ảnh của Việt Nam (*********) – Lạm phát đang tăng rất mạnh trở thành nỗi ám ảnh của nhiều người và cả những nhà làm chính sách. Tuy vậy, không phải ai cũng hiểu đúng về lạm phát dù danh từ này xuất hiện dày đặc trên các phương tiện truyền thông trong thời gian gần đây.
    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích một số khái niệm liên quan đến lạm phát. Việc hiểu rõ bản chất của lạm phát là điều quan trọng, giúp cho chúng ta có được những cách phản ứng phù hợp trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay.
    Hai quan điểm về lạm phát: Tiền tệ và tổng hợp
    Theo các định nghĩa chính thống trong sách giáo khoa kinh tế thì lạm phát (inflation) được coi là hiện tượng lượng tiền lưu thông tăng vượt quá sự tăng trưởng hàng hóa sản xuất ra. Hiện tượng này dẫn đến giá cả của hầu hết các hàng hoá trong nền kinh tế không ngừng tăng lên. Đây có thể coi là khái niệm nguyên bản về lạm phát.
    Khái niệm về lạm phát được trình bày ở trên được mô tả theo quan điểm của trường phái tiền tệ. Đại diện cho trường phái này là hai nhà kinh tế học Milton Friedman và John Maynard Keynes.

    * Gỡ nút thắt thị trường chợ đen: Không chỉ dùng các biện pháp hành chính
    * Tín hiệu vĩ mô 2008 và 2011 – Tương đồng và khác biệt
    Trường phái tiền tệ cho rằng lạm phát chỉ xuất hiện do nguyên nhân tiền tệ còn các nguyên nhân khác như “cầu kéo” hoặc “chi phí đẩy” đối với hàng hoá không thể xảy ra lâu dài và thường xuyên, mà chỉ có tính chất tạm thời.
    Tuy nhiên, quan điểm về lạm phát tiền tệ gặp phải một trở ngại là việc xác định khối lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông là không khả thi, vì thực tế tổng lượng hàng hoá, dịch vụ luân chuyển trong nền kinh tế luôn biến động. Ngoài ra, vòng quay tiền cũng không ổn định và mục đích sử dụng tiền cũng luôn thay đổi. Do vậy, chúng ta chỉ có thể nhận diện ra lạm phát qua dấu hiệu hàng hoá, dịch vụ tăng giá. Vì những nguyên nhân này mà đa số các nhà kinh tế học đã đồng nhất tỷ lệ lạm phát với tỷ lệ tăng giá.
    Điển hình là nhà kinh tế học Paul Samuelson cho rằng lạm phát có thể xuất phát từ các nguyên nhân sau: (1) Nguyên nhân cầu kéo (do các cơn sốc về nhu cầu hàng hoá tiêu dùng); (2) Nguyên nhân phí phí đẩy (do các cơn sốc về phía cung); hoặc (3) Nguyên nhân xuất phát từ tâm lý (kỳ vọng) về lạm phát tăng mạnh trong tương lai; (4) Cung tiền tăng nhanh hơn lượng hàng hóa sản xuất (giống trường phái tiền tệ).
    Sự khác biệt cơ bản trong quan điểm về các nguyên nhân gây ra lạm phát của hai quan điểm về lạm phát ở trên là quan điểm tổng hợp của Paul Samuelson cho rằng giá cả hàng hoá gia tăng dù là tạm thời cũng có thể coi là có lạm phát. Trong khi đó, trường phái tiền tệ mà đại diện là Milton Friedman và John Maynard Keynes thì cho rằng chỉ khi mức giá chung tăng lên liên tục trong một quá trình kéo dài có tính quy luật thì mới gọi là lạm phát.
    Tác hại và lợi ích của lạm phát đối với nền kinh tế
    Theo Gregory Mankiw thì lạm phát gây ra 5 tổn thất sau:
    (1) Làm giảm sức mua của đồng tiền. Vì vậy, lạm phát đồng nghĩa với một loại thuế vô hình lấy đi một phần thu nhập của công dân và những người nắm giữ tiền mặt.
    (2) Buộc các doanh nghiệp phải thay đổi biểu giá thường xuyên. Việc thay đổi này gây ra chi phí cho doanh nghiệp.
    (3) Gây ra thay đổi giá tương đối trong khi đó người sản xuất và tiêu dùng không thích ứng kịp. Nền kinh tế thị trường dựa vào giá tương đối để phân bố nguồn lực một cách hiệu quả. Lạm phát làm cho việc phân bố nguồn lực trở nên kém hiệu quả, khi xét dưới góc độ kinh tế học vi mô.
    (4) Làm giảm nguồn thu thuế do nhiều điều khoản của luật thuế không tính đến tác động của lạm phát. Lạm phát có thể thay đổi nghĩa vụ thuế của cá nhân mà người làm luật không lường hết được.
    (5) Gây ra bất tiện cho cuộc sống trong một thế giới mà giá cả thị trường thường xuyên thay đổi. Tiền là thước đo mà trong đó chúng ta tính chi phí các giao dịch kinh tế. Lạm phát làm cho thước đo này co giãn, làm đảo lộn kế hoạch tài chính cá nhân và doanh nghiệp.
    Như vậy, có thể thấy lạm phát gây ra nhiều mặt tiêu cực cho xã hội và nền kinh tế. John Maynard Keynes đã chỉ trích gay gắt và vạch rõ bản chất của lạm phát gây ra những thiệt hại không gì bù đắp nổi cho nhân loại.
    Tuy nhiên, trên thực tế lạm phát không hẳn là hoàn toàn có tác động tiêu cực. Trong cuốn “Lý thuyết về việc làm, tiền tệ và lãi suất”, Keynes đã chủ trương thực hiện chính sách tiền tệ giảm giá.
    Lập luận của Keynes cho rằng trong điều kiện kinh tế trì trệ, thất nghiệp tăng cao thì chính phủ có thể chi tiêu nhiều hơn (chính tài khóa mở rộng) và duy trì một tỷ lệ lạm phát nhất định để kích thích kinh tế tăng trưởng.
    Lập luận này của ông dựa trên cơ sở là khi tiền giảm giá trị, người dân có xu hướng tiêu dùng cho sinh hoạt và sản xuất nhiều hơn là tích luỹ. Việc tiêu dùng này làm tăng tổng cầu, đẩy nhanh vòng quay vốn và vực dậy sản xuất thoát khỏi vòng suy thoái.
    Thực tế, lý thuyết này được áp dụng một cách có hiệu quả vào những năm sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, giúp một loạt các quốc gia thoát khỏi vòng suy thoái.
    Trong đợt khủng hoảng kinh tế năm 2008, mối lo sợ nhất của nhiều nền kinh tế là giảm phát. Vì vậy, hầu hết các quốc gia đều thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng để chống suy thoái kinh tế và giảm phát. Chính sách này đã đạt được những thành công nhất định.
    Tuy nhiên, nếu chính sách tiền tệ nới lỏng bị lạm dụng quá mức, không phù hợp với hoàn cảnh kinh tế sẽ khiến thâm hụt ngân sách kéo dài, lạm phát tăng cao và có thể dẫn đến nguy cơ khủng hoảng kinh tế.
    CPI chỉ là một trong các chỉ số đo lường lạm phát
    Nhiều người (kể cả nhiều nhà báo viết về kinh tế) thường đồng nhất khái niệm lạm phát với tỷ lệ tăng Chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Thực tế, hai khái niệm này có những khác biệt nhất định.
    Hiện nay, quan điểm về lạm phát như nhà kinh tế học Paul Samuelson được sử dụng rộng rãi, tức là lạm phát đồng nhất với việc tăng giá của hàng hóa và dịch vụ. CPI chỉ là một trong những chỉ số đo lường mức độ lạm phát/tăng giá trong nền kinh tế.
    Ngoài CPI rất nhiều chỉ số khác được sử dụng để giúp có một cái nhìn toàn diện về giá cả trong nền kinh tế, như chỉ số khử lạm phát (GDP deflator), chỉ số giá nhà sản xuất, lạm phát lõi/cơ bản (core inflation), chỉ số giá bán lẻ …
    Mặc dù CPI vẫn được sử dụng khá phổ biến để phản ánh mức độ lạm phát nhưng việc đo lường không hoàn toàn chính xác. Tính toán CPI còn mang nhiều ý nghĩa chủ quan và đôi khi không phản ánh đúng mức tăng giá thực tế.
    Tại Việt Nam đã có nhiều đề xuất về việc tính chỉ số lạm phát cơ bản thay cho CPI làm cơ sở cho việc điều hành chính sách tiền tệ. Dù vậy, đề xuất này đến nay vẫn chưa được chấp thuận để áp dụng chính thức.
    Lạm phát cao của Việt Nam và thận trọng trong phản ứng
    Vừa qua tỷ giá USD/VND, giá xăng dầu và giá điện đồng loạt được điều chỉnh tăng. Sau động thái điều chỉnh này, giá hàng hóa tăng là không thể tránh khỏi.
    Đối với những người theo trường phái tiền tệ thì việc tăng giá này không gọi là lạm phát. Trong khi đó, theo cách hiểu thông thường thì đây vẫn là lạm phát.

    http://*********.vn/ImageView.aspx?ThumbnailID=31165 Chúng tôi cho rằng CPI tăng bởi việc điều chỉnh tỷ giá, giá xăng dầu, giá điện và giá các mặt hàng cơ bản khác không hoàn toàn chỉ có nghĩa tiêu cực khi nhìn về tổng thể. Sự tăng giá này chỉ là sự phân phối lại nguồn lực trong nền kinh tế chứ không phải làm suy giảm mức sống chung của toàn bộ người dân và của toàn bộ nền kinh tế.
    Về mặt lý thuyết kinh tế học, nếu giá cả phản ánh đúng quy luật cung cầu và chi phí làm ra nó thì nguồn lực toàn xã hội sẽ được phân bố một cách tối ưu nhất.
    Ngoài ra, cũng cần lưu ý là Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá là điều bất khả kháng, giá xăng dầu và giá điện cũng không thể bán dưới giá thành vì ngân sách nhà nước không thể trợ cấp giá cho những mặt hàng này mãi mãi.
    Đối với tình trạng lạm phát cao của Việt Nam hiện nay, chúng tôi cho rằng nguyên nhân căn bản không phải là từ việc điều chỉnh giá điện, than, xăng dầu và giá hàng hóa thế giới tăng hay tỷ giá. Những nguyên nhân đó không thể giải thích được việc lạm phát Việt Nam tăng cao liên tục trong nhiều năm qua và cao vượt trội so với phần lớn các nền kinh tế khác.
    Bằng các nghiên cứu định lượng, chúng tôi nhận thấy lạm phát của Việt Nam xuất phát chủ yếu là do tính chất nội tại của nền kinh tế là hiệu quả đầu tư thấp và tăng trưởng cung tiền quá cao.
    Các điểm “thắt cổ chai“ của nền kinh tế làm cho hiệu quả đầu tư thấp. Vì hiệu quả đầu tư thấp nên để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, Việt Nam luôn phải duy trì một tỷ lệ đầu tư rất cao và dẫn đến tăng trưởng tín dụng và cung tiền cao.
    Trong khi đó, tăng trưởng hàng hóa sản xuất ra thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng cung tiền làm xuất hiện việc dư thừa tiền trong nền kinh tế (tăng trưởng cung tiền luôn cao gấp nhiều lần tăng trưởng GDP thực).
    Như vậy, dù lạm phát cao nhưng điều quan trọng hơn là chúng ta cần hiểu rõ bản chất của tình trạng lạm phát hiện nay để có những phản ứng phù hợp.
    Những nhà hoạch định chính sách cần có chính sách hợp lý để bảo đảm an sinh xã hội và việc thắt chặt chính sách tiền tệ quá mức chưa hẳn là lời giải đầy đủ và tốt nhất cho vấn đề lạm phát hiện nay của Việt Nam.
    Đối với người dân và doanh nghiệp cần hiểu rõ bản chất và các nguyên nhân của lạm phát để tránh những phản ứng thái quá làm ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình sản xuất kinh doanh.
    Hồ Bá Tình, Phòng Nghiên cứu *********


    http://*********.vn/ChannelID/582/T...n-hieu-dung-va-co-nhung-phan-ung-phu-hop.aspx


    ​
  2. quocdai307

    quocdai307 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Nov 22, 2009
    Likes Received:
    3,984
    Hãy short mạnh vào để biết cảm giác cháy tài khoản do short hàng là như thế nào nhé
  3. quocdai307

    quocdai307 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Nov 22, 2009
    Likes Received:
    3,984
    Bàn về thông tư 02 của NHNN: từ lãi suất đến lợi ích
    ( Bình chọn: 0 [​IMG] -- Thảo luận: 0 -- Số lần đọc: 72)

    www.SAGA.vn - Những biện pháp hành chính này sẽ tạo ra tình huống “rủi ro về đạo đức”, tạo điều kiện để các ngân hàng hoạt động bất kể rủi ro. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Thông tư 02, quy định lãi suất huy động vốn tối đa bằng tiền đồng Việt Nam của các ngân hàng, bao gồm cả khuyến mại dưới mọi hình thức, là 14%/năm.

    Thông tư 02 – diễn biến bất thường

    Theo luật, các ngân hàng được quyền ấn định mức lãi suất huy động vốn, thậm chí giữa ngân hàng và khách hàng luật còn cho phép hai bên thỏa thuận về lãi suất, tại sao NHNN có quyền ấn định một mức lãi suất trần như thế? Đó là bởi, ngoài việc khẳng định các quyền nói trên, Luật các tổ chức tín dụng vừa mới có hiệu lực từ đầu năm nay còn quy định: “Trong trường hợp hoạt động ngân hàng có diễn biến bất thường, để bảo đảm an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng, NHNN có quyền quy định cơ chế xác định phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng”.

    Đây là lần đầu tiên NHNN áp dụng cơ chế này bằng một thông tư vì những lần trước đây, NHNN đều phải thông qua Hiệp hội Ngân hàng để duy trì một mức trần lãi suất huy động nào đó.

    Như vậy điều có thể kỳ vọng đầu tiên là cơ chế áp dụng trần lãi suất huy động sẽ không phải là chuyện thường xuyên mà chỉ áp dụng khi “có diễn biến bất thường” mà thôi. Bởi áp dụng một cơ chế như thế thông qua sự đồng thuận của các thành viên Hiệp hội Ngân hàng đã là chuyện “phản cạnh tranh”, còn bằng một văn bản chính thức thì càng làm thị trường méo mó.

    Dễ nhận thấy nhất là trong khi lãi suất cho vay không còn trần nào nữa cả và lãi suất huy động tối đa là 14% thì lợi ích của người dân gửi tiền và doanh nghiệp vay tiền đã bị xâm phạm một cách rõ rệt. Được lợi nhất trong tình hình này là các ngân hàng một khi chênh lệch hai loại lãi suất này giãn ra mà không theo quy luật cung cầu.

    Thế thì vì sao không để các ngân hàng cạnh tranh thu hút tiền gửi bằng lãi suất? Thực tế không thể để các ngân hàng thoải mái nâng lãi suất huy động lên được vì nếu một ngân hàng dù nhỏ, dù không có uy tín, nâng lãi suất lên 17% chẳng hạn thì lập tức người gửi tiền sẽ rút tiền gửi ở các ngân hàng khác, đổ xô đến gửi tại ngân hàng này. Điều đó sẽ kích động một cuộc đua lãi suất mà thực tế đã nhiều lần xảy ra. Sẽ có ngân hàng lâm vào cảnh thanh khoản cạn kiệt, và lãi suất sẽ bị đẩy lên cao không có điểm dừng.

    Vì thế, một mặt, có thể hiểu được tính logic của Thông tư 02 nhưng mặt khác, không thể để tình trạng “phản cạnh tranh” này kéo dài. Những biện pháp hành chính này sẽ tạo ra tình huống “rủi ro về đạo đức”, tạo điều kiện để các ngân hàng hoạt động bất kể rủi ro. Mấu chốt của vấn đề là do quan niệm cho rằng không thể để bất kỳ ngân hàng nào trong hệ thống lâm vào khó khăn. Nhưng giả sử cứ áp dụng luật pháp thật nghiêm minh, cứ để một hai ngân hàng yếu kém thua lỗ đến mức phải bán lại hay sáp nhập vào ngân hàng khác, biết đâu sẽ phá bỏ được mâu thuẫn nói trên.

    Khi các ngân hàng được “tự do”


    Giả sử không còn trần lãi suất huy động vốn, chắc chắn sẽ có ngân hàng nâng lãi suất này lên cao. Lúc đó, NHNN sẽ phải tuyên truyền thật mạnh về khái niệm “lợi nhuận cao đi liền với rủi ro cao” để người dân cân nhắc giữa cái lợi trước mắt và tính an toàn cho đồng tiền của họ. Kèm theo đó là những quy định phạt đối với những khoản tiền gửi rút trước thời hạn để chi phí chạy theo lãi suất cao không còn hấp dẫn với người gửi tiền nữa. Ngân hàng huy động vốn lãi suất cao ắt phải cho vay với lãi suất cao tương ứng. Không một ngân hàng nào có thể chịu mức lãi suất huy động vốn quá cao trong một thời gian dài trong khi ngân hàng khác vẫn giữ mức lãi suất huy động thấp. Chỉ một thời gian ngắn, họ sẽ phải giảm lãi suất quay về với mức chung của thị trường.

    Chính lúc này vai trò giám sát của NHNN phải phát huy tác dụng để ngăn chặn những hoạt động rủi ro của ngân hàng. Hạn chế tín dụng cho những ngành sẵn sàng chấp nhận lãi suất cao cũng giúp giảm áp lực chạy đua theo lãi suất như cho vay kinh doanh chứng khoán.

    Nếu ngân hàng nào gặp khó khăn trong thanh khoản, phải huy động vốn bằng mọi giá, nên công khai tên tuổi ngân hàng đó ra để người dân biết và không chạy theo lợi nhuận từ lãi suất hấp dẫn. Và NHNN phải sẵn sàng đưa áp dụng tình trạng kiểm soát đặc biệt như từng làm trước đây với một số ngân hàng. Tất cả những biện pháp này, áp dụng đồng thời và cương quyết, sẽ hạn chế tình trạng chạy đua nâng lãi suất vô tội vạ.

    Bằng không, sẽ vẫn còn những ngân hàng, lợi dụng việc họ không phải chịu trách nhiệm cho những hoạt động có rủi ro của họ, để hoạt động theo cách có hại cho hệ thống.

    www.SAGA.vn - thuynt2006 - TBKTSG​
  4. cuong_aden

    cuong_aden Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Mar 30, 2010
    Likes Received:
    237
  5. quocdai307

    quocdai307 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Nov 22, 2009
    Likes Received:
    3,984
    Thứ Năm, 17/03/2011 | 11:04

    Phản hồi: 3 | A A A


    Năm 2020: Tổng giá trị vốn hóa thị trường đạt từ 70%-100% GDP

    http://*********.vn/ImageView.aspx?ThumbnailID=31163 Đề án phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2011-2020 đã được Ủy ban Chứng khoán xây dựng và trình Bộ Tài chính, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nhằm định hướng phát triển thị trường chứng khoán theo một quỹ đạo an toàn và bền vững hơn.
    Theo ông Nguyễn Thành Long, Phó vụ trưởng Vụ Quản lý quỹ - Ủy ban Chứng khoán, sau những thành tựu nổi bật đã đạt được trong 10 năm qua, việc nhận diện hạn chế và xây dựng một chiến lược phát triển thị trường chứng khoán cho giai đoạn tới là điều cần thiết, khi thị trường chứng khoán có vẻ như đã đạt tới những ngưỡng cuối cùng theo định hướng phát triển trước đây.
    “Sự phát triển mạnh trải theo bề rộng của thị trường chứng khoán, sự phát triển về lượng trong giai đoạn 2000-2010 đã giúp thị trường chứng khoán thăng hoa và sẽ tạo đà cho sự phát triển của thị trường chứng khoán trong thập kỷ sắp tới nếu tìm được đúng điểm nhấn. Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán trong giai đoạn tới vì vậy, vừa phải kế thừa những nội dung tốt nhằm duy trì sự phát triển này, mặt khác, phải xác định các điểm đột phá nhằm thúc đẩy sự phát triển theo một định hướng mới căn bản hơn, phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, đáp ứng nhu cầu thị trường và nhu cầu của cả nền kinh tế”, ông Long cho biết.
    Điểm đột phá của chiến lược phát triển thị trường chứng khoán trong giai đoạn 2011-2020, theo ông Long, chính là sự phát triển về chất của thị trường chứng khoán. Với tinh thần đó, chiến lược này một mặt vẫn phải bao hàm đầy đủ các giải pháp phát triển mà Ủy ban Chứng khoán, Bộ Tài chính đã và đang thực hiện, mặt khác, có nhấn mạnh một cách rõ nét hơn các giải pháp mang tính đột phá, tạo một diện mạo mới cho quá trình phát triển của thị trường chứng khoán.
    Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán giai đoạn sắp tới sẽ hướng tới mục tiêu: tăng quy mô, củng cố tính thanh khoản cho thị trường chứng khoán, phấn đấu đưa tổng giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt từ 70% đến 100% GDP vào năm 2020, tăng tính hiệu quả cho thị trường trên cơ sở tái cấu trúc tổ chức thị trường chứng khoán, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, chuyên nghiệp hóa việc tổ chức và vận hành hạ tầng công nghệ thông tin, nâng cao sức cạnh tranh của các định chế trung gian thị trường, các tổ chức phụ trợ thị trường và của thị trường chứng khoán Việt Nam, tăng cường năng lực quản lý, giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm, củng cố lòng tin của nhà đầu tư...
    Để đạt được những mục tiêu trên, giải pháp đầu tiên được tính đến là: hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao năng lực quản lý.
    Trong đó, giai đoạn 2011-2013 tập trung hoàn thiện hệ thống văn bản trên cơ sở Luật Chứng khoán và Luật Chứng khoán sửa đổi..., tiến tới xây dựng Luật Chứng khoán thế hệ thứ hai vào năm 2015 với mức độ tự do hóa hoạt động thị trường cao hơn.
    Đồng thời, là việc cải thiện chất lượng và đa dạng hóa nguồn cung thông qua việc: từng bước nâng cao điều kiện niêm yết, củng cố chế độ công bố thông tin theo lớp trên cơ sở quy mô vốn và số lượng cổ đông của các công ty đại chúng, thể chế hóa các chuẩn mực và thông lệ quốc tế về quản trị công ty, quản trị rủi ro và bảo vệ nhà đầu tư thiểu số...
    Cùng với đó, chiến lược cũng tập trung vào việc phát triển nhà đầu tư tổ chức (quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm), coi việc phát triển nhà đầu tư tổ chức là giải pháp mang tính đột phá nhằm hướng tới sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán.
    Theo ông Long, cơ sở cho nhà đầu tư là một trọng tâm của chiến lược phát triển thị trường chứng khoán trong giai đoạn 2010-2020, trong đó đặc biệt chú ý phát triển: hệ thống các loại hình quỹ đầu tư như quỹ mở, quỹ đóng, quỹ ETF, quỹ bất động sản..., khuyến khích phát triển các sản phẩm liên kết bảo hiểm và triển khai hệ thống các quỹ hưu trí tự nguyện, hướng tới hệ thống an sinh xã hội dựa trên ba trụ cột theo thông lệ quốc tế...
    Đồng thời, tiếp tục khuyến khích sự tham gia của nhà đầu tư cá nhân, khai thác cơ sở nhà đầu tư nước ngoài, theo hướng tập trung khuyến khích tổ chức đầu tư nước ngoài có mục tiêu đầu tư dài hạn.
    Ngoài ra, chiến lược cũng đề cao giải pháp mang tính chiến lược như: nâng cao năng lực và sức cạnh tranh cho hệ thống các tổ chức trung gian thị trường, đặc biệt chú trọng tới việc nâng cấp và chuẩn hóa hệ thống quản trị rủi ro tại các tổ chức này theo thông lệ quốc tế, củng cố lòng tin thị trường, đa dạng hóa và đồng bộ hóa cấu trúc thị trường, tập trung phát triển thị trường trái phiếu chính phủ, từng bước phát triển thị trường trái phiếu công ty và thị trường phái sinh, kết hợp với việc tái cấu trúc tổ chức thị trường, hướng tới một hệ thống thị trường hoàn thiện và hiện đại hóa.
    Hoàng Xuân
    TBKTVN

    ​
  6. Honza

    Honza Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Dec 4, 2010
    Likes Received:
    0
    Nói dài nói rai thành nói dại.
  7. quocdai307

    quocdai307 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Nov 22, 2009
    Likes Received:
    3,984
    Nó hiển hiện trước mắt rồi mà còn phán là người viết bài nói dại :-o

    Còn tiền mặt thì nên đem gửi ngân hàng đi không thôi không gửi được lãi suất cao đâu, nhanh nhé [:D]
  8. quocdai307

    quocdai307 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Nov 22, 2009
    Likes Received:
    3,984
    Xử lý tin đồn

    Nhiều đối tượng tung tin đồn thất thiệt để để "đục nước béo cò" đối với một hoặc một số cổ phiếu nhất định.

    Tuần này, cơ quan cảnh sát điều tra đã xác định được đối tượng tung tin đồn phát hành tờ tiền mệnh giá 1 triệu đồng. Tin đồn này có thể đã gây ra tâm lý hoang mang với những người không thạo tin và cũng không có nhiều kinh nghiệm về vấn đề này.
    Loại tin đồn thất thiệt kiểu như vậy vẫn thường xuất hiện liên quan đến thị trường chứng khoán, phần lớn là theo hướng "đổ thêm dầu vào lửa" để "đục nước béo cò" đối với một hoặc một số cổ phiếu nhất định.
    Ví dụ, hiện tượng cổ phiếu HAG liên tục giảm sàn trong những ngày đầu tuần này, nhiều khả năng, có liên quan đến hàng loạt tin đồn. Loại tin đồn đã cũ là HAG bị ngân hàng siết nợ, tin đồn mới là HAG bị Lào kiện; không phát hành thành công trái phiếu quốc tế hay tin quỹ VEIL (thuộc Dragon Capital) thoái vốn.
    Các tin đồn này đều không có cơ sở vì HAG còn một lượng tiền mặt rất lớn, thể hiện trên báo cáo tài chính. Với lượng tiền này, và với vị thế và kinh nghiệm của mình, HAG không dễ để xảy ra những tình trạng như các tin đồn nêu ra. HAG cũng vừa công bố thông tin đầu tư khu công nghiệp ở Lào, và việc phát hành trái phiếu quốc tế còn đang trong quá trình chuẩn bị. Đó là những công bố đáp lại tin đồn.
    Tương tự, trước đó, SSI cũng đã "dính" tin đồn không đủ tiền thanh toán trái phiếu chuyển đổi đến hạn.
    Trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay, tin đồn rất dễ lan truyền khi được hỗ trợ bởi ác dạng "mạng xã hội".
    Để đối phó với tin đồn, trước tiên cần sự minh bạch và cập nhật thông tin của chính các đối tượng thông tin (các doanh nghiệp) cũng như sự nâng cao hiểu biết của các nhà đầu tư về lĩnh vực chứng khoán nói chung và về các doanh nghiệp đại chúng nói riêng. Nhiều tin đồn có thể dễ dàng kiểm chứng nếu nhìn vào báo cáo tài chính của các công ty đó.
    Ở tầm vĩ mô, nếu các cơ quan điều hành chính sách liên tục công khai chính sách, thông tin, lý giải và nhất quán chính sách, chắc chắn, các tin đồn thất thiệt kiểu như tin phát hành tiền mệnh giá 1 triệu VND sẽ không có chỗ đứng.
    Việc cơ quan chức năng điều tra và xác định được đối tượng tung tin đồn và nếu được xử lý nghiêm sẽ góp phần không nhỏ trong răn đe sau này. Tuy nhiên, bắt được kẻ tung tin đồn không phải là một công việc dễ dàng và mang tính thụ động. Vì vậy, đây không thể được coi là giải pháp chính để giải quyết hiện tượng tin đồn trong xã hội. Cốt lõi của vấn đề là "cây ngay không sợ chết đứng", nhưng "cây ngay" cũng cần phải biết công bố thông tin về mình để tạo dựng lòng tin trong xã hội.
    Theo Thu Hương
    ĐTCK​
  9. blackhole2011

    blackhole2011 Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Jan 13, 2011
    Likes Received:
    0
    Lạm phát cao thị trường vẫn tăng mạnh là được

    Cần gì phải lo nhiều =))=))=))=))
  10. quocdai307

    quocdai307 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Nov 22, 2009
    Likes Received:
    3,984
    Quý 1: Lạm phát 6,1%, GDP tăng 5,5%

    [​IMG] [​IMG] Đây là 2 trong số những kết quả kinh tế - xã hội quan trọng của 3 tháng đầu năm được Bộ Kế hoạch & Đầu tư báo cáo tại hội nghị giao ban trực tuyến của Chính phủ 18/3.

    Theo báo cáo này, bất chấp tình hình trong nước và quốc tế còn nhiều khó khăn, kinh tế - xã hội của Việt Nam trong 3 tháng đầu năm đã có những chuyển biến tích cực nhờ những động thái đúng lúc, đồng bộ của các cơ quan chức năng trong việc thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ.
    Cụ thể, tốc độ tăng GDP quý một đạt 5,5%, xấp xỉ mức tăng trưởng cùng kỳ 2010. Xuất khẩu trong 3 tháng cũng tăng trưởng mạnh với mức tăng 31%, cao gấp 3 lần đề ra. Trong khi đó, thu ngân sách Nhà nước, tính đến hết tháng 2, tăng 17,6% so với cùng kỳ.
    Về tiền tệ và tín dụng, nhờ các biện pháp đồng bộ về huy động vốn, cho vay, lãi suất và tỷ giá… thị trường tín dụng và ngoại hối đã dần đi vào ổn định. Tính đến 10/3, tổng dư nợ tín dụng mới tăng 3,68% (so với mục tiêu dưới 20% của cả năm). Tổng phương tiện thanh toán tăng 1,7%. Mặt bằng lãi suất huy động giảm từ 16-17% xuống 13-14%.
    Chính phủ và Bộ Kế hoạch & Đầu tư cho rằng mặc dù đã có những biện pháp tích cực để kiềm chế nhưng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong quý một vẫn tăng tới 6,1% so với thời điểm cuối năm 2010 (chỉ tiêu Quốc hội đề ra cho cả năm là kiềm chế lạm phát dưới 7%). Riêng trong tháng 3, giá tiêu dùng đã tăng đến 2,2%.
    Lạm phát tăng cao, đồng thời phải kiểm soát chặt chẽ tiền tệ, theo Chính phủ, đã đẩy mặt bằng lãi suất cho vay lên cao, gây khó khăn cho sản xuất - kinh doanh và đầu tư. Do vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tuy vẫn được đánh giá ở mức khá, nhưng đã có dấu hiệu chậm lại.
    Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng *************** cho rằng tình hình quý một vừa qua, bên cạnh những thuận lợi, còn tồn tại nhiều khó khăn lớn như giá xăng dầu, nguyên vật liệu đầu vào tăng cao, biến động chính trị ở Bắc Phi, Trung Đông và mới đây là động đất, sóng thần ở Nhật… Trong khi đó, với điều kiện hội nhập sâu, Việt Nam không thể tránh khỏi ảnh hưởng trong khi trong nước vẫn phải thắt chặt chính sách tài khóa, tiền tệ, giảm đầu tư công. Sản xuất, do đó, sẽ gặp nhiều khó khăn.
    Tuy vậy, Thủ tướng cũng cho rằng, trong hoàn cảnh như vậy, các cơ quan chức năng và toàn nền kinh tế phải biết tranh thủ thời cơ, phát huy thuận lợi để quyết tâm thực hiện bằng được các giải pháp Chính phủ đã đề ra tại Nghị quyết 11 và Kết luận số 02 của Bộ Chính trị vừa qua. Đại diện Chính phủ cũng đề nghị các bộ ngành, địa phương rà soát lại kế hoạch, chương trình hành động để đạt hiệu quả cao, tích cực chỉ đạo tháo gỡ khó khăn để phát triển sản xuất.
    Đối với việc kiểm soát giá, Thủ tướng đề nghị các ngành, địa phương, trong thời gian tới phải tăng cường quản lý giá cả, nhất là các mặt hàng thiết yếu, trong đó coi trọng giá thuốc, sữa, chống đầu cơ, nâng giá… Riêng đối với giá xăng dầu, Thủ tướng yêu cầu dù khó khăn nhưng vẫn phải kiên quyết thực hiện theo cơ chế thị trường đi đôi với việc bảo đảm nguồn cung, tăng cường tiết kiệm trong sử dụng.
    Về tiền tệ, Chính phủ giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo việc bảo đảm tổng dư nợ tín dụng không quá 20%, dành nguồn vốn cho sản xuất và kiểm soát lãi suất ở mức phù hợp. Thủ tướng yêu cầu kiên quyết thực hiện tốt việc quản lý thị trường ngoại hối, quản lý thị trường vàng theo lộ trình phù hợp theo kinh tế thị trường, bảo đảm lợi ích của người dân và doanh nghiệp.
    Thủ tướng cũng đề nghị Bộ Tài Chính có kế hoạch bảo đảm thu chi, nhất là tiết kiệm chi 10%, nỗ lực giảm bội chi. Đại diện Chính phủ cũng giao Bộ Kế hoạch & Đầu tư chủ trì việc rà soát các danh mục, dự án để cắt giảm đầu tư công. Các bộ ngành, địa phương đảm bảo ưu tiên nguồn vốn, nguồn điện cho các dự án, doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. Thủ tướng cũng giao Bộ Công thương kiểm soát chặt việc cung ứng điện trong năm 2011, tăng cường tiết kiệm điện, tạo mọi điều kiện thúc đẩy xuất khẩu.
    Cuối cùng, Thủ tướng cũng lưu ý các đơn vị phải quan tâm làm tốt công tác an sinh xã hội, chăm lo đời sống nhân dân trong tình hình giá cả tăng cao như hiện nay, hỗ trợ đối với người nghèo, các đối tượng chính sách... Lưu ý công tác phòng chống thiên tai vì năm nay, thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp.
    Nhật Minh​
    VnExpress​

Share This Page