1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Hãy nghe các chuyên gia kinh tế có uy tín nói về CPI

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by lehero, Apr 28, 2011.

Có 16271 người đang online, trong đó có 55 thành viên. 00:14 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 1)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. lehero

    lehero Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 21, 2008
    Likes Received:
    14
    Bà Phạm Chi Lan và Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh.


    Nghịch lý lạm phát tháng 4: CPI tăng từ 3-4% không phải là điều khó đoán

    [​IMG]
    15 năm qua, tháng 4 luôn là một trong những “điểm rơi” của lạm phát, CPI thường ở mức thấp nhất trong năm. Nhưng quy luật này có thể không lặp lại trong năm nay.
    Nhiều địa phương trong cả nước đã lần lượt công bố chỉ sốgiá tiêu dùng tháng tư, hầu hết đều vượt 3% (Hà Nội 3,28%, TP HCM 3,16%, LongAn 5,46%...). Vài ngày tới số liệu chung của cả nước mới được công bố, nhưngnhững thống kê nêu trên đủ giúp giới phân tích hình dung một cách tương đối vềbức tranh lạm phát tháng 4.
    Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nếu căn cứ vào số liệuthống kê cũng như thực tế tiêu dùng của “đầu tàu” kinh tế Hà Nội và TP HCM thì việc CPI của cả nước dao động trong khoảng 3-4% trong tháng 4 là điều không khóđoán. Chia sẻ với VnExpress bên lề một hội thảo diễn ra tại TP HCM sáng 21/4, tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright) cũng dự báoCPI cả nước tháng 4 tăng khoảng 3%.
    Nếu những dự báo này trở thành sự thực, đây sẽ là mức tăngCPI theo tháng cao nhất 15-16 tháng trở lại đây. Biến động của chỉ số này kể từnăm 1996 trở lại đây cũng cho thấy chưa có tháng 4 nào CPI lại tăng cao đếnvậy. Ngay cả với năm lạm phát đỉnh cao 2008, chỉ số giá tiêu dùng tháng 4 củacả nước cũng chỉ tăng 2,2% (khi đó, CPI Hà Nội và TP HCM tăng lần lượt 1,49% và1,82%).
    [​IMG]
    CPI giai đoạn 1996 - 2010 cho thấy lạm phát thường giảm vào tháng 4 - Nguồn: GSO, VNExpress
    ​
    Năm 2011, chỉ số giá tiêu dùng 3 tháng đầu năm lần lượt tăng1,74%, 2,09% và 2,2%. Nếu CPI tháng tư tăng 3%, đồ thị giá sẽ tiếp tục xu hướngleo thang, thay vì giảm mạnh trong tháng 4 như thông lệ những năm trước. Theomột số chuyên gia, điều này rất đáng quan ngại bởi áp lực tăng giá nguyên liệuđầu vào trên thị trường quốc tế từ nay đến cuối năm được dự báo là rất lớn.
    Chia sẻ quan điểm này, tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh cho rằng lạmphát hiện nay tại Việt Nam chủ yếu do chi phí đẩy (giá điện, xăng dầu, chi phívốn…) và nhiều khả năng sẽ còn kéo dài do những biến động khó lường từ cả trongnước lẫn thế giới.
    “Không giống như những năm trước, khi giá cả chỉ chịu tácđộng của Tết và một số yếu tố mang tính mùa vụ, đầu năm nay, nhiều yếu tố tănggiá cùng lúc được bung ra như việc điều chỉnh tỷ giá, tăng giá điện, than… Sắptới còn có việc tăng lương, rồi những biến động kinh tế thế giới. Do vậy, sẽquá lạc quan nếu kỳ vọng giá cả có thể giảm ngay”, chuyên gia kinh tế Phạm ChiLan nói thêm.
    Ở thời điểm tháng 3, nhiều chuyên gia trong nước cho rằnglạm phát có thể dịu lại sau quý II. Hai chuyên gia Phạm Chi Lan và Vũ Thành TựAnh cùng cho rằng hiện tại rất khó để có thể xác định “điểm rơi” của lạm phátsẽ chuyển dịch đi bao nhiêu tháng nữa. Tuy nhiên, cả hai chuyên gia đánh giá cơquan quản lý đang đi đúng hướng đối với các giải pháp bình ổn đã được đề ra.
    “Nếu Chính phủ kiên quyết giữ trạng thái chính sách thắtchặt từ nay đến quý III thì lạm phát sẽ bớt dần từ cuối quý III đến đầu quýIV”, tiến sĩ Tự Anh nhận định.
    Theo tiến sĩ Tự Anh, mức độ hiệu quả của các giải pháp đề rasẽ phụ thuộc lớn và mức độ “kiên định” của các cơ quan thi hành chính sách. Lấyví dụ về năm 2008, khi Việt Nam cũng có lạm phát cao, cũng thắt chặt tiền tệ,giảm đầu tư… ông Tự Anh cho rằng kết quả khi đó không được như mong đợi vì tàikhóa và tiền tệ đã nới lỏng quá sớm khi CPI có dấu hiệu thuyên giảm.
    “Tôi cho rằng mục tiêu 7% năm nay chắc chắn không đạt được.Nếu chính sách tiền tệ, tài khóa tiếp tục thắt chặt thì lạm phát sẽ khoảng 10%.Còn nếu không có thể cao hơn nữa”, chuyên gia này nói thêm.
    Trao đổi với VnExpress.net, chuyên gia kinh tế Trần SĩChương (Chủ tịch Quỹ Đầu Tư TranInvest) cho rằng để giải quyết câu chuyện lạmphát ở Việt Nam, bên cạnh những giải pháp trước mắt nêu trên, cơ quan quản lýcần có những giải pháp “dài hơn” hơn để khắc phục những yếu kém của nền kinhtế.
    Chia sẻ khá nhiều quan điểm với Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, ôngChương cũng cho rằng lạm phát tại Việt Nam có tính khứ hồi: “đến nhanh, đingắn và quay lại ngay”. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là do những mâuthuẫn cơ bản của nền kinh tế (hiệu quả sử dụng vốn, công nghệ, chất lượng vànăng suất lao động…) không được giải quyết tận gốc.
    Theo ông Chương, trong 3 năm trở lại đây, Trung Quốc giữ tỷlệ tăng trưởng tín dụng và cung tiền xấp xỉ 20%, còn Việt Nam là 33-35%. Nhưvậy nền kinh tế đã hấp thụ lượng vốn quá lớn để tạo ra tốc độ tăng trưởng chỉbằng 2/3 của Trung Quốc. Điều này càng tạo ra nguy cơ lạm phát khứ hồi ngay saukhi được "chữa trị" bằng các giải pháp tình thế.
    Cũng theo các chuyên gia kinh tế, do các nhóm hàng lươngthực - thực phẩm, giao thông, giáo dục, y tế... co cơ cấu lớn trong rổ hàng hóatính CPI, nên lạm phát tăng cao sẽ tác động trực tiếp đến túi tiền, chi tiêungười lao động và an sinh xã hội.
    “Một người thu nhập danh nghĩa không đổi trong 3 năm qua thìhiện thu nhập thực của họ đã giảm 50%. Cộng với sức ép giá cả ở hàng loạt mặthàng thì gánh nặng đảm bảo mức sống, phúc lợi cho người dân, đặc biệt là ngưỡngnghèo, cận nghèo sẽ là bải toán lớn đối với cơ quan quản lý trong 6-7 thángcuối năm”, Tiến sỹ Vũ Thành Tự Anh nhận định.
    Theo Bạch Hường - Nhật Minh
    VnExpress​


    Nguồn CafeF
  2. lehero

    lehero Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 21, 2008
    Likes Received:
    14
    GS-TS Nguyễn Thanh Tuyền, Hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế-Tài chính TP.HCM CPI: đằng sau mức tăng kỷ lục 3,32%

    Bản in ấn Email Cỡ chữ


    Ý kiến bình luận (0)


    (Tamnhin.net) - CPI tháng Tư cả nước lập kỷ lục mới với mức tăng 3,32%, mức cao chưa từng thấy trong 35 tháng qua và mức tăng cao nhất so với các tháng Tư kể từ năm 1991 đến nay.


    [​IMG]



    Như vậy, CPI bốn tháng qua tăng 9,64% so với tháng 12/2010 và tăng 13,95% so với bình quân 12 tháng năm 2010.


    CPI tháng Tư tăng ở cả 11/11 nhóm trong rổ hàng hóa chung với mức tăng từ 0,02-6,04%; trong đó có 3 nhóm tăng trên 4%, 6 nhóm tăng trên 1% và 2 nhóm tăng dưới 1%.


    Nhóm giao thông đạt kỷ lục tăng cao nhất là 6,04%, góp phần đẩy CPI tháng Tư cả nước tăng thêm 0,54%.


    Tiếp đến là các nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống với mức tăng 4,5% trong đó, lương thực tăng 2,47%, thực phẩm tăng 5,61% và ăn uống ngoài gia đình tăng 3,31%.


    Đặc biệt, nhóm thực phẩm đã có mức tăng giá mạnh nhất kể từ tháng 2/2008 (năm khủng hoảng kinh tế) và riêng nhóm thực phẩm đã đóng góp vào CPI chung cả nước tăng 1,37%. Giá hầu hết các mặt hàng từ thịt lợn, thịt gà, thịt bò và thủy hải sản đều tăng mạnh và thị trường đang hình thành mặt bằng giá mới.


    Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng cũng tiếp tục tăng 4,38%, góp phần kéo CPI cả nước tăng thêm 0,44%.


    Theo các chuyên gia kinh tế, cùng với “lực đẩy” đến từ giá nguyên nhiên liệu đầu vào, lạm phát hiện nay tại Việt Nam còn do chi phí vốn tăng cao và nhiều khả năng sẽ còn kéo dài do những biến động khó lường từ cả trong nước lẫn thế giới. Hiện lãi suất cho vay tiền đồng đã tăng khoảng 1-1,5%/năm trong quý 1/2011 và hiện ở mức bình quân là 16,23%/năm.


    Thêm vào đó, cho dù đã hạ nhiệt nhưng tỷ giá USD/VNĐ vẫn ở mức nóng như hiện nay đã khiến nhiều hàng hóa hóa thiết yếu cũng như nguyên nhiên liệu đầu vào mà Việt Nam vẫn phải nhập khẩu sẽ tiếp tục chịu sức ép tăng giá.


    Theo tính toán, áp lực tăng giá tiêu dùng sẽ còn kéo dài đến hết tháng Sáu tới bởi tác động trễ của chính sách đưa giá ba loại nguyên nhiên liệu đầu vào thiết yếu điện, than, xăng dầu tiếp cận giá thị trường.


    Tuy nhiên, mức tăng cao của CPI các tháng tới đã được tiên liệu và vẫn nằm trong vòng chủ động kiểm soát của Chính phủ khi các giải pháp “rắn” đồng bộ theo Nghị quyết 11 đang được triển khai đúng hướng và quyết liệt.


    Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh cho rằng lạm phát hiện nay tại Việt Nam chủ yếu do chi phí đẩy (giá điện, xăng dầu, chi phí vốn…) và nhiều khả năng sẽ còn kéo dài do những biến động khó lường từ cả trong nước lẫn thế giới.


    Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, cũng giống như những năm trước, khi giá cả chỉ chịu tác động của Tết và một số yếu tố mang tính mùa vụ, đầu năm nay, nhiều yếu tố tăng giá cùng lúc được bung ra như việc điều chỉnh tỷ giá, tăng giá điện, than… Sắp tới còn có việc tăng lương, rồi những biến động kinh tế thế giới. Do vậy, sẽ quá lạc quan nếu kỳ vọng giá cả có thể giảm ngay.


    Hai chuyên gia Phạm Chi Lan và Vũ Thành Tự Anh đánh giá cơ quan quản lý đang đi đúng hướng đối với các giải pháp bình ổn đã được đề ra.


    Nếu Chính phủ kiên quyết giữ trạng thái chính sách thắt chặt từ nay đến quý III thì lạm phát sẽ bớt dần từ cuối quý III đến đầu quý IV.


    Theo tiến sĩ Tự Anh, mức độ hiệu quả của các giải pháp đề ra sẽ phụ thuộc lớn và mức độ “kiên định” của các cơ quan thi hành chính sách. Lấy ví dụ về năm 2008, khi Việt Nam cũng có lạm phát cao, cũng thắt chặt tiền tệ, giảm đầu tư… ông Tự Anh cho rằng kết quả khi đó không được như mong đợi vì tài khóa và tiền tệ đã nới lỏng quá sớm khi CPI có dấu hiệu thuyên giảm.


    Mục tiêu 7% năm nay chắc chắn không đạt được. Nếu chính sách tiền tệ, tài khóa tiếp tục thắt chặt thì lạm phát sẽ khoảng 10%. Còn nếu không có thể cao hơn nữa.


    Trao đổi với PV, chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương (Chủ tịch Quỹ Đầu Tư TranInvest) cho rằng để giải quyết câu chuyện lạm phát ở Việt Nam, bên cạnh những giải pháp trước mắt nêu trên, cơ quan quản lý cần có những giải pháp “dài hơn” hơn để khắc phục những yếu kém của nền kinh tế.


    Chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương cũng cho rằng lạm phát tại Việt Nam có tính khứ hồi: “đến nhanh, đi ngắn và quay lại ngay”. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là do những mâu thuẫn cơ bản của nền kinh tế (hiệu quả sử dụng vốn, công nghệ, chất lượng và năng suất lao động…) không được giải quyết tận gốc.


    Trong 3 năm trở lại đây, Trung Quốc giữ tỷ lệ tăng trưởng tín dụng và cung tiền xấp xỉ 20%, còn Việt Nam là 33-35%. Như vậy nền kinh tế đã hấp thụ lượng vốn quá lớn để tạo ra tốc độ tăng trưởng chỉ bằng 2/3 của Trung Quốc. Điều này càng tạo ra nguy cơ lạm phát khứ hồi ngay sau khi được "chữa trị" bằng các giải pháp tình thế.


    GS-TS Nguyễn Thanh Tuyền, Hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế-Tài chính TP.HCM, cho rằng chúng ta chỉ quen nhìn mặt trái của dấu hiệu lạm phát mà quên mất CPI tăng cũng mang nhiều tín hiệu tích cực. Nó là dấu hiệu của thời kỳ xác lập trật tự kinh tế, mặt bằng giá mới theo hướng toàn cầu hóa, khi mà Việt Nam đang hội nhập theo chiều sâu với kinh tế thế giới. CPI đang diễn ra trong trạng thái kinh tế có chuyển biến tích cực mang tính quy luật của chu trình kinh tế.


    Theo GS Tuyền, hiện nay, trên thị trường đang có sự phản ứng dây chuyền về giá cả. Việc xuất hiện mặt bằng mới có lợi cho sự phát triển. Bởi khi giá cả mới được thiết lập, sẽ tạo môi trường tái tạo lại trật tự kinh tế mới. Các nước phát triển trên thế giới nếu không có sự biến động như thế này thì sẽ không thể phát triển mạnh như hiện nay được.


    Chúng ta đang cố gắng bình ổn giá cả, mà đáng ra nền kinh tế phải được xác lập mặt bằng giá mới từ rất lâu rồi. Sự kìm nén quá mức dẫn tới bột phát là điều không tránh khỏi. Chính vì thế CPI tăng là đúng quy luật. CPI tăng sẽ giúp giá cả của Việt Nam tiếp cận với giá cả thế giới. Tạo sự công bằng, chuẩn mực hơn trong quan hệ và trong thanh toán quốc tế, trong xác định thu nhập bình quân trên đầu người của Việt Nam.
    Sơn Hà​
  3. hicknow

    hicknow Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Mar 9, 2010
    Likes Received:
    22
    Chiên tý trứng nhắm rượu đi
  4. lehero

    lehero Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 21, 2008
    Likes Received:
    14
    Tiến sĩ Lê Đăng Doanh.

    Lạm phát 2011 khác gì so với các năm trước?

    (Tamnhin.net) - Lạm phát năm nay đã khác và sẽ khác so với các năm trước, bởi trước hết, nó chịu tác động rất lớn của giá cả thị trường thế giới, do giá dầu và giá lương thực tăng cao.
    [​IMG]

    Chuyên gia kinh tế, TS. Lê Đăng Doanh nhấn mạnh điều nay trong bài trả lời phỏng vấn trên báo điện tử “Đầu tư”, Bộ kế hoạch và đầu tư.

    Theo TS. Lê Đăng Doanh, có thể thấy rất rõ điều ấy qua hai lần tăng giá xăng, đẩy giá cả tăng toàn diện, nhất là giá vận tải. Tháng trước, CPI nhóm giao thông - vận tải tăng 6,69%, còn tháng này tăng 6,04%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tháng 4 cũng đã tăng tới 4,5%.

    Hơn nữa, lạm phát năm nay tiếp tục gánh tác động trễ của chuyện bơm tiền và tín dụng năm 2010. Những chính sách đúng đắn của Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ mới phát huy tác dụng bước đầu, vì thế, cần phải rất kiên trì, không nên quá nóng vội. CPI sẽ tiếp tục tăng, nhưng tốc độ tăng sẽ chậm hơn. Con số lạm phát năm nay là bao nhiêu, thì còn phải tiếp tục theo dõi, nhưng chắc chắn không thể dưới 10%.

    TS. Lê Đăng Doanh nhấn mạnh, để chống lạm phát phải phối hợp chính sách tiền tệ và tài khóa. Vừa rồi, ngân hàng đã làm rất tốt chính sách tiền tệ, bây giờ phải thắt chặt tài khóa thêm nữa. Nhà nước phải đi đầu, phải cắt giảm đầu tư công, chi tiêu công tốt hơn nữa.

    Trong chuyện này, điều quan trọng là phải cải cách, chứ không chỉ là áp dụng các biện pháp hành chính, yêu cầu đình hoãn, giãn tiến độ dự án. Phải thay đổi cơ cấu đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư công, hay quản chặt việc sử dụng xe công vào những mục đích cá nhân... Phải ra được Luật Đầu tư công để tránh tình trạng đua nhau đầu tư. Nếu đầu tư gắn với lợi ích, với trách nhiệm, thì nhiều người sẽ phải thận trọng. Một cỗ xe muốn đi nhanh, phải có động cơ mạnh và phanh phải tốt. Nói cách khác, là phải có động lực và có chế tài.

    Về dự báo CPI tới đây sẽ tăng chậm lại, TS. Lê Đăng Doanh nêu rõ Các dự báo này là dựa trên giả định rằng, sẽ không có biến động gì khác, nếu có thì phải tính toán thêm. Thực ra, việc tăng lương tối thiểu sẽ chỉ đóng góp một phần hạn chế vào tốc độ tăng CPI, vì năm nay có nhiều yếu tố tác động tới giá cả. Còn nếu có việc tăng giá điện, giá xăng lần nữa, thì sẽ tác động mạnh đến lạm phát và sẽ làm thay đổi cơ cấu tiêu dùng, cũng như sản xuất của doanh nghiệp.

    TS. Lê Đăng Doanh cho rằng, mọi người đều đã dự đoán CPI tháng 4/2011 sẽ tăng cao. Hai thành phố lớn Hà Nội và TP.HCM đã bỏ nhiều tiền để bình ổn giá mà CPI còn tăng tương ứng 3,28% và 3,16%, hay như Long An, đã tăng tới 5,46%, cộng thêm các địa phương khác nữa, thì 3,32% đã là một con số khiêm tốn.

    Minh Giang ​
  5. lehero

    lehero Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 21, 2008
    Likes Received:
    14
    Tiến sĩ Trần Du Lịch.

    "Không 'thuốc thánh' nào có thể giải quyết lạm phát ngay được"


    Thứ Năm, 28/04/2011, 09:38


    [​IMG]
    Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 của cả nước vừa được Tổng cục thống kê công bố, tăng 3,32%, đưa con số lạm phát 4 tháng đầu năm lên mức 9,64%, vượt mục tiêu cả năm 2011. Ông có nhận định gì về con số trên?

    Trước hết, con số 7% được chính phủ trình Quốc hội thông qua từ tháng 11/2010, nhưng ngay trong 2 tháng cuối năm 2010 và 2 tháng đầu năm nay, tình hình kinh tế có nhiều yếu tố bất ổn khiến việc kiềm chế lạm phát trở nên khó khăn. Cụ thể, bước qua 2011, Việt Nam đứng trước nhiều khó khăn: thứ nhất, áp lực tăng lạm phát; thứ 2 là sự tác động của việc đồng tiền bị mất giá; thứ 3 là tình hình lãi suất tăng cao. Bên cạnh đó là tác động của nhiều yếu tố khác: tăng giá nhiên liệu, lương thực thực phẩm,... làm kinh tế Việt Nam đặt trước bài toàn nan giải về mặt vĩ mô. Với tình hình đó, 24/2, Nghị quyết 11 của Chính phủ đưa ra gói 6 nhóm giải pháp - quyết tâm làm giảm tổng cầu nền kinh tế, kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Bên cạnh đó là việc phải điều chỉnh giá xăng dầu theo biến động của thị trường và điều chỉnh một phần giá điện. Tất cả những biện pháp trên đã đẩy mặt bằng giá một phần tháng 3 và tháng 4 lên.

    Chính sách cần một độ trễ nhất định và như ông đã nói thì CPI sẽ giảm dần. Vậy ông có thể đưa ra nhận định về CPI tháng 5 cũng như diễn biến của chỉ số này từ giờ tới cuối năm?


    Nền kinh tế trong nước chịu tác động không nhỏ từ kinh tế thế giới, cụ thể như giá dầu, giá lương thực… Tuy nhiên, nhìn chung tôi cho rằng CPI tháng 5 sẽ giảm hơn nhiều hơn tháng 4, kể cả việc từ 1/5 tới, lương tối thiểu sẽ được điều chỉnh lên 830 ngàn. Bởi vì hiện nay yếu tố giá không phải hoàn toàn do tổng cấu mà do chi phí đầu vào. Có thể nói lạm phát năm 2011 gồm hai nhóm yếu tố: Một là hệ quả của tăng tổng cầu do bội chi, tăng khối lượng tiền, tăng tín dụng; cộng với việc biến động của giá cả trên thị trường đẩy chi phí lên cao.

    Hiện nay, vấn đề đặt ra trong năm nay không phải con số lạm phát ở mức 7% , 8% , 9%, 10%, 11% hay 12% . Mà theo quan điểm của tôi khi nào nào mặt bằng giá mới được hình thành, đó mới là vấn đề cần bàn. Trước đây, tôi dự báo mặt bằng giá có thể hình thành vào cuối quý II năm nay. Nhưng con số CPI tháng 4 cho thấy, giá xăng dầu tăng đã tác động làm cho phí giao thông vận tải cũng như giá nhiều mặt hàng tăng cao. Và với mức tăng như vậy, tôi nghĩ tháng 5 tốc độ tăng giá vẫn còn nhưng có thể sẽ giảm bớt vào giữa năm nếu như Chính phủ quyết tâm thực hiện 6 nhóm giải pháp, như vậy có thể giảm dần và ổn định hơn vào những tháng cuối năm.

    Thưa ông, đầu năm nay nhiều chuyên gia nhận định trong năm nay chỉ dưới một con số, nhưng thực tế đến thời điểm này đã gần 10% rồi. 9 tháng còn lại của năm CPI sẽ giải quyết thế nào và để CPI trong một khung nào đó mà chúng ta có thể chấp nhận được thì con số sẽ là bao nhiêu?


    Cách đây một tháng, khi bắt đầu tham gia tham vấn với Chính phủ về nhóm giải pháp, tôi cũng nghĩ rằng nếu chúng ta kiểm soát ở một con số thì thành công. Nhưng vấn đề quan trong bây giờ là không để lạm phát phi mã. Làm sao trong 1, 2 tháng tới kỳ vọng giảm lạm phát sẽ thực hiện được và khả năng cho thị trường tin rằng tốc độ lạm phát của Việt Nam sẽ kiểm soát được trong những tháng cuối năm. Đó mới là vấn đề quan trọng. Cuối năm thường do sức cầu kéo tăng chi tiêu, nếu kinh tế tăng trưởng tăng chi tiêu mà lạm phát tăng 1 hay 2% vẫn tốt hơn việc chúng ta giữ dưới 10% nhưng tình trạng sức cầu giảm, kinh tế suy giảm và và rơi vào tình trạng tăng trưởng âm giống như cuối năm 2008.

    CPI liên quan trực tiếp tới đời sống của người dân và hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. CPI tháng 4 vừa được công bố, thực sự gây nhiều lo ngại ảnh hưởng đến 2 bộ phận này. Ông có ý kiến thế nào?

    Tôi cho rằng lạm phát là thứ thuế vô hình đánh vào toàn dân, người có thu nhập cố định là thiệt nhất. Rõ ràng không có Nhà nước nào muốn để lạm phát xảy ra. Nhưng khi đã xảy ra chúng ta cần tập trung xử lý, toàn xã hội cùng đồng thuận với Chính phủ để xử lý. Toàn xã hội cùng đồng thuận theo một lộ trình để nền kinh tế không lạm phát hoặc lạm phát thấp. Chẳng hạn, 2011 có thể kiềm chế được, 2012 giảm xuống 6%, 2013 xuống dưới 5%... Chứ thực sự tình hình đã như vậy rồi thì không có “thuốc thánh” nào có thể giải quyết ngay được!


    stocknews
  6. lehero

    lehero Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 21, 2008
    Likes Received:
    14
    Bài của Tiến sĩ Nguyễn Quang A trên SGTT.

    Lạm phát quá cao, tại đâu?

    LTS: Phiên họp thứ 39 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội hôm 25.4 là phiên họp thảo luận, đánh giá kết quả kỳ họp thứ chín, kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khoá XII. Tuy nhiên, ngoài việc đánh giá kết quả kỳ họp thì cả chủ tịch, hai phó chủ tịch Quốc hội và nhiều thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội lại cùng quan tâm đến hai vấn đề nổi cộm sau kỳ họp được rất nhiều cử tri quan tâm, đó là nội dung báo cáo của Chính phủ liên quan đến vụ Vinashin và tình hình lạm phát đang tăng cao. Nhiều đại biểu Quốc hội đã đặt ra câu hỏi về nguyên nhân lạm phát và vấn đề điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Xét trên tổng thể, đúng là không thể đổ lỗi hoàn toàn cho nguyên nhân khách quan. Vậy nguyên nhân chủ quan là gì? Chúng tôi giới thiệu vài góc nhìn của chuyên gia liên quan đến nguyên nhân này.
    SGTT.VN - Giá cả gia tăng khiến người dân, nhất là những người nghèo, hết sức khó khăn và sự bất bình của họ là có lý do. Và ý kiến của những người có trọng trách trong phiên họp vừa qua của Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng phản ánh điều đó.

    [​IMG]
    Những điều chỉnh cấp tập vừa qua, từ phá giá đồng nội tệ, tăng giá xăng, điện đã là nguyên nhân chính của sự tăng CPI bất thường trong tháng 4.2011. Ảnh: TL SGTT
    Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên cho rằng cử tri quan tâm đến hai vấn đề: một là giá cả tăng cao, hai là việc quản lý vốn, tài sản trong doanh nghiệp nhà nước, chi tiêu công và tham nhũng”. Còn theo phó chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn thì “Các năm trước tháng 4 lạm phát thấp nhất, năm nay lại cao nhất. Trong báo cáo mình cứ nói là bạn bè quốc tế, cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao công tác chỉ đạo, điều hành, nhưng về tiếp xúc cử tri người ta nói là điều hành thế nào mà giá cả tăng cao quá”.
    Các nước lân cận lạm phát đều không quá 5 – 6%, còn ta thì lên đến gần 18% so với cùng kỳ, chẳng khác gì năm 2008. Chính vì thế, bà Lê Thị Thu Ba, chủ nhiệm uỷ ban Tư pháp của Quốc hội, rất có lý khi nói: “Đúng là có nguyên nhân từ khách quan, nhưng có vấn đề về điều hành của Chính phủ khi đồng loạt cho tăng giá nhiều thứ quá”.
    Giá dầu thế giới tăng, giá các mặt hàng khác cũng thế. Do độ mở của nền kinh tế Việt Nam (đo bằng tỷ lệ của tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên tổng thu nhập quốc nội) khá cao nên sự tăng lên của giá cả thế giới có làm tăng giá trong nước. Song khi so sánh với CPI của các nước lân cận có độ mở tương tự như Việt Nam thì CPI của chúng ta tăng hơn họ cỡ 10 hay hơn 10% (so với cùng kỳ). Như thế không thể đổ cho khách quan. Phần chênh lệch này hoàn toàn do nguyên nhân bên trong của chính chúng ta.
    Do độ mở của nền kinh tế Việt Nam khá cao nên sự tăng lên của giá cả thế giới có làm tăng giá trong nước. Song khi so sánh với CPI của các nước lân cận có độ mở tương tự như Việt Nam thì CPI của chúng ta tăng hơn họ cỡ 10 hay hơn 10%. Như thế không thể đổ cho khách quan. Phần chênh lệch này hoàn toàn do nguyên nhân bên trong của chính chúng ta. Nền kinh tế Việt Nam hoạt động kém hiệu quả. Đấy là một nguyên nhân quan trọng và phải hết sức nỗ lực mới có thể giải quyết nổi thông qua tái cơ cấu nền kinh tế, cải tổ triệt để các doanh nghiệp nhà nước, cắt giảm những chi tiêu công kém hiệu quả. Những việc này cần thời gian và không thể giải quyết được một sớm một chiều. Đấy chủ yếu thuộc trách nhiệm điều hành kinh tế, tức là của Chính phủ. Tuy nhiên, việc điều hành chưa tốt này cũng không thể đẩy CPI lên gần 18% so với cùng kỳ năm ngoái. Chỉ cần so với các năm khác (trừ năm 2008) là thấy ngay điều này.
    Tóm lại, kể cả nguyên nhân khách quan lẫn nguyên nhân chủ quan vừa nêu trên cũng không thể đẩy CPI lên gần 18%!
    Nguyên nhân chính, đúng như bà Lê Thị Thu Ba nhận xét, là sự điều chỉnh cấp tập, giật cục của Chính phủ trong vài tháng vừa qua đối với quá nhiều thứ. Ngày 11.2.2011 phá giá đồng nội tệ 9,3% khiến cho tác động của giá thế giới đến CPI được khuếch đại lên. Ngày 24.2.2011 tăng giá xăng 17,7% rồi đến 29.3.2011 lại tăng tiếp thêm 10,4% nữa. Từ ngày 1.3.2011 tăng giá điện trung bình 15,28%. Những điều chỉnh cấp tập trên đã là nguyên nhân chính của sự tăng CPI bất thường trong tháng 4.2011. Quan trọng hơn, nó gây ra tác động tâm lý rất xấu. Tác động tâm lý này lại tăng hơn khi người ta nói giá điện sẽ do thị trường điều tiết trong thời gian tới! Tất cả các yếu tố này khiến vòng xoáy lạm phát khởi động.
    Người ta hay lý giải việc tăng giá điện và xăng là do phải điều chỉnh theo thị trường. Đấy là một sự sai lầm. Chỉ có thể để cho cơ chế thị trường định giá khi có cạnh tranh lành mạnh. Đáng tiếc, đối với cả điện lẫn xăng điều kiện đó không thoả mãn. Điện vẫn độc quyền hoàn toàn, xăng thì chưa có cạnh tranh thật sự vì Petrolimex còn khống chế thị trường. Trong các trường hợp đó sự can thiệp của Nhà nước là điều bắt buộc, không thể phó mặc cho cơ chế thị trường.
    Việc điều chỉnh giá năng lượng là việc cần làm, nhưng điều chỉnh khi nào và mức độ ra sao cần tính toán cẩn trọng. Cái sự cẩn trọng ấy thể hiện tài nghệ điều hành. Đáng tiếc, người dân chưa thấy được điều đó.
    Nguyễn Quang A

    Khó giảm bội chi Chủ nhiệm uỷ ban Tài chính – ngân sách Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho biết, có thành viên của uỷ ban này đề nghị Chính phủ cân đối nguồn lực để giảm bội chi ngân sách năm 2010 xuống mức 5,5% GDP. Đây là mức giảm thấp hơn so với con số bội chi 5,6% GDP (thấp hơn 0,6% so với dự toán là 6,2% GDP của năm 2010 mà Quốc hội đã phê duyệt một năm trước đó) mà Chính phủ đã báo cáo tại kỳ họp Quốc hội thứ IX hồi tháng 3 vừa rồi.
    Cơ sở để giảm bội chi xuống mức thấp, theo ông Hiển, căn cứ vào hai nguồn: khoản hỗ trợ của ngân sách trung ương bù giảm thu cho ngân sách địa phương do thực hiện chính sách miễn giảm thuế của năm 2009 (1.078 tỉ đồng) và khoản kinh phí bổ sung mua bù 102.000 tấn gạo dự trữ quốc gia (1.050 tỉ đồng). Tuy nhiên, bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh cho biết, rất khó để cắt giảm hai nguồn này. Với khoản thứ nhất, các địa phương thực tế đã tiêu rồi; khoản thứ hai, ông Ninh xin Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua, chí ít là một nửa, để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Tại phiên giải trình với Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày hôm qua, 26.4, ông Ninh cho biết thường trực Chính phủ đã đánh giá bội chi ngân sách trong năm 2010 giảm từ 6,2% GDP xuống còn 5,6% “là cố gắng lớn và là bước tiến nhanh”. Ông cho biết thêm, bội chi ngân sách của Việt Nam theo lộ trình sẽ giảm xuống còn 4,5% đến năm 2015. Tuy nhiên, chủ nhiệm uỷ ban Kinh tế Quốc hội Hà Văn Hiền muốn lộ trình này được đẩy nhanh hơn, xuống dưới mức 5% GDP ngay trong năm 2011 này.
    Theo tổng cục Thống kê, GDP năm 2010 theo giá thực tế đạt 1.981 tỉ đồng. Như vậy, bội chi ngân sách 5,6% GDP tương ứng với 111.440 tỉ đồng. Theo báo cáo của Chính phủ, trong năm 2010 ngân sách trung ương vượt thu 49.134 tỉ đồng. Số này sẽ được dùng hết, với sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cho các hạng mục như giảm bội chi, tăng chi trả nợ viện trợ, thưởng cho các địa phương vượt thu và cho các dự án chống thiên tai.
    Tư Giang
  7. moneyspider

    moneyspider Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Dec 25, 2007
    Likes Received:
    0
    Lần nào cũng nói rất hay, rất đúng, lần nào cũng rút kinh nghiệm sâu sắc, nhưng các lần sau vẫn thế :))
  8. lehero

    lehero Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 21, 2008
    Likes Received:
    14
    Có thêm Tiến sĩ Vũ Đình Ánh và TS Nguyễn Minh Phong.

    Lạm phát thực sự là bao nhiêu?

    (Dân Việt) - Một số ý kiến cho rằng, mức lạm phát thực tế còn cao hơn rất nhiều so với các con số được cơ quan thống kê công bố. Lấy dẫn chứng cho nhận định này, nhiều ý kiến đưa ra so sánh, lạm phát của tháng 4.2011 thực chất đã tăng 17% so với cùng kỳ năm ngoái.




    “Khác với mọi năm, mức độ tăng giảm của lạm phát năm nay sẽ phức tạp và khó dự đoán” là ý kiến của hầu hết các chuyên gia kinh tế trước việc chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 tăng đến... giật mình.
    Đã xác lập đỉnh lạm phát hay chưa?
    Với mức tăng CPI tháng 4 của cả nước là 3,32% đã gây bất ngờ ngoài dự đoán. Câu hỏi đang đặt ra lúc này không chỉ với giới chuyên gia kinh tế, mà cả với người dân là liệu mức tăng này có phải là “đỉnh” lạm phát của năm 2011 hay không (?). Bởi theo nhiều chuyên gia cho rằng, với độ trễ của các chính sách điều hành kinh tế vĩ mô mức tác động của các chính sách kiềm chế lạm phát dường như chưa rõ ràng.
    [​IMG]
    Giá cả các mặt hàng thực phẩm trong tháng 4.2011 tăng ngoài dự kiến.
    Như vậy, nếu theo suy đoán thì dường như đỉnh của lạm phát chưa chắc đã rơi vào tháng 4. Với độ trễ của các chính sách thì nhiều ý kiến dự báo biểu đồ lạm phát năm nay sẽ phá vỡ quy luật mọi năm, và quan trọng hơn cả là khả năng lạm phát sẽ vẫn tiếp tục xu hướng tháng sau tăng cao hơn tháng trước.
    Phân tích về nguyên nhân khiến CPI liên tục tăng cao, không chỉ bắt nguồn từ việc tăng giá các mặt hàng thiết yếu, nhiều ý kiến cho rằng: Ngoài hai nguyên nhân chính là "cầu kéo" và "chi phí đẩy", thì còn có một nguyên nhân có ảnh hưởng không kém, đó là tâm lý của người dân.
    [​IMG] Giải pháp để kiểm soát lạm phát thành công, hiện các bộ, ngành đang triển khai cắt giảm chi tiêu công, mức độ cắt giảm mới trên dưới 3.000 tỷ đồng chưa phải là nhiều, và cần phải cắt giảm nhiều hơn nữa để chính sách tài khóa và chính sách chi tiêu công liên kết được với chính sách tiền tệ. [​IMG]
    TS Vũ Đình Ánh

    Với nền kinh tế nhỏ, tâm lý "tiền mất giá" ngày càng chiếm xu thế, vì vậy trước mọi biến động về giá của một mặt hàng chủ yếu như xăng dầu, điện, tiền lương và lương thực đều kéo theo rất nhiều mặt hàng khác tăng, mặc dù các mặt hàng này không chiếm quá nhiều chi phí trong giá thành.
    Bình luận về mức lạm phát tháng 4 liệu đã phải là “đỉnh” của lạm phát năm 2011 hay chưa, TS Vũ Đình Ánh - Viện phó Viện Nghiên cứu thị trường giá cả (Bộ Tài chính) khẳng định: “Không thể đưa ra một dự báo chính xác bởi diễn biến của lạm phát năm 2011 sẽ rất phức tạp. Nó sẽ rất khó để dự đoán, không như diễn biến thông thường mọi năm”.
    Tuy nhiên, nhận xét về nhận định được Bộ Công Thương mới đưa ra là CPI tháng 5 tới đây sẽ giảm, ông Ánh cho rằng: Thị trường thế giới biến động rất mạnh, đồng thời với những bất ổn ở Trung Đông và sóng thần ở Nhật Bản, đã tác động lớn đến thị trường Việt Nam. Bên cạnh hàng loạt các chỉ số phức tạp khác mà chúng ta không thể lường hết được, thì chỉ một ví dụ đơn giản về giá dầu thô chúng ta cũng không biết sắp tới sẽ ra sao. “Nếu nói lạm phát sẽ giảm trong tháng 5, là thiếu căn cứ” - ông Ánh nhấn mạnh.
    Lạm phát thực sự là bao nhiêu?
    [​IMG] Mặc dù mức lạm phát cao nhưng công tác tuyên truyền để người dân, doanh nghiệp hiểu về các chính sách của Nhà nước đã được thực hiện tốt nên đã tránh được tâm lý cuống cuồng đầu cơ, tích trữ đẩy giá hàng hóa lên cao, gây nhiễu loạn thị trường như đã từng xảy ra trước đây. [​IMG]
    TS Nguyễn Minh Phong

    Một số ý kiến cho rằng, mức lạm phát thực tế còn cao hơn rất nhiều so với các con số được cơ quan thống kê công bố. Lấy dẫn chứng cho nhận định này, nhiều ý kiến đưa ra so sánh, lạm phát của tháng 4.2011 thực chất đã tăng 17% so với cùng kỳ năm ngoái.
    Con số này tuy chưa cao tới mức bằng năm 2008 (xấp xỉ 20%) nhưng cũng là một con số đáng giật mình bởi vẫn chưa thấy xu hướng giảm.
    Chuyên gia kinh tế, tiến sĩ Nguyễn Minh Phong -Viện Nghiên cứu Kinh tế - Xã hội Hà Nội cho rằng:
    Mức lạm phát của tháng 4 mặc dù đã được “cảnh báo” trước nhưng vẫn gây sự bất ngờ bởi đây là một trong những “đỉnh” cao của nhiều chục tháng nay. Nó là hệ quả của một loạt các chính sách điều chỉnh và hiện vẫn đang đặt ra những yêu cầu hết sức nặng nề trong việc ổn định kinh tế xã hội đối với cả Chính phủ và người dân, nhất là người thu nhập thấp.
    “Nhìn vào con số lạm phát tháng 4 và 4 tháng đầu năm với mức trên 3% và xấp xỉ 10%, cho thấy khả năng mức lạm phát năm nay ít nhất cũng gấp đôi dự kiến đề ra” - TS Nguyễn Minh Phong nhận định.
    Hương Thủy
  9. lehero

    lehero Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 21, 2008
    Likes Received:
    14
    Giờ là bác quản lý Nhà nước từng qua TQ đóng phim.

    Nguyên nhân dẫn đến CPI tháng 4 tăng khá cao

    Thứ 4, 27 4 2011 15:35 (GMT+7)

    [​IMG]Ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý Giá, Bộ Tài chính - Ảnh: Chinhphu.vn

    (FNews) - Cục trưởng Cục Quản lý Giá Nguyễn Tiến Thỏa (Bộ Tài chính) đã có cuộc trao đổi với một số cơ quan thông tin đại chúng về những nguyên nhân chính dẫn đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 tăng khá cao.
    Ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý Giá, Bộ Tài chính cho rằng, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 tăng 3,32% là không bất ngờ bởi các yếu tố như tác động thị trường thế giới, ảnh hưởng từ thời tiết, dịch bệnh, chu kỳ giáp hạt ở miền Bắc cùng việc tăng giá xăng dầu, giá điện... đều đã được phân tích, tính đến từ trước.

    Ông cho biết, Tổ điều hành thị trường trong nước và cả bản thân ông đã đều cho rằng CPI tháng 4 ít nhất sẽ ở mức tương đương với tháng 3 (CPI tháng 3 ở mức 2,17%).

    Còn bất thường bởi tháng 4 thường là tháng có mức tăng CPI rất thấp và có năm còn giảm. Mức tăng 3,32% là cao nhất của tháng 4 trong suốt 17 năm qua.

    Nghị quyết 11 - liều thuốc đặc trị cần có thời gian


    PV: Nghị quyết 11 đã được Chính phủ ban hành hơn 2 tháng nhưng dường như vẫn cần có thời gian để phát huy tác dụng?


    Ông Nguyến Tiến Thỏa: Các tổ chức quốc tế đều cho rằng Nghị quyết 11 đã đưa ra những biện pháp đúng đắn, "đặc trị" vào gốc rễ của lạm phát cao. Ông Dominic Mellor - Kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam nhấn mạnh ADB nhiệt liệt hoan nghênh Nghị quyết 11, đồng thời bày tỏ sự tin tưởng vào khả năng có thể thực hiện thành công Nghị quyết này.

    Tôi cũng đồng tình như vậy. Biện pháp quan trọng trong Nghị quyết 11 là chính sách giảm tổng cầu của nền kinh tế. Đây được coi liều thuốc “đặc trị” kiềm chế lạm phát hiện nay, nhưng nó có độ trễ nhất định. Không thể đòi hỏi biện pháp vừa áp dụng đã dập tắt ngay được lạm phát cao.

    Vấn đề quan trọng nhất là tăng cường sự đồng lòng, đồng thuận của toàn hệ thống chính trị trong tình hình hiện nay để nhất quán, quyết liệt thực hiện đồng bộ, có hiệu quả cao các biện pháp đã đề ra tại Nghị quyết 11.

    Hơn nữa, phải nói rằng sau hai tháng thực hiện Nghị quyết số 11/NĐ-CP, tình hình đang có nhiều chuyển biến tích cực: Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong quý I vẫn đạt khá, bội chi ngân sách ở mức 2,6%GDP (chỉ tiêu cả năm dưới 5% GDP); tăng trưởng tín dụng và tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán được kiềm chế, lãi suất tuy còn cao nhưng cơ bản đã ổn định; thị trường vàng, ngoại tệ đã có chiều hướng bình ổn hơn; kim ngạch xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2011 đạt 26,9 tỷ USD, tăng 35,7% so với cùng kỳ năm trước, gấp 3 lần chỉ tiêu đề ra. Nhập siêu có chiều hướng giảm, tính cả 4 tháng nhập siêu 4,9 tỷ USD, bằng 18,2% tổng kim ngạch xuất khẩu.

    Tốc độ tăng CPI trong tháng 4 vẫn ở mức cao là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Chúng ta không thể chủ quan vì tình hình còn có biến chuyển, nhất là kinh tế thế giới có thể sẽ có những diễn biến khó lường. Cần theo dõi tiếp tình hình để có điều chỉnh phù hợp, nhưng cũng không quá nôn nóng để áp đặt những giải pháp chủ quan hành chính, bất chấp các quy luật thị trường dẫn đến những bất ổn khác.

    Giá thị trường sẽ gạt bỏ tác động tâm lý với lạm phát

    PV: Việc tiếp tục thực hiện lộ trình thực hiện cơ chế giá thị trường với xăng dầu, giá điện, liệu có gây thêm sức ép lạm phát?


    Ông Nguyễn Tiến Thỏa: Cần thực hiện cơ chế giá thị trường để có sự minh bạch trong giá và xóa bỏ tâm lý bao cấp trong giá. Không thể kéo dài cơ chế điều hành giá theo cách kìm nén giá đầu ra trong khi giá đầu vào tăng theo giá thế giới.

    Tâm lý chung là không ai muốn phải chi tiêu nhiều hơn với giá cả đắt đỏ hơn. Nhưng nếu chúng ta thực hiện cơ chế giá thị trường thì mỗi lần có sự điều chỉnh giá, sẽ không gặp tâm lý nặng nề như vậy. Tôi cho rằng khi thực hiện cơ chế giá thị trường, người dân sẽ quen dần và chấp nhận.

    Hơn nữa, theo tôi, nếu không thực hiện cơ chế giá thị trường, giá sẽ không thể trở thành bàn tay vô hình điều hành và phân bổ, sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhất.

    Khi theo cơ chế giá thị trường, doanh nghiệp sẽ buộc phải tính toán từ chi phí đầu vào đến sản xuất, tổ chức phân phối lưu thông, để có giá hợp lý và cạnh tranh.

    Tất nhiên, điều quan trọng là phải có thị trường cạnh tranh với thông tin đầy đủ và minh bạch. Cũng cần phải nói là đang có tình trạng, nhiều cơ quan, nhiều tổ chức đưa ra thông tin, dự báo, nhưng điều quan trọng là thông tin nào chính thức.

    PV: Việc tăng lương cơ bản sắp tới liệu có tác động đến lạm phát?

    Ông Nguyễn Tiến Thỏa: Điều chỉnh tăng lương tối thiểu lần này nằm trong lộ trình cải cách tiền lương. Sự phát triển của nền kinh tế đã tạo điều kiện để tăng thu ngân sách. Chúng ta dành một phần tăng thu, kết hợp với phần tiết kiệm chi thường xuyên để tăng lương, chứ không in thêm tiền.

    Như vậy, về nguyên lý, tăng lương thế này không tăng tổng tiền của nền kinh tế, không gây sức ép đến mặt bằng giá. Tuy nhiên, việc này vẫn có thể gây sức ép tâm lý đến giá cả.

    Để hạn chế hiện tượng tăng giá theo lương, các cơ quan chức năng sẽ tăng cường mạnh hơn giải pháp thanh tra kiểm tra thị trường, giá cả… và xử lý thật nghiêm những hiện tượng lợi dụng làm bất ổn thị trường.
    Nguồn : VGP​
  10. lehero

    lehero Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 21, 2008
    Likes Received:
    14
    http://vneconomy.vn/201104290145587...-phat-tai-viet-nam-la-chinh-sach-tai-khoa.htm

    “Gốc của lạm phát tại Việt Nam là chính sách tài khóa”

    [​IMG] E-mail [​IMG] Bản để in [​IMG] Cỡ chữ [​IMG] Chia sẻ: [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] Ý kiến (2)

    ▪ ANH QUÂN
    29/04/2011 10:13 (GMT+7)

    [​IMG] Ông Nguyễn Đình Cung - Ảnh: Anh Quân.
    ​
    “Quan điểm của tôi lâu nay, lạm phát có nhiều nguyên nhân nhưng gốc của lạm phát ở Việt Nam vẫn là chính sách tài khóa, do mình mở rộng chi tiêu như thế, mở rộng đầu tư như vậy và đầu tư kém hiệu quả”, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương Nguyễn Đình Cung nói với VnEconomy.

    Việc chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2011 được công bố với mức tăng 3,32%, cao nhất trong gần 3 năm qua, đã tạo nên những nghi vấn về hiệu lực chính sách kiểm soát lạm phát đang thực thi hiện nay. TS. Nguyễn Đình Cung đã có những lý giải khá mới mẻ.

    Ông cho rằng:

    - Doanh nghiệp nhà nước gần như hoạt động đầu tư đều dựa vào tín dụng mà chính sách tiền tệ của ta thật ra không hoàn toàn độc lập như ở các nước, vẫn là phục vụ cho tăng trưởng, phục vụ tài khóa nhiều. Cho nên, nếu thắt được tài khóa thì mới thắt được tín dụng.

    Quan điểm của tôi lâu này là thâm hụt ngân sách, đầu tư của doanh nghiệp nhà nước mới là cái gốc, cái quan trọng nhất, nếu như chưa thắt chặt được cái đó thì cung cầu tín dụng căng thẳng do nhu cầu vốn vẫn lớn, nhiều khi tín dụng vẫn mở, tiền vẫn tung ra và lãi suất vẫn tăng, đương nhiên là lạm phát cao.

    Nếu thắt chặt tài khóa thì cung tín dụng mới có thể giảm xuống. Nhưng mấy năm vừa rồi, tài khóa mở rộng và tiền tệ cũng mở rộng. Mà tại sao mở rộng? Là bởi vì mô hình tăng trưởng của ta quá nhấn mạnh vào số lượng đầu tư, coi đó như là một động lực của tăng trưởng.

    Tiền tệ mở rộng, tổng phương tiện thanh toán M2 hiện đã khoảng 130% GDP. Tiền nhiều hơn hàng thì gây nên lạm phát.

    Chính sách tiền tệ không được độc lập

    Nhưng quan điểm chống lạm phát hiện nay là phải song hành cả tài khóa và tiền tệ, thưa ông?

    Nói đến tài khóa và tiền tệ, theo tôi tiền tệ tác động đến toàn bộ nền kinh tế, tài khóa về căn bản chỉ tác động đến khu vực nhà nước. Nói đến khu vực nhà nước là chủ đạo, là rất quan trọng thì trong mọi trường hợp anh phải đi đầu, đặc biệt là trong chống lạm phát, phải cắt giảm chi tiêu.

    Vì tôi cho rằng cái căn bản của lạm phát Việt Nam vẫn là tài khóa, giả sử cắt được tài khóa nhiều thì cung tiền có thể mở rộng thêm để chuyển tín dụng sang khu vực khác. Còn nếu chưa cắt được khu vực nhà nước thì bằng cách này hay cách khác, tín dụng nó vẫn tìm về với khu vực nhà nước.

    Nếu như vậy, chỉ tiêu tín dụng vẫn tăng 5% trong quý 1/2011, song hành cùng đầu tư từ ngân sách vẫn cao cũng củng cố thêm quan điểm của ông về chính sách tiền tệ chưa độc lập?

    Lâu nay, chính sách tiền tệ đã không được độc lập rồi. Chính sách tiền tệ của mình vẫn là phục vụ cho tăng trưởng, cho mục tiêu của Chính phủ chứ không hoàn toàn là chính sách tiền tệ độc lập như nước khác.

    Chính sách tiền tệ độc lập phải là chính sách có một mục tiêu duy nhất là ổn định giá trị đồng tiền. Chống lạm phát chỉ là ở thời điểm lạm phát thì nó ưu tiên, còn dài hạn thì là mục tiêu duy nhất như tôi đã nói. Ta thì hơi nhiều mục tiêu.

    Nói đến chính sách tiền tệ phục vụ tài khóa, ông bình luận thế nào về con số bội chi ngân sách 2,6% trong quý 1/2011, được Bộ Tài chính công bố?

    So với cùng kỳ năm trước thì so sánh cũng không phải tỷ lệ thấp nhiều (quý 1/2010 bằng khoảng 3% GDP - PV). Nhưng quan trọng hơn là bội chi ngân sách năm nay vẫn dự kiến khoảng 5%, không giảm nhiều so với nhiều năm trước.

    Khó hy vọng cắt giảm đầu tư

    Những thông tin công bố chính thức thì với tài khóa thắt chặt, vốn trái phiếu Chính phủ không cho kéo dài giải ngân, không cho điều chuyển vốn từ 2012 sang sẽ cắt giảm được trên 50 nghìn tỷ đồng đầu tư năm nay. Ông bình luận gì?

    Tôi cũng nghe nhiều về con số này nhưng chưa hiểu đằng sau nó là cái gì. Bây giờ thế này, cứ giả sử vốn năm ngoái kế hoạch là 100 tỷ đồng, giải ngân mới được 70 tỷ đồng thì còn 30 tỷ đồng chuyển sang năm nay. Nếu không cho kéo dài thì địa phương sẽ phải lấy nguồn vốn khác để giải ngân cho năm nay.

    Thế thì, việc đầu tư đó vẫn thực hiện, tôi không thấy sự cắt ở đâu cả. Chỉ có khác là vốn ấy lấy từ nguồn khác. Vậy nguồn khác lấy từ đâu?

    Còn vốn ứng của năm sau, ví dụ năm 2012 mới có mà năm nay đã chi tiêu rồi. Tôi cũng không hiểu, vì sao lại có thể có một kế hoạch ngân sách lấy của năm sau chi cho năm nay. Nếu như sang năm 2012 chi không đủ thì lại lấy 2013 chi tiếp, tức là lấy kế hoạch đầu tư của tương lai, của thế hệ sau chi cho hôm nay?

    Cuối cùng, bản chất vẫn là đi vay để phục vụ cho đầu tư của năm nay, và bội chi ngân sách còn cao hơn nữa. Như thế thì nhu cầu vốn cao hơn và không có cách nào khác tiền tệ phải phục vụ cho chi tiêu ngân sách.

    Về các khoản thay thế cho vốn không được kéo dài giải ngân, ở địa phương có một số khoản thu không phải chuyển về trung ương như thu từ xổ số, thu tiền sử dụng đất, phí môi trường… Nếu địa phương tăng nguồn thu này lên thì thế nào?

    Bây giờ giả sử họ lấy nguồn khác mà không phải vốn nhà nước cấp cho năm nay, ví dụ bán đất đai, huy động nguồn thu từ xổ số…, thì tổng đầu tư sẽ không giảm. Mình cắt đi để hy vọng giảm tổng đầu tư, nhưng như thế này thì có thể không giảm được.

    Đúng như ông nói, trong hai báo cáo cắt giảm đầu tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện sau Nghị quyết 11, các địa phương có vẻ như rất khó cắt. Vấn đề đằng sau nó là gì?

    Cái đó thì hiểu được. Bởi vì, nếu nói là cắt giảm các dự án không cần thiết, không hiệu quả thì chẳng ai, trên thực tế, thừa nhận dự án này không hiểu quả, dự án kia không cần thiết.

    Bởi vì, một dự án được thông qua thì phải qua một quy trình đề xuất dự án, xây dựng dự án, thẩm định dự án và rất nhiều người tham gia vào đó. Không thể nói lại là không hiệu quả, không cần thiết. Vì như thế thì chẳng hóa ra từ xưa đến giờ vẫn có những nơi, nhưng chỗ đầu tư vào dự án không hiệu quả?

    Trên thực tế, người ta vẫn nhìn thấy dự án không hiệu quả. Nhưng nếu xét về mặt quy trình như thế khó có thể bác được người ta.

    Và cũng không thể tự mình lại soi xét vào những việc lâu nay mình vẫn làm như kiểu ủy ban nhân dân tỉnh nhìn lại những việc mình đã làm, đã đầu tư như thế... Đó là mới nói những việc rất khách quan, chưa nói lợi ích đan xen gì cả.

    Cho nên, khó có thể đưa ra cắt giảm theo những tiêu chí chung chung và tự đơn vị rà soát cắt giảm thì khó có thể thực hiện được. Trong bối cảnh hiện nay thì phải có tiêu chí rõ ràng, loại nào cắt thì dứt khoát phải cắt và phải có cơ quan bên ngoài thực hiện.

    Nếu nói theo quy trình thì dự án nào cũng quan trọng cả thì khi rà soát có xảy ra tình trạng xin cho không?

    Nếu đúng là như thế thì "ông" nào vào danh sách cắt giảm bây giờ? Thì có thể là những dự án của những chủ đầu tư yếu thế hơn, khả năng vận động ít hơn so với chủ đầu tư khác chẳng hạn, thì khả năng bị cắt giảm nhiều hơn.

    Theo tôi, với cách cắt giảm tự rà soát, tự đánh giá với những tiêu chí như thế, không đơn giản. Cho đến nay, kết quả chúng ta nhìn thấy vẫn chưa đạt được như mong muốn.

    Cần tín hiệu chính sách rõ ràng hơn

    Với những kết quả thắt chặt của chính sách tài khóa như vừa được công bố, theo ông còn có độ trễ nào nữa không để cắt giảm đầu tư tác động đến lạm phát?

    Chính sách tài khóa tác động đến lạm phát thì không ai biết là độ trễ bao nhiêu nhưng với chính sách tiền tệ, theo dõi quá trình thì độ trễ khoảng 4-5 tháng. Tài khóa thì không biết là bởi vì chưa thấy cắt giảm bao giờ…

    Thế trường hợp năm 2008, lạm phát 3 tháng cuối năm âm…

    Âm vào thời điểm đó có nhiều yếu tố, một mặt mình thắt chặt chính sách từ đầu năm, một mặt còn do khủng hoảng từ bên ngoài tác động đến.

    Năm nào bội chi cũng vẫn lớn và với tài khóa, chi thường xuyên vẫn đều đều như thế, chi đầu tư đầu năm nhỏ, cuối năm mở ra thì vẫn chi như vậy và thậm chí mở rộng hơn. Năm nay bội chi vẫn 5% thì chưa khác nhiều với trước.

    Phải có một cái gì thật là đột biến thì lúc đó mới biết được chính sách tài khóa tác động sau bao nhiêu tháng. Chứ nếu như điều chỉnh tỷ giá, điều chỉnh giá điện, xăng dầu thì gần như tác động ngay tức thời và tác động nhiều vòng.

    Nhân đây cũng có ý kiến cho rằng, các chính sách kiểm soát lạm phát được ban hành vừa qua dường như mới nhìn vào phía kiểm soát tổng cầu, chưa có giải pháp giảm chi phí đẩy, thưa ông?

    4 tháng đầu năm nay, cầu kéo và chi phí đẩy đều có tác động. Cầu kéo thì liên quan đến chính sách tiền tệ phải 4-5 tháng sau mới có tác động rõ ràng, nhưng chi phí đẩy thì tác động ngay lập tức, cho nên nó đưa lạm phát lên, mà lại thực hiện điều chỉnh dồn dập nhiều thứ một lúc. Cho nên, 4 tháng đầu năm nay, phần lớn tác động là chi phí đẩy.

    Để tăng kỳ vọng lạm phát đến quý 3 năm nay sẽ giảm, theo tôi tín hiệu chính sách kiềm chế lạm phát phải rõ ràng hơn. Hiện nay mà nói, tôi cho rằng về mặt tín hiệu chính sách thì tiền tệ nhìn rõ ràng hơn là tài khóa.

Share This Page