1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Hưng 'Lùn"....lên tiếng ..................... " Đồng bào chú ý "

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi chimlon_No1, 15/06/2010.

1216 người đang online, trong đó có 10 thành viên. 04:15 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 4832 lượt đọc và 50 bài trả lời
  1. chimlon_No1

    chimlon_No1 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    02/06/2010
    Đã được thích:
    0
    Giám đốc Phát triển kinh tế SSI:

    Sau phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5, Nghị quyết của phiên họp tiếp tục khẳng định định hướng giảm dần mặt bằng lãi suất cho vay thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ như lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, hoạt động thị trường mở và thị trường liên ngân hàng.
    Đây là tháng thứ 3 liên tiếp, nghị quyết phiên họp thường kỳ của Chính phủ đưa ra thông điệp giảm mặt bằng lãi suất.

    Thực tế thị trường tiền tệ, tín dụng cho thấy, kể từ đầu tháng 4 đến nay, mặt bằng lãi suất cho vay thực tế phổ biến đã giảm từ mức 16-18%/năm xuống mức 13,5%-15%, song việc tiếp cận với tín dụng ở cực thấp của mặt bằng lãi suất là tương đối khó khăn với phần lớn DN.

    Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tăng trưởng tín dụng của 5 tháng ước đạt 7,46% so với cuối năm 2009, song riêng tín dụng bằng VND tăng trưởng 3,51% trong khi tín dụng bằng USD tăng 20,23%. Nguyên nhân chính là xu thế tận dụng lãi suất thấp khi vay ngoại tệ của các DN xuất nhập khẩu.


    Trong tháng 5, tín dụng VND tăng 1,53% trong khi tín dụng ngoại tệ ước tăng 3,16% tương tự như thực trạng của tháng 4. So với 3 tháng đầu năm, mức tăng trưởng tín dụng VND qua từng tháng đã có cải thiện nhất định khi cả 3 tháng đầu năm tăng tín dụng VND so với cuối 2009 ở mức 0,57% và tín dụng tăng trưởng âm trong 2 tháng đầu năm so với cuối năm 2009.

    Tăng trưởng tổng huy động vốn VND theo tháng trong tháng 5 là 2,89%, tháng thứ 2 liên tiếp có mức tăng trưởng huy động vốn cao vượt trội hơn so với mức tăng trưởng tín dụng theo tháng.

    Nhìn vào các diễn biến tăng trưởng huy động, cho vay và lãi suất huy động trên thị trường dân cư và thị trường các định chế tài chính càng cho thấy rõ việc các NHTM đang chuẩn bị ráo riết cho việc đẩy mạnh tín dụng bằng VND.

    Vấn đề còn lại để có thể đẩy tín dụng VND ra ở mức độ hợp lý là tạo ra mặt bằng lãi suất huy động hợp lý thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ. Chừng nào mặt bằng lãi suất của khu vực dân cư huy động ổn định xung quanh mức 10,5-11% và lãi suất ngắn hạn trên thị trường các định chế tài chính ổn định ở mức 7-9% thì có thể sẽ có tăng trưởng tín dụng bằng VND khả quan ở mặt bằng lãi suất 12-14%.

    Với các thông điệp về chính sách của Chính phủ, hiện tại có vẻ như hoạt động của thị trường liên ngân hàng là công cụ chính để tác động đến lãi suất. Song chúng tôi sẽ không bất ngờ nếu thời gian tới đây, lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn, hoạt động tái cấp vốn sẽ được sử dụng để giảm mặt bằng lãi suất trên cơ sở áp lực lạm phát chắc chắn sẽ tiếp tục diễn biến đi ngang cho đến hết năm 2010 khi tăng trưởng nóng tại Trung Quốc được hạ nhiệt và kinh tế châu Âu sẽ có tăng trưởng rất thấp, góp phần làm ổn định giá cả nguyên liệu cơ bản.

    Theo chúng tôi, thực trạng tín dụng USD tăng cao đột biến và tín dụng VND tăng tương đối thấp, nhiều khả năng sẽ thay đổi trong nửa cuối năm 2010 khi NHNN Việt Nam đã có những quy định xiết chặt quản lý cho vay USD nhằm phòng ngừa rủi ro tăng nhập khẩu quá cao gây áp lực lên cán cân thanh toán vào cuối năm.

    Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng USD cả năm nay vẫn sẽ ở mức cao, vì đây là công cụ để chuyển một phần đáng kể tiền gửi USD thành cung USD thanh toán, góp phần bù đắp thâm hụt cán cân thanh toán.

    Dự báo dư nợ tín dụng USD cả năm 2010 có thể tăng khoảng 31-32%, tức là 6 tháng cuối năm sẽ có mức tăng trưởng khoảng 9-10%, trung bình mỗi tháng đạt khoảng 1,4-1,5%, Do đó, để có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống 25% thì tăng trưởng tín dụng VND cho cả năm phải đạt mức 21-22%, tức là 6 tháng cuối năm phải đạt tăng trưởng tín dụng bình quân 2%/tháng.

    Diễn biến tín dụng 6 tháng cuối năm so với mục tiêu tăng trưởng ra sao sẽ còn được quyết định bởi thực tế lộ trình tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng của 24 ngân hàng cổ phần đô thị và việc áp dụng tỷ lệ an toàn vốn CAR từ 8% lên 9% từ 1/10/2010.

    Các NHTM có năng lực vốn chưa đáp ứng được quy định mới về CAR và chưa có phương án tăng vốn đáp ứng yêu cầu 3.000 tỷ đồng sẽ bị hạn chế đáng kể khi đẩy mạnh tín dụng. Trong khi các NHTM có tỷ lệ CAR tốt hơn mức 9% trong mục tiêu tín dụng hiện tại lại có thể đẩy mạnh tín dụng để lấy thị phần.

    Thông tin chung tại thời điểm này cho thấy, việc cả 24 ngân hàng cổ phần có thể hoàn thành tiến độ tăng vốn lên 3.000 tỷ đồng trong năm nay là thách thức lớn và cuối tháng 6 là thời hạn các NHTM phải tăng vốn bắt buộc phải trình lên NHNN Việt Nam phương án tăng vốn dự kiến hoặc các phương án thay thế như tái cơ cấu, sáp nhập.

    Mặc dù thị phần tín dụng của các NHTM cổ phần nhỏ là thấp, song họ lại là đối tượng có tăng trưởng tín dụng khá cao trong 2 - 3 năm qua nên về đóng góp cho tăng trưởng tín dụng của ngành, vai trò của các ngân hàng nhỏ là đáng kể.

    Tuy vậy, yếu tố đặc thù của tăng trưởng tín dụng trong 6 tháng cuối năm sẽ phải dựa nhiều vào các kênh thị trường mở, tái cấp vốn và điều hành lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn mà đối tượng có lợi thế để thụ hưởng các kênh này là ngân hàng lớn hoặc các ngân hàng có năng lực tài chính tốt nên bức tranh tăng trưởng tín dụng 6 tháng cuối năm vẫn có thể tích cực hơn 6 tháng đầu năm.

    Ngoải ra, năm 2010, các NHTM NN phần nhiều đã xác định kế hoạch tín dụng trên cơ sở nguồn tiền gửi không kỳ hạn từ hệ thống kho bạc, bảo hiểm, DN quốc doanh không dồi dào, nên cũng có thể tránh được những cú sốc về thanh khoản như cuối năm 2009 làm thắt chặt một cách thái quá họat động tín dụng. Do vậy, trong 6 tháng cuối năm, có thể thị trường tín dụng đạt được mức tăng trưởng VND khoảng 2% tháng (và USD khoảng 1,5%/tháng) với mức lãi suất thực tế của tín dụng VND mà DN tiếp cận được là 12-14% thì sẽ là thông tin tích cực cho hoạt động của DN và TTCK.

    Cụ thể hơn với tín dụng trực tiếp gắn với TTCK và thị trường liên thông bất động sản cũng có những thông tin đáng chú ý. Theo NHNN, tính đến hết tháng 5/2010, tín dụng cho khu vực phi sản xuất (bao gồm cho vay kinh doanh chứng khoán, cho vay bất động sản và cho vay tiêu dùng) đạt mức tăng 1,89% và chiếm tỷ lệ tương đương 17-18% tổng dư nợ, với cho vay BĐS chiếm 10,5%, cho vay tiêu dùng chiếm 6,6% và cho vay chứng khoán chiếm 0,7%.

    Dư nợ cho vay bất động sản đạt khoảng 192.000 tỷ đồng (tăng 4,54% so với cuối năm 2009), cho chứng khoán đạt khoảng 14.000 tỷ đồng (tăng 13,6% so với cuối năm 2009) và dư nợ cho vay tiêu dùng đạt khoảng 122.000 tỷ đồng.

    Mặc dù không tăng quá cao từ đầu năm đến nay, theo ước tính của chúng tôi, mức tăng trưởng dư nợ tín dụng chứng khoán và tiêu dùng so với cùng kỳ năm trước lại rất cao (tương ứng khoảng 43% và 66%), trong khi tín dụng BĐS chỉ tăng khoảng 11% so với cùng kỳ. Điều đó cho thấy, trong 1 năm qua các NHTM nỗ lực tìm đầu ra với các loại hình tín dụng có lãi suất thỏa thuận, song cũng thận trọng trong việc đẩy mạnh tín dụng BĐS vốn đã có tổng dư nợ cao và yêu cầu vốn trung và dài hạn.

    Tuy nhiên, chúng tôi vẫn cho rằng, có sự giao thoa nhất định giữa tín dụng tiêu dùng với tín dụng bất động sản và chứng khoán, nên thực tế cho vay bất động sản và chứng khoán có thể cao hơn có số chính thức.

    Tính toán điều chỉnh yếu tố này, chúng tôi vẫn thấy rằng, nhiều khả năng room cho tăng trưởng tín dụng chứng khoán sẽ còn nhiều hơn tín dụng bất động sản trong các tháng cuối năm vì tổng dư nợ chứng khoán tối đa là 20% tổng vốn điều lệ của hệ thống ngân hàng, có thể đạt đến 40.000 tỷ đồng.

    Tựu chung lại, yếu tố dòng tín dụng cho nền kinh tế và TTCK trong 6 tháng cuối năm sẽ tích cực và ổn định hơn so với 6 tháng đầu năm cũng như so với cùng kỳ năm trước. Song tác động của yếu tố tín dụng sẽ không mạnh mẽ theo cả hai chiều như trong năm 2009. Khi đó, tăng trưởng tín dụng được đẩy mạnh lên do chính sách bù lãi suất 4% có tác động tích cực rất lớn cho thị trường đến đầu quý IV, sau đó lại bị đảo ngược một cách nhanh chóng không kém từ nửa sau quý IV.

    Tác động tích cực và ổn định hơn của dòng tín dụng 6 tháng cuối năm 2010 sẽ có thể giúp cho thị trường và nền kinh tế có lực đẩy thích hợp một cách cân bằng hơn.

  2. luot_lat

    luot_lat Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    12/05/2010
    Đã được thích:
    0
    NO...Buy and Buy..
  3. NgocvD

    NgocvD Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/04/2002
    Đã được thích:
    0
    [r2)] cứ làm vại bia đã rồi buy cũng chưa muộn:-bd
  4. Macho

    Macho Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    21/03/2010
    Đã được thích:
    79
  5. evadam

    evadam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/06/2010
    Đã được thích:
    0
  6. chimlon_No1

    chimlon_No1 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    02/06/2010
    Đã được thích:
    0
    Đua tiếp thị cho vay vốn
    Sau những nỗ lực kiềm chế tăng trưởng tín dụng trong thời gian khá dài vừa qua, các ngân hàng dường như lại bước sang một chu kỳ mới là nỗ lực thúc đẩy tín dụng, đẩy vốn ra thị trường thông qua hàng loạt các hình thức tiếp thị.
    Vốn khả dụng dồi dào
    So với cuối năm trước, tình hình huy động vốn của các ngân hàng hiện không đột biến và cạnh tranh ngày một gay gắt, song vốn khả dụng của nhiều ngân hàng đang trở nên dồi dào, thể hiện ở lãi suất liên ngân hàng (lãi suất các ngân hàng vay vốn lẫn nhau) hiện chỉ thấp bằng một nửa so với lãi suất cho vay trên thị trường.
    Đối với các ngân hàng, nguồn vốn huy động được không phải để "cất trong kho", ngân hàng phải tìm cách xoay sở để những đồng vốn đó sinh lời thông qua cho vay khách hàng, gửi tại các ngân hàng khác, và cho các ngân hàng khác vay lại… Việc vay mượn lẫn nhau chỉ là để bù đắp thanh khoản ngắn hạn một vài ngày hoặc một vài tuần, nên lãi suất liên ngân hàng không phản ánh thực tế chi phí vốn huy động và cho vay trên thị trường, nó chỉ phản ánh một thực tế hiện nay là các ngân hàng đang thừa vốn khả dụng mà thôi.
    Trên thị trường, vẫn đang diễn ra thực tế chi phí huy động vốn chưa giảm (bởi nhiều lý do như duy trì lãi suất cao hơn lạm phát - thực dương, cạnh tranh thị phần…) khiến cho mặt bằng lãi suất cho vay vẫn ở mức 13,5-16%/năm. Ở mức này, đối với phần nhiều doanh nghiệp lại là "cao". Kết quả là, tốc độ tăng trưởng dư nợ toàn ngành 5 tháng đầu năm 2010, chỉ đạt 7,46% so với cuối năm trước. Thấp ở mức khá "kỷ lục" so với mức tăng trưởng khoảng 30%/năm thời gian gần đây.
    Thị trường đang tạo ra một hình ảnh tưởng như "vô lý" đó là các ngân hàng thừa vốn khả dụng nhưng không hạ được lãi suất, tín dụng tăng trưởng chậm. Nhưng tất nhiên thị trường luôn "có lý", chuyện này không phải lần đầu diễn ra.
    Ông Nguyễn Phước Thanh, Tổng giám đốc Vietcombank cho biết, với mục tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng xây dựng cho cả năm nay của Ngân hàng chỉ có 18 - 20%, nhưng khả năng đạt được hay không là chưa thể nói trước. Trong 5 tháng đầu năm 2010, tăng trưởng tín dụng của Vietcombank chỉ mới đạt đến con số 8%, nhưng phần lớn là dư nợ bằng ngoại tệ.
    Áp lực lãi vay tiền đồng tiếp tục là rào cản đối với doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn vay bằng VND và tìm đến USD vẫn là giải pháp được nhiều nhà xuất, nhập khẩu lựa chọn, đặc biệt khi tỷ giá đang có tín hiệu ổn định ở mức 19.000 đồng/USD.

    Tìm kênh "bơm" vốn phù hợp
    Dù chưa giảm mạnh được lãi suất nhưng để có thể mở rộng được thị phần, cải thiện tăng trưởng dư nợ tín dụng và đón đầu nhu cầu vốn trong mùa cuối năm, các nhà băng đang từng bước tiếp thị vốn vay, cố gắng có những ưu đãi lãi suất và thủ tục giải ngân với những đối tượng khách hàng phù hợp.
    Trong ngày 14/6, tại Cần Thơ, VIB có buổi tọa đàm dành cho doanh nghiệp khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), với nội dung xoay quanh các chính sách ngành hàng, sản phẩm, dịch vụ và đặc biệt là các giải pháp giảm thiểu rủi ro tỷ giá và gói sản phẩm ngoại hối; gói sản phẩm dịch vụ ưu đãi dành cho doanh nghiệp…
    ACB cũng vừa chính thức triển khai chương trình ưu đãi tín dụng "Tiếp vốn kinh doanh, ưu đãi lãi suất" dành cho tất cả các khách hàng là doanh nghiệp tư nhân, cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu vay phục vụ sản xuất kinh doanh tại Ngân hàng. Chương trình sẽ được kéo dài đến hết ngày 30/6 này, với tổng ngân sách 12.000 tỷ đồng.
    Cụ thể, với giá trị khoản vay tối thiểu 500 triệu đồng (hoặc quy đổi tương đương đối với các khoản vay bằng vàng và USD) khách hàng sẽ được hưởng mức ưu đãi giảm 1,2%/năm (tương đương 0,1%/tháng) tại ACB theo biểu lãi suất cho vay hiện hành từ lúc giải ngân khoản vay cho đến cuối năm 2010. Hiện lãi suất cho vay tại ACB được áp dụng mức dao động từ 14 - 16%/năm tùy từng đối tượng khách hàng khác nhau.
    Mới đây, ABBank triển khai chương ưu đãi lãi suất cho vay đối với "Top doanh nghiệp VNR500". Theo đó, khi có nhu cầu bổ sung vốn lưu động và tài trợ dự án đầu tư, doanh nghiệp VNR500 có thể vay tín chấp với hạn mức lên đến 100 tỷ đồng. Lãi suất Ngân hàng này áp dụng ở mức ưu đãi nhất dành cho khách hàng doanh nghiệp trừ thêm biên độ 0,5%/năm. ABBank cam kết áp dụng thủ tục đơn giản, thời gian xử lý hồ sơ tối đa 5 ngày làm việc, đồng thời phát hành các loại bảo lãnh và thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế cho các DN VNR500, với các mức phí đang áp dụng như: phí bảo lãnh: 1 - 1,5%/năm; phí ký quỹ mở L/C và phát hành bảo lãnh ở mức tối thiểu 0 - 5%.
    Tính đến nay, ABBank đang có danh mục hơn 10.000 doanh nghiệp, trong đó các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đến 90% được xem là đối tượng khách hàng tiềm năng. Ông Phạm Quốc Thanh, Phó tổng giám đốc ABBank cho biết, tính đến cuối tháng 5/2010, dư nợ tín dụng của ABBank đạt 14.420 tỷ đồng, trong khi kế hoạch Ngân hàng đặt ra cho cả năm là 19.000 tỷ đồng.
    Với gói dịch vụ trên, ABBank kỳ vọng dư nợ tín dụng của Ngân hàng sẽ tăng trong các tháng tới. Hiện ABBank áp dụng mức lãi suất cho vay thỏa thuận thấp nhất là 13,75%/năm cho các khách hàng tốt nhất và mức bình quân 14 - 15%/năm.

    …lãi suất giảm nhẹ
    Theo các nhà băng, chi phí đầu vào hiện vẫn chưa thể cắt giảm mạnh để có thêm điều kiện giảm lãi suất cho vay. Với mặt bằng chi phí vốn đầu vào hiện xoay quanh ngưỡng 11 - 11,5%/năm theo chủ trương của NHNN hiện nay, các ngân hàng không thể cắt chương trình khuyến mãi, ưu đãi thêm cho người gửi tiền, vì sợ vốn dịch chuyển.
    Theo Tổng giám đốc Vietcombank, các chi nhánh trực thuộc Ngân hàng đã phải kiến nghị lên ban điều hành nâng cao sức cạnh tranh cho lãi suất tiết kiệm mới có thể giữ được khách hàng và thu hút thêm khách hàng mới. Trên thực tế, nhiều ngân hàng nhỏ đang duy trì các hình thức khuyến mại, phát hành kỳ phiếu ghi danh ngắn hạn bằng VND, với lãi suất lên gần 12%/năm (chẳng hạn như Western Bank)… Chính điều này làm cho mặt bằng lãi suất cho vay thực của các nhà băng chưa giảm thêm so với mức thấp nhất hiện là 13,5%/năm.
    Ông Phạm Quốc Thanh cho rằng, lãi suất cho vay thỏa thuận của ABBank đã giảm nhẹ trong tháng 6 theo chủ trương của Chính phủ từ mức thấp nhất 14,5%/năm xuống còn 13,75%/năm. Theo dự báo của ông Thanh, khả năng lãi suất cho vay sẽ giảm thêm khoảng 1%/năm trong 2 tháng tới, xuống mức thấp nhất 12 - 13%/năm.
    Mặt bằng lãi suất cho vay VND ngắn hạn hiện được các ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước áp dụng ở mức 13 -14,5%/năm và 14,5 - 16%/năm là NHTM cổ phần.
    Chủ trương của Chính phủ chỉ đạo NHNN yêu cầu các NHTM tiếp tục giảm lãi suất cho vay thỏa thuận. Tại cuộc làm việc với NHNN và Hiệp hội Ngân hàng (VNBA) diễn ra ngày 11/6, các ngân hàng hội viên đã nhất trí cao với chủ trương của Chính phủ về giảm dần mặt bằng lãi suất kinh doanh. Các NHTM cho biết đã và đang tích cực thực hiện các biện pháp giảm dần lãi suất kinh doanh VND.
    Tuy nhiên, để phù hợp với thực tiễn, lãnh đạo các NHTM kiến nghị việc giảm mặt bằng lãi suất nên có lộ trình nhất định. Trước hết tập trung vào giảm lãi suất kỳ hạn ngắn và giảm lãi suất cho vay đối với các đối tượng khách hàng và lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Đồng thời các NHTM cũng đề nghị nên giải quyết mối quan hệ phù hợp giữa lãi suất trái phiếu chính phủ và lãi suất kinh doanh ngân hàng, tạo điều kiện cho các NHTM có căn cứ giảm lãi suất kinh doanh và vẫn thu hút được vốn từ nền kinh tế.
    Đại diện NHNN cũng khẳng định, NHNN sẽ tiếp tục có các biện pháp phù hợp để hạ lãi suất huy động VND xuống khoảng 10%/năm, lãi suất cho vay VND khoảng 12%/năm, đồng thời dùng các công cụ của chính sách tiền tệ một cách linh hoạt và chủ động để hỗ trợ các NHTM giảm mặt bằng lãi suất kinh doanh và tăng thanh khoản cho nền kinh tế như quyết nghị của Chính phủ tại Nghị quyết số 23/NQ-CP ngày 7/5/2010.
    Phó giám đốc NHNN chi nhánh TP. HCM ông Nguyễn Hoàng Minh cho rằng, trong thời gian qua NHNN đã tạo điều kiện cho NHTM giảm lãi suất, chẳng hạn như giảm dự trữ bắt buộc VND; giảm lãi suất trên thị trường mở và kéo chi phí đầu vào của các NHTM, nhằm có thêm điều kiện xây dựng lộ trình giảm lãi suất cho vay thỏa thuận.
    Do đó, theo ông Minh, các nhà băng phải từng bước cắt giảm chi phí huy động vốn. Vì thực tế, nếu chi phí đầu vào của các ngân hàng hiện nay, chênh lệch lãi suất huy động và cho vay chỉ khoảng 3 - 4%, lợi nhuận thu về trong hoạt động sẽ không cao.
  7. phuong1971

    phuong1971 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    06/07/2009
    Đã được thích:
    0
    [:D][:D][:D]
  8. click_letter

    click_letter Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    23/09/2005
    Đã được thích:
    20
    múc khẩn trường, mai tăng CE hàng loạt
  9. Macho

    Macho Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    21/03/2010
    Đã được thích:
    79
    Vốn đang dư, chạy đi đâu???? Lịch sử chứng minh khi tín dụng mở, CK up up up

Chia sẻ trang này