1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Không thể phớt lờ giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài trên sàn Ho ngày hôm nay.

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by new10, Dec 21, 2010.

Có 2926 người đang online, trong đó có 314 thành viên. 14:52 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 1)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. khanhbd

    khanhbd Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Apr 20, 2010
    Likes Received:
    8,453
    Tây mua nhiều chứng tỏ sắp có bảo lớn về đấy. Các bạn còn nhớ không lúc tt đạt 540 tây mua ròng liên tục và sau đó chuyện gì xảy ra chắc có lẻ mọi người đã biết. ( tây này không biết có bao nhiêu % là tây thật còn lại toàn là tây đá ).
  2. new10

    new10 Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Apr 14, 2006
    Likes Received:
    0
    Trong khi phần lớn các quan điểm thông thường đều cho rằng giải pháp để kiềm chế lạm phát là thắt chặt tiền tệ (có thể hiểu là làm tăng lãi suất), thì chúng tôi cho rằng mục tiêu cần thiết phải là giảm mặt bằng lãi suất.

    Lãi suất cao để chống lạm phát cao thực chất là chính sách thể hiện quan điểm của những người theo mô hình kinh điển trong kinh tế học vĩ mô IS-LM (viết tắt của Investment/Saving - Liquidity preference/Money supply, tức Đầu tư/Tiết kiệm - Nhu cầu thanh toán/Tiền cung cấp ưu đãi). Mặc dù quan điểm này là phổ biến, nhưng nó cũng phải được đặt trong các bối cảnh cụ thể. Việc mặt bằng lãi suất cao hay thấp sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả của chính sách nêu trên.

    Có nên thắt chặt tiền tệ?

    Khi mặt bằng lãi suất thấp, việc thắt chặt tiền tệ sẽ làm cho lãi suất tăng lên nhưng không làm cho số đông các doanh nghiệp phải rời nền kinh tế bởi khi đó khoảng cách giữa lợi nhuận trung bình và chi phí vốn vay vẫn đủ lớn để phần lớn các doanh nghiệp ở lại. Còn khi mặt bằng lãi suất cao, ngay bản thân việc lãi suất ở mức cao đã làm cho số doanh nghiệp còn có thể hoạt động trong nền kinh tế giảm xuống.

    Nếu thêm việc thắt chặt tiền tệ, thì sẽ có nhiều trong số các doanh nghiệp còn lại tiếp tục rời bỏ nền kinh tế bởi khi đó chênh lệch giữa lợi nhuận trung bình và chi phí vốn vay là không đủ. Và nguy hiểm hơn, ngay cả những doanh nghiệp còn trụ lại thì tỷ trọng doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh rủi ro là khá cao bởi chỉ có rủi ro mới đủ bù đắp chi phí lãi cao.

    Lấy ví dụ một trường hợp giả định với tỷ suất lợi nhuận trung bình của các doanh nghiệp trong nền kinh tế vào khoảng 20%. Khi mặt bằng lãi suất vay đang là 8% thì việc thắt chặt tiền tệ làm cho mặt bằng lãi suất tăng thêm 2% lên 10% cũng không làm cho nhiều doanh nghiệp phải rời cuộc bởi mức chênh lệch 20%-10% = 10% vẫn đủ hấp dẫn.

    Tuy nhiên, điều này sẽ khác nếu mặt bằng lãi suất từ 16% tăng lên 18%. Mặt bằng lãi suất cao rõ ràng sẽ khiến cho số lượng doanh nghiệp tồn tại được ít hơn, và từ đó nảy sinh ra “vòng luẩn quẩn”: lạm phát cao -> thắt chặt tiền tệ -> lãi suất cao -> hạn chế tín dụng -> doanh nghiệp rời cuộc chơi -> khan hiếm hàng hóa -> nhập khẩu -> sức ép tỷ giá -> lạm phát cao.

    Guillermo A.Calvo trong bài “Liệu lãi suất cao có phải là công cụ hiệu quả kiềm chế lạm phát? Một vài điểm nghi ngờ” cũng đã phát hiện ra rằng trong điều kiện mặt bằng lãi suất cao thì việc duy trì chính sách lãi suất cao sẽ dẫn tới hệ quả là các khoản vay xấu (non-performing loans) tăng lên, làm tổn hại tới tính hiệu quả của chính sách này, và do vậy sẽ tối ưu nếu thực hiện chính sách lãi suất thấp.

    Nhìn rộng hơn, các ngân hàng sẽ nhận thấy sự nguy hiểm của hậu quả nợ xấu đến từ lãi suất cao và dẫn tới việc hạn chế tín dụng tự nguyện trong nền kinh tế. Một nền kinh tế mà chức năng tín dụng không hoạt động thì nền kinh tế không phát triển được. Khi đó, sự khan hiếm hàng hóa đẩy giá cả hàng hóa ở chu kỳ tiếp theo. Nói chính xác hơn, khi mặt bằng lãi suất quá cao, việc thắt chặt tiền tệ sẽ chỉ che giấu lạm phát trước mắt nhưng không giải quyết được gốc rễ của vấn đề.

    Việc Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam kêu gọi thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát và giảm bất ổn kinh tế vĩ mô hiện nay tại Việt Nam cần phải có sự cân nhắc sâu sắc hơn. Trong bối cảnh hiện tại, thắt chặt tiền tệ sẽ làm cho nguy cơ về sự tồn tại của vòng luẩn quẩn là khá lớn - dấu hiệu của lạm phát đình đốn. Nếu chúng ta hướng mục tiêu tới giảm lãi suất như là mục tiêu trực tiếp, thay vì nhấn mạnh giảm lạm phát, thì các công cụ và giải pháp chính sách có thể sẽ mở hơn và có nhiều sự lựa chọn hơn.

    Làm thế nào để giảm lãi suất?

    Về giải pháp cụ thể, có thể nói rằng chúng ta đã bỏ qua cơ hội tuyệt vời khi quyết định thả nổi lãi suất và nâng lãi suất cơ bản - điều đã gây ra hiệu ứng tâm lý rằng lãi suất phải tăng - mà không có các giải pháp đi kèm. Nói cách khác, hiện tại chúng ta lại đang trở lại trạng thái trước khi thả nổi lãi suất, nhưng mặt bằng lãi suất đã cao hơn, với sự đóng góp lớn của hiệu ứng tâm lý. Việc thả nổi lãi suất có thể là một giải pháp đúng về cách tiếp cận, nhưng rõ ràng câu trả lời cho việc giảm mặt bằng lãi suất phải nằm ở các giải pháp đi kèm.

    Ngoài việc kêu gọi sự đồng thuận và các giải pháp có thể khác, chúng tôi cho rằng Ngân hàng Nhà nước có thể thực hiện việc mua lại trái phiếu chính phủ cả trên thị trường sơ cấp và thứ cấp, đồng thời phối hợp với Bộ Tài chính trong việc tính toán giảm khối lượng trái phiếu phát hành thêm một cách hợp lý.

    Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng công cụ thị trường mở (OMO) nhằm hỗ trợ thanh khoản và giảm chi phí vốn đầu vào cho ngân hàng thương mại với mục tiêu hạ dần mặt bằng lãi suất huy động và cho vay. Tuy nhiên kết quả trên thực tế chưa được như mong muốn do:

    Hiện tại, để vay được vốn của Ngân hàng Nhà nước thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu trên OMO thì các ngân hàng thương mại phải có trái phiếu Chính phủ như là tài sản cầm cố. Trên thực tế thì chỉ có một số các ngân hàng thương mại nắm giữ phần lớn lượng trái phiếu Chính phủ đang lưu hành, và do vậy các ngân hàng thương mại này được hưởng lợi từ chênh lệch lãi suất trái phiếu Chính phủ (khoảng 10%) và lãi suất tái chiết khấu (7-9%). Vị thế này là vị thế “tiền rẻ độc quyền”.

    Các ngân hàng này tuy vậy lại không (hoặc ít) sử dụng nguồn vốn tái chiết khấu và có chênh lệch lãi suất này để cho vay và hạ lãi suất cho vay doanh nghiệp mà lại dùng để kinh doanh trên thị trường liên ngân hàng do việc kinh doanh này hiển nhiên an toàn hơn và mức độ sinh lợi cao hơn. Vị thế “tiền rẻ độc quyền” trên OMO do việc nắm giữ lượng lớn trái phiếu Chính phủ của một nhóm các ngân hàng lớn đã đẩy lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tăng cao, đặc biệt là trong thời gian gần đây khi thanh khoản của hệ thống ngân hàng khó khăn do người dân rút tiền đầu cơ vàng và USD, tạo sức ép buộc các ngân hàng thương mại nhỏ đẩy lãi suất huy động trên thị trường 1 lên cao hơn, tạo ra cuộc đua lãi suất huy động trong toàn hệ thống ngân hàng.

    Do đó, việc đẩy mạnh cấp vốn trên thị trường OMO của Ngân hàng Nhà nước không phải là giải pháp hữu hiệu và lâu bền để đạt mục tiêu như mong muốn. Về nguyên tắc, điều quan trọng là phải làm sao để vị thế “tiền rẻ độc quyền” không còn nữa, hay nói khác đi là làm cho chênh lệch giữa tỷ suất trái phiếu chính phủ và lãi suất chiết khấu không còn có lợi cho các ngân hàng thương mại lớn nữa, theo hướng khuyến khích họ cho vay ra với doanh nghiệp thay vì kinh doanh trên thị trường liên ngân hàng. Điều này không thể giải quyết bằng bài toán “đồng thuận”, mà phải bằng bài toán kinh tế. Nếu chỉ đẩy lãi suất tái chiết khấu lên cao thì không giúp giảm mặt bằng lãi suất và cũng không tạo ra nguồn cung tiền đồng để cho vay.

    Do vậy, Ngân hàng Nhà nước nên thực hiện mua lại trái phiếu Chính phủ trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp, đồng thời giảm dần việc cung tiền ngắn hạn trên OMO. Việc làm này sẽ có tác dụng như sau:

    Khi giảm dần lượng cung tiền trên thị trường OMO đồng thời tăng cường việc mua trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp thì các ngân hàng thương mại đang nắm giữ trái phiếu Chính phủ sẽ lựa chọn bán ra thu tiền Đồng về để cho vay. Điều này là do khi giảm cung tiền ngắn hạn qua OMO, trái phiếu Chính phủ không còn chức năng là tài sản cầm cố để vay vốn Ngân hàng Nhà nước với lãi suất thấp hơn tỷ suất trái phiếu Chính phủ thì về nguyên tắc các ngân hàng thương mại sẽ lựa chọn bán trái phiếu Chính phủ ra do lãi suất trái phiếu Chính phủ thấp hơn lãi suất huy động tiết kiệm (10% so với khoảng 13-15%) nên việc nắm giữ trái phiếu Chính phủ không có lợi. Vị thế tiền rẻ của các ngân hàng thương mại lớn khi đó sẽ giảm và họ sẽ khó khăn hơn trong việc ép các ngân hàng nhỏ trên thị trường liên ngân hàng, góp phần làm giảm cuộc đua lãi suất trên thị trường 1.

    Việc Ngân hàng Nhà nước mua lại trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp là cách thức cung tiền dài hạn hơn so với cung tiền trên thị trường OMO, do đó các ngân hàng thương mại có thể dùng nguồn tiền đó để cấp tín dụng chứ không phải để bủ đắp thiếu hụt thanh khoản tạm thời như hiện nay.

    Việc Ngân hàng Nhà nước mua trái phiếu Chính phủ trên thị trường sơ cấp (trái phiếu Chính phủ phát hành lần đầu) sẽ góp phần hạ lãi suất trái phiếu Chính phủ xuống mức hợp lý, giảm gánh nặng trả lãi cho ngân sách nhà nước, gián tiếp giảm mặt bằng lãi suất huy động và cho vay của hệ thống ngân hàng, đồng thời cũng sẽ giúp đảm bảo rằng việc Ngân hàng Nhà nước mua trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp không gây ra áp lực tăng lãi suất trái phiếu Chính phủ phát hành lần đầu.

    Phương pháp nêu trên cũng tương tự như cách mà Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) thực hiện với gói nới lỏng định lượng 2 (QE2) mà họ mới công bố gần đây và được biết tới tại Việt Nam như là “gói hỗ trợ kinh tế lần hai trị giá 600 tỷ USD”. Cụ thể, FED đặt ra mục tiêu sẽ mua vào 105 tỷ mỗi tháng bao gồm 75 tỷ trái phiếu Chính phủ Mỹ trên thị trường thứ cấp và 30 tỷ trên thị trường sơ cấp cho đến hết quý 2/2011.

    Thay lời kết

    Chúng tôi đưa ra hai lập luận quan trọng. Thứ nhất, việc thắt chặt tiền tệ, mà hệ quả là tăng mặt bằng lãi suất, không hẳn đã là lời giải cho kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô tại Việt Nam. Theo chúng tôi nên giảm mặt bằng lãi suất. Lý do chính cho lập luận này là mặt bằng lãi suất cao tạo ra nguy cơ cao về vòng luẩn quẩn. Thứ hai, giảm mặt bằng lãi suất có thể thực hiện được, nếu Ngân hàng Nhà nước thực hiện mua trái phiếu trên thị trường thứ cấp và sơ cấp, qua đó giảm vị thế “tiền rẻ độc quyền” của các ngân hàng thương mại lớn và hạn chế cuộc đua lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại nhỏ trên thị trường 1.

    Giải pháp giảm lãi suất nêu trên tuy vậy cần có một sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tài khóa và đồng thuận của Bộ Tài chính trong việc tính toán giảm khối lượng trái phiếu Chính phủ phát hành thêm một cách hợp lý. Cần xác định khối lượng tiền cơ sở hợp lý - tối ưu - đủ để lưu thông một khối lượng hàng hóa tăng lên nhanh chóng của một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng trung bình 7% năm, lạm phát 6-9%/năm và nhập siêu 8-12% GDP/năm. Điều này sẽ giúp lý giải tại sao các công cụ như dự trữ bắt buộc đã hạ tới mức rất thấp nhưng tiền vẫn khan hiếm, lãi suất không thể giảm xuống.

    Một câu hỏi cuối cùng, là mức lãi suất cho vay khoảng bao nhiêu là hợp lý với nền kinh tế Việt Nam? Rõ ràng mặt bằng lãi suất không thể quá rẻ vì sẽ khuyến khích đầu tư không hiệu quả gây lạm phát (như thời kỳ kích thích kinh tế, ICOR năm 2009 ở mức gần 9 lần), nhưng mặt khác cũng không thể quá cao làm cho doanh nghiệp khó khăn và kinh tế trì trệ. Chúng tôi cho rằng mặt bằng lãi suất cho vay tại Việt Nam nên được duy trì trong khoảng 11-14%.
  3. new10

    new10 Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Apr 14, 2006
    Likes Received:
    0
    Các quỹ đang xếp hàng vào Việt Nam khi các Ngân hàng nước ngoài được "Đối xử quốc gia đầy đủ" theo đúng cam kết WTO


    Hộp 1: Cam kết gia nhập WTO trong lĩnh vực ngân hàng:
    Hiện diện thương mại:
    Các tổ chức tín dụng nước ngoài chỉ được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới các hình thức sau:
    (i) Đối với các ngân hàng thương mại nước ngoài: văn phòng đại diện, chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài, ngân hàng thương mại liên doanhtrong đó phần góp vốn của bên nước ngoài không vượt quá 50% vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh, công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài, công ty tài chính liên doanh và công ty tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài và kể từ ngày 1 tháng 4 năm 2007 được phép thành lập ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài.
    (ii) Đối với các công ty tài chính nước ngoài: văn phòng đại diện, công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh và công ty cho thuê tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài.
    (iii) Đối với các công ty cho thuê tài chính nước ngoài: văn phòng đại diện, công ty cho thuê tài chính liên doanh và công ty cho thuê tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài.
    Tham gia cổ phần:
    Đối với việc tham gia góp vốn dưới hình thức mua cổ phần, tổng số cổ phần do các thể nhân và pháp nhân nước ngoài nắm giữ tại mỗi ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam không được vượt quá 30% vốn điều lệ của ngân hàng, trừ khi luật pháp Việt Nam có qui định khác hoặc được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền của Việt nam.
    Chi nhánh của 1 NHTM nước ngoài tại Việt Nam:
    Điều kiện thành lập: Ngân hàng mẹ có tổng tài sản có trên 20 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn.
    Chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được phép mở các điểm giao dịch khác ngoại trừ trụ sở chi nhánh của mình
    Hạn mức trần huy động vốn của chi nhánh NH nước ngoài tại VN
    Trong vòng 5 năm kể từ ngày gia nhập WTO, Việt Nam có thể hạn chế quyền của một chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi bằng Đồng Việt Nam từ các thể nhân Việt Nam mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng theo mức vốn mà ngân hàng mẹ cấp cho chi nhánh phù hợp với lộ trình sau:
    - Ngày 1 tháng 1 năm 2007: 650% vốn pháp định được cấp;
    - Ngày 1 tháng 1 năm 2008: 800% vốn pháp định được cấp;
    - Ngày 1 tháng 1 năm 2009: 900% vốn pháp định được cấp;
    - Ngày 1 tháng 1 năm 2010: 1000% vốn pháp định được cấp;
    - Ngày 1 tháng 1 năm 2011: Đối xử quốc gia đầy đủ.
    Điều kiện để thành lập một ngân hàng liên doanh hoặc một ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài là ngân hàng mẹ có tổng tài sản có trên 10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn.
    Điều kiện để thành lập một công ty tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc một công ty tài chính liên doanh, một công ty cho thuê tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc một công ty cho thuê tài chính liên doanh là tổ chức tín dụng nước ngoài có tổng tài sản có trên 10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn.

    -----------------------------------------------------------------------------

    *PROFESSIONAL STOCK ADVISOR*
    *TƯ VẤN CHỨNG KHOÁN CHUYÊN NGHIỆP*
  4. new10

    new10 Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Apr 14, 2006
    Likes Received:
    0
    Cam Kết Mở Cửa Thị Trường Dịch Vụ Chứng Khoán

    Việt Nam cam kết mở cửa những dịch vụ chứng khoán nào?
    Liên quan đến các dịch vụ chứng khoán, Việt Nam cam kết cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia cung cấp các dịch vụ chứng khoán sau tại Việt Nam:
    Giao dịch cho tài khoản của mình hoặc tài khoản của khách hàng tại sở giao dịch chứng khoán, thị trường giao dịch trực tiếp (OTC) hay các thị trường khác những sản phẩm sau:
    Các công cụ phái sinh, bao gồm cả hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền lựa chọn;
    Các chứng khoán có thể chuyển nhượng;
    Các công cụ có thể chuyển nhượng khác và các tài sản tài chính, trừ vàng khối.
    (Các dịch vụ này bao gồm cả nghiệp vụ môi giới)
    Tham gia vào các đợt phát hành mọi loại chứng khoán, bao gồm bảo lãnh phát hành, và làm đại lý bán (chào bán ra công chúng hoặc chào bán riêng), cung cấp các dịch vụ liên quan đến các đợt phát hành đó);
    Quản lý tài sản (bao gồm quản lý danh mục đầu tư, mọi hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ lưu ký và tín thác);
    Các dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ chứng khoán, các công cụ phái sinh và các sản phẩm liên quan đến chứng khoán khác;
    Cung cấp và chuyển thông tin tài chính, các phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán.

    Các công ty chứng khoán nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài có thể cung cấp dịch vụ chứng khoán ở Việt Nam dưới hình thức nào?
    Việt Nam cam kết cho phép các công ty chứng khoán nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động chứng khoán ở Việt Nam dưới các hình thức và điều kiện sau đây:
    Văn phòng đại diện (với điều kiện các văn phòng đại diện không được thực hiện các hoạt động kinh doanh sinh lời trực tiếp);
    Liên doanh với đối tác Việt Nam (với điều kiện tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 49%);
    Doanh nghiệp chứng khoán 100% vốn nước ngoài (kể từ 11/1/2012);
    Chi nhánh của công ty chứng khoán nước ngoài (kể từ 11/1/2012 và kèm theo điều kiện hoạt động của chi nhánh chỉ giới hạn ở cung cấp các dịch vụ quản lý tài sản, thanh toán và thanh toán bù trừ chứng khoán, cung cấp và chuyển thông tin tài chính, các phần mềm liên quan.
  5. new10

    new10 Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Apr 14, 2006
    Likes Received:
    0
    Ý kiến của Thống đốc NHNN về việc tăng vốn được cấp của một số ngân hàng nước ngoài (21/12/2010)

    Ngày 21/12/2010, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có các văn bản số 9915, 9916, 9920, 9921/NHNN –TTGSNH về việc tăng vốn được cấp của một số ngân hàng.
    Theo đó, Thống đốc NHNN chấp thuận đề nghị thay đổi mức vốn được cấp đối với Ngân hàng Huanan Commercial Bank Ltd., Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh từ 15 triệu USD lên 65 triệu USD, Ngân hàng thương mại Chinatrust Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh được thay đổi mức vốn được cấp từ 15 triệu USD lên 50 triệu USD.

    Thống đốc NHNN chấp thuận Ngân hàng Mizuho Corporate Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh tăng vốn được cấp từ 15 triệu USD lên 133,5 triệu USD và Ngân hàng Mizuho Corporate Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội được tăng vốn được cấp từ 15 triệu USD lên 133,5 triệu USD.

    Các ngân hàng nêu trên có trách nhiệm thực hiện việc tăng vốn được cấp như đã được chấp thuận và thực hiện các thủ tục liên quan theo đúng quy định của pháp luật.

    BH
  6. new10

    new10 Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Apr 14, 2006
    Likes Received:
    0
    Đó là lý do tại sao nhà đầu tư nước ngoài hôm nay mua khủng vậy.
  7. bupmangnon

    bupmangnon Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Jun 24, 2010
    Likes Received:
    0
    Là lý do lâu nay Tây múc ròng,họ định đoán trước được chính sách VN,hay nói cách khác VN phải thực hiện các cam kết với họ
  8. SINH-TU

    SINH-TU Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Jun 1, 2010
    Likes Received:
    73
    Có đối trọng, có cạnh tranh. TT sẽ phát triển theo hướng lành mạnh
    Dần dần mms nội không còn thao túng được nữa
  9. thienha133

    thienha133 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Sep 4, 2008
    Likes Received:
    0
  10. alo1000

    alo1000 Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Mar 29, 2010
    Likes Received:
    0
    Chiều xem danh mục Tây mua giật mình, mua kỳ lạ, mã nào cũng mua tất, mã nào giảm sâu hay mã đang uptrent mua nhiều nhất.

    Đọc 1 bài lý giải, khá hay :

    Phân tích giao dịch của khối ngọai hôm nay 21/12/2010

    Có thể nói hôm nay dòng tiền của khối ngọai mua “rải đinh” ở hầu hết các mã trên sàn HOSE, đang là tâm điểm quan tâm của hầu hết các NĐT trên thị trường, liệu đây có phải là dòng tiền nóng của nước ngòai mà lâu nay báo đài đã có đề cấp đến?

    Qua bảng thống kê giao dịch bên trên chúng ta có thể nhận thấy gần như dòng tiền này đang mua đều trên cả thị trường sàn HOSE theo tỷ lệ khỏang 0,1% KLCPĐLH.

    Để trả lời câu hỏi đây có phải là dòng tiền nóng của khối ngọai không? Tức là dòng tiền lướt sóng ngắn hạn vào nhanh ra nhanh? Chúng ta thử đặt ngược lại vấn đề là hành động khôn ngoan của họ cho dòng tiền nóng này là gì?

    -Điều quan trọng nhất là mục đích chính của họ là có thể thóat hàng ra nhanh chóng kịp thời mà không dễ dàng phát hiện trong phiên, để làm điều đó chắc chắn họ sẽ chọn sàn HOSE vì thông tin giao dịch bán của NĐT NN sẽ không được public lên bảng điện.

    -Điều thứ hai là làm sao họ có khả năng thóat hàng chỉ trong 1 phiên tức là thị trường có thể hấp thụ được hết khối lượng của họ bán ra được, vì nếu qua ngày sau thì thông tin giao dịch cuối ngày sẽ lộ ra và họ khó bán hoặc chỉ bán được giá thấp, để làm điều này với dòng tiền khá lớn của họ thì chắc chắn họ sẽ chọn giải pháp mua phân bố đều trên các mã dựa vào KLCPĐLH. Như chúng ta thấy trên bảng thống kê trên, tỷ lệ hầu như khỏang 0,1% trên tất cả các mã mà họ mua hôm nay. Theo như tôi đóan thì nếu dòng tiền này khỏan 1.000 tỷ (tức 500tr USD) thì rất khả thi cho việc thóat ra nhanh chỉ trong 1 ngày!

    -Điều thứ ba là chọn thời điểm thích hợp để giải ngân, có thể họ nhận định thị trường VN đang vào xu hướng uptrend, giá đang ở mức khá thấp, thị trường đang trong phiên điều chỉnh test ngưỡng hỗ trợ 470… do đó thời điểm vào hôm nay phải nói là họ rất chuẩn theo PTKT.
    -Theo thông tin vĩa hè thì tôi mới biết quỹ Black Stone 2 mở TK bên SSI hôm nay giải ngân, vốn 400 tr USD, đây là quỹ đầu tư ngắn hạn và trung hạn. Vậy theo thông tin này chúng ta có thể đóan họ sẽ tiếp tục theo chiến thuật mua “rải đinh” này trong vài phiên nửa, vì tôi dự đóan dòng tiền của họ hôm nay chỉ mới giải ngân 200 tỷ, còn khỏan 600 tỷ dành giải ngân cho những ngày tới.

    -Vậy khi nào họ sẽ thóat ra? Nếu như xác định đúng là quỹ Black Stone 2 thì tôi đóan hành động khôn ngoan của họ là lướt theo sóng của thị trường. Khác biệt với các quỹ đầu tư khác trước đây, tức gần như là ôm hàng và nắm giữ lâu dài, thì chiến thuật mua bán của quỹ này tôi nghĩ rất thích hợp cho việc lướt sóng. Có lẽ sắp tới đây chúng ta sẽ thấy mọi hành động mua bán của họ sẽ là một tín cho rất nhiều NĐT theo dõi và cùng lướt theo

Share This Page