1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Lại còn thế này nữa cơ à ...... 2008 có lập lại không đây

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi abclkj, 03/03/2011.

Có 4945 người đang online, trong đó có 216 thành viên. 16:56 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 940 lượt đọc và 16 bài trả lời
  1. abclkj

    abclkj Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    24/11/2003
    Đã được thích:
    1
    Chứng khoán ra rìa
    [​IMG]
    ​

    Dư nợ cho vay chứng khoán năm 2010 theo NHNN khoảng 10.000 tỉ đồng. Chỉ cần số tiền này không được gia hạn vay tiếp khi đáo hạn đã là một sức ép lớn cho chứng khoán.




    Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang thể hiện sự “cứng rắn” trong việc cơ cấu lại dòng chảy tín dụng, trong đó tập trung vốn cho sản xuất và hạn chế tối đa vốn cho lĩnh vực phi sản xuất bao gồm chứng khoán, bất động sản, tiêu dùng.

    Trả lời một số câu hỏi của TBKTSG, Thống đốc NHNN cho biết tổng dư nợ cho vay phi sản xuất cuối năm 2010 chiếm 18,7% tổng dư nợ, tương đương 431.000 tỉ đồng (tính ra tổng dư nợ cả nền kinh tế là 2,3 triệu tỉ đồng). Hiện nay có 18 tổ chức tín dụng có số dư cho vay phi sản xuất dưới 25% tổng dư nợ, 24 tổ chức trên 25% tổng dư nợ. Các ngân hàng này phải nhanh chóng giảm cho vay phi sản xuất.

    Giả sử tăng trưởng tín dụng năm 2011 là 19% (mục tiêu dưới 20% so với năm ngoái), thì dư nợ của hệ thống ngân hàng vào khoảng 2,73 triệu tỉ đồng. Theo chỉ thị 01 được NHNN ban hành ngày 1-3-2011, đến cuối năm dư nợ cho vay phi sản xuất bắt buộc giảm xuống 16% tổng dư nợ, tương đương số dư 437.000 tỉ đồng. So với con số cuối năm 2010, dư địa cho vay phi sản xuất của cả hệ thống cả năm 2011 chỉ có 6.000 tỉ đồng.

    “Tôi đã rất cân nhắc khi đặt bút phê duyệt con số 16%. Nhiều vụ cục tham mưu chỉ nên để 15%. 16% tính về số tuyệt đối là gần tương đương năm trước”- Thống đốc Nguyễn Văn Giàu nói.

    Trên cơ sở đó, các nhà đầu tư rõ ràng không có cửa để vay tiền ngân hàng đầu tư chứng khoán. Mặt khác, chứng khoán còn bất lợi hơn bất động sản ở lý do thanh khoản.

    Do giá trị bất động sản cao và thị trường này đang đóng băng, việc chuyển nhượng nhà đất, căn hộ để có tiền trả nợ vay ngân hàng khó khăn hơn nhiều việc bán cổ phiếu. Chính vì thế các ngân hàng sẽ tăng cường xiết nợ chứng khoán hơn bất động sản (vì nợ bất động sản có xiết cũng không đòi được). Cổ phiếu đã rẻ còn có thể rẻ hơn nữa.
    Dư nợ cho vay chứng khoán năm 2010 theo NHNN khoảng 10.000 tỉ đồng. Chỉ cần số tiền này không được gia hạn vay tiếp khi đáo hạn đã là một sức ép lớn cho chứng khoán.

    Bên cạnh đó trong những ngày qua tiền đồng đang lên giá mạnh so với đô la Mỹ. Tỷ giá đô la Mỹ/tiền đồng trên thị trường liên ngân hàng đã tụt xuống 21.200 đồng/đô la Mỹ. Còn tỷ giá thị trường tự do đang tiến về ngưỡng 21.500 đồng và có thể 21.000 đồng/đô la Mỹ.

    Sau khi NHNN giảm lượng vốn bơm ra qua kênh thị trường mở, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng bắt đầu tăng lên và đã chạm ngưỡng 14%/năm.

    Trần lãi suất huy động 14% đang bị nén chặt. Tiền đồng đang bước vào thế thượng phong. Tiền đồng càng có giá bao nhiêu, người ta càng chuộng gửi tiết kiệm ngân hàng bấy nhiêu. Chứng khoán lại càng khó khăn hơn bao giờ hết!

    Thanh khoản vẫn đang sụt giảm có lẽ là biểu hiện rõ nhất cho thấy dòng tiền đang rời bỏ cổ phiếu. Đáy chứng khoán có thể đã rất gần, nhưng vùng đáy đó rộng bao nhiêu và dài bao nhiêu thì khó mà phỏng đoán chính xác.


    ​
  2. toithichdautu

    toithichdautu Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    02/06/2010
    Đã được thích:
    0
    01/03/2011 17:37 | A A A
    Chứng khoán tháng 3: Sẽ xuất hiện cơ hội đầu cơ ngắn hạn?

    (NDHMoney) Thị trường chứng khoán trong tháng 3 nhìn chung nhiều khả năng vẫn trong xu thế giảm giá nhưng…


    [​IMG]
    Đối với nhà đầu tư lướt sóng ngắn hạn nên duy trì tỷ lệ 30% cổ phiếu và 70% tiền mặt. Ảnh: Đức Long​
    VN-Index đóng cửa tháng 2 tại 466,96 điểm, giảm 43,1 điểm, tương đương với 8,51% so với mức đóng cửa tháng 1. Mức đóng cửa tháng 1 của HNX-Index tại 97,36 điểm, giảm 9,24 điểm - tương đương 8,64% so với con số đóng cửa tháng 1.

    Tháng 2 đã trở thành tháng suy giảm tồi tệ nhất của thị trường kể từ tháng 8/2010. Quá nhiều yếu tố gây suy giảm đã cộng hưởng như điều chỉnh tỷ giá, tăng giá xăng, tăng giá điện và định hướng siết lại dòng tiền tín dụng đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán.

    Chính phủ muốn đưa ra một thông điệp mạnh mẽ nhất về quyết tâm ổn định kinh tế vĩ mô, kềm chế lạm phát và vãn hồi lại niềm tin vào đồng nội tệ. Giảm tăng trưởng tín dụng chắc chắn sẽ gây nên nhiều khó khăn do các doanh nghiệp và nền kinh tế nói chung trong một thời gian nhất định. Giai đoạn “đánh đổi” này của thị trường nói riêng và nền kinh tế nói chung, do đó là cần thiết nếu xét đến các lợi ích về dài hạn.

    Dự báo các yếu tố tác động đến chứng khoán tháng 3

    Theo chúng tôi, một số yếu tố chủ đạo sau đây sẽ tác động tới xu hướng của thị trường chứng khoán Việt Nam trong tháng 3:

    Thứ nhất, các biện pháp thắt chặt tiền tệ được triển khai và có thể được gia tăng. Tháng 3 là tháng đầu tiên các biện pháp thắt chặt tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ mô của nhà nước theo như định hướng mới chính thức được triển khai một cách mạnh mẽ và nghiêm túc.

    Đây cũng là thời điểm chu kỳ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong năm 2011 bắt đầu tăng tốc, do đó nhu cầu vốn của các doanh nghiệp thông qua hệ thống ngân hàng sẽ tăng cao hơn so với 2 tháng đầu năm.

    Việc tiếp cận nguồn vốn vay của các doanh nghiệp chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trước trong điều kiện mặt bằng lãi suất giữ ở mức cao và các ngân hàng sẽ thận trọng hơn trong việc cho vay. Dòng vốn tín dụng sẽ được định hướng vào lĩnh vực sản xuất hơn là các lĩnh vực mang tính đầu cơ như chứng khoán, bất động sản.

    Trong tháng 3, nếu tình hình lạm phát giữ ở mặt bằng cao, không ngoại trừ khả năng các biện pháp thắt chặt tiền tệ mạnh mẽ hơn như tăng dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất cơ bản sẽ tiếp tục được ban hành. Điểm tích cực dưới giác độ tâm lý là thị trường đã dự báo trước được các biện pháp thắt chặt do định hướng chính sách này sẽ được giữ trong vòng nhiều tháng tới.

    Thứ hai, mức tăng CPI tháng 3 vẫn là một ẩn số. Lạm phát tháng 3 sẽ là một biến số vĩ mô được theo dõi chặt chẽ. Theo như kinh nghiệm thì CPI tháng 3 có khuynh hướng phản ánh xu thế lạm phát của cả năm. Mặc dù CPI tháng 3 của nhiều năm thường âm hoặc tăng thấp nhưng có mối liên hệ giữa 2 năm có CPI tăng cao là 2008 và 2010 thì CPI tháng 3 đều tăng cao lần lượt là 2,99% và 0,75%.

    CPI tháng 3 của năm nay sẽ bị ảnh hưởng bởi yếu tố tăng giá xăng, tăng giá điện dẫn tới sự thay đổi theo hướng tăng giá của nhiều nhóm mặt hàng trong rổ CPI, chưa tính đến các yếu tố lạm phát do tâm lý. Nếu CPI tháng 3 ở mức thấp thì các biện pháp thắt chặt tiền tệ cần thiết sẽ không quá hà khắc và niềm tin thị trường vào hiệu quả các chính sách mới sẽ tăng lên.

    Thứ ba, khả năng xuất hiện các đợt hồi phục kỹ thuật sau giai đoạn giảm sâu. Quá trình điều chỉnh của thị trường chứng khoán dù trong trung hạn nhưng vẫn luôn luôn xuất hiện các đợt hồi phục kỹ thuật theo nguyên lý lò xo (giảm sâu – bật mạnh) như đã từng thấy trong các giai đoạn suy giảm 2008 – 2009 – 2010.

    Với mức suy giảm của VN-Index tính từ đỉnh 525 điểm xuống vùng dưới 500 điểm có duy trì khá nhiều các mức hỗ trợ nhạy cảm như 480 - 460 - 440 - 420; các đợt hồi phục có thể xuất hiện ở các mốc này với các cấp độ khác nhau tùy thuộc vào thông tin cụ thể trên thị trường vào từng thời điểm và tương quan cung cầu.

    Mặc dù vậy các đợt hồi phục này cũng hàm chứa khá nhiều rủi ro cho các nhà đầu cơ ngắn hạn khi dòng tiền chảy vào thị trường tương đối yếu so với lực cung trong tương quan so với các năm trước đây.

    Thứ tư, xuất hiện nhiều cơ hội đầu tư giá trị. Quá trình điều chỉnh của thị trường có thể còn tiếp tục kéo dài trong thời gian tính bằng tháng nhưng theo quan điểm của chúng tôi khá nhiều cổ phiếu không còn cách quá xa mức đáy cuối cùng. Đây thực sự là các cơ hội đầu tư giá trị khá hấp dẫn cả về trung dài hạn và ngắn hạn. Vẫn sẽ có những cổ phiếu đi ngược lại xu hướng chung của thị trường dưới sự dẫn dắt của dòng tiền thông minh.

    Tóm lại, thị trường chứng khoán trong tháng 3 nhìn chung nhiều khả năng vẫn trong xu thế giảm giá nhưng tiến trình giảm giá sẽ chậm lại. Các thông tin tiêu cực đã được phản ánh khi được công bố nhưng mức độ ảnh hưởng tới nền kinh tế và các doanh nghiệp trong giai đoạn “thử thách” vẫn cần tiếp tục theo dõi và đánh giá lại.

    Tháng 3 nhiều khả năng xuất hiện các cơ hội đầu cơ ngắn hạn dưới dạng phục hồi kỹ thuật và cả những cơ hội mua vào đối với các cổ phiếu tốt có khả năng đi ngược lại thị trường.

    Chiến lược đầu tư tháng 3?

    Thị trường trong phiên cuối tháng 2 thực sự là một phán ứng mạnh đối với những chính sách mới của Chính Phủ. Tuy những chính sách này đã và đang tăng cường sự ổn định kinh tế, nhưng với các doanh nghiệp thì thực sự đó là một thách thức rất lớn trong ngắn hạn.

    Về lãi suất, việc duy trì lãi suất cao trong suốt thời gian vừa qua đã làm chi phí tài chính của các doanh nghiệp tăng mạnh. Nhưng sự kỳ vọng của các doanh nghiệp giảm lãi suất vào thơi gian này ngày càng khó khi Chính phủ tiếp tục thắt chặn tiền tệ, điều này sẽ không làm giảm chi phí tài chính như kỳ vọng của các doanh nghiệp.

    Nếu vẫn duy trì với lãi suất cao, giảm cung tiền bằng các biện pháp như hạn chế tăng trưởng tín dụng, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì các doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều trong vấn đề tiếp cận vay vốn. Đặc biệt vào thời điểm đầu năm hầu hết các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn cao cho kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

    Vấn đề về tỷ giá, việc NHNN điều chỉnh tăng mạnh tỷ giá USD so với VND lên 9,3%, với biên độ giao dịch 1%, đã làm cho chi phí đầu vào của các doanh nghiệp nhập khẩu tăng mạnh. Các hoạt động giao dịch của các doanh nghiệp này bằng ngoại tệ bị tác động xấu. Đặc biệt với các doanh nghiệp có nguồn vốn vay lớn bằng ngoại tệ (như vận tải biển, điện, …) dự kiến phải trích lập dự phòng chi phí tài chính khổng lồ.

    Về lạm phát, làn sóng lạm phát đã và đang ngày càng đi sâu vào từng hoạt động tiêu dùng và sản xuất của các doanh nghiệp khi hầu hết tất cả nguyên vật liệu đầu vào đều tăng giá. Trong khi thu nhập của người dân chưa thực sự được cải thiện, nguồn cung tiền bị hạn chế mà áp lực lạm phát đè nặng lên người tiêu dùng- điều này sẽ làm cho sức mua của thị trường giảm xuống, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp.

    Thời điểm này là cơ hội của nhà đầu tư trung hạn, vì hầu hết một phần lớn các thông tin này đã phản ánh vào giá, sẽ tạo một mặt bằng giá thấp của hầu hết các cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết. Nhưng sẽ là một thách thức nếu những doanh nghiệp niêm yết không có kế hoạch tốt ứng phó phù hợp với điều kiện mới của nền kinh tế.

    Chúng tôi khuyến nghị trong danh mục cổ phiếu, nhà đầu tư nên tăng tỷ trọng blue-chip trong cơ cấu danh mục (vì blue-chip thường là những doanh nghiệp có khả năng vượt qua khó khăn tốt hơn các doanh nghiệp khác).

    Tuy nhiên nhà đầu tư nên nghiên cứu doanh nghiệp một cách cụ thể và chi tiết, đánh giá chính xác khả năng hoạt động và phát triển của doanh nghiệp trong gian đoạn này. Và có thể chấp nhận rủi ro nếu thấy những doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng đột biến khi kinh tế ổn định trở lại.

    Đối với nhà đầu tư lướt sóng ngắn hạn nên duy trì tỷ lệ 30% cổ phiếu và 70% tiền mặt, và mua bán theo hình thức T+ dựa trên danh mục hiện tại đã có. Không sử dụng margin.

    Đối với nhà đầu tư dài hạn nên duy trì tỷ lệ 40% cổ phiếu và 60% tiền mặt. Cơ cấu danh mục dựa trên các yếu tố cơ bản và đánh giá tiềm năng phát triển kinh doanh của doanh nghiệp.
  3. bh_dn

    bh_dn Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    23/05/2010
    Đã được thích:
    0
    Chết thảm
  4. NATO319

    NATO319 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    26/08/2010
    Đã được thích:
    0
  5. abclkj

    abclkj Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    24/11/2003
    Đã được thích:
    1
    Quá buồn ........................
  6. NATO319

    NATO319 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    26/08/2010
    Đã được thích:
    0
    Em thấy kết luận câu này đáng chú y " ......Đáy chứng khoán có thể đã rất gần, nhưng vùng đáy đó rộng bao nhiêu và dài bao nhiêu thì khó mà phỏng đoán chính xác." :-ss:-ss:-ss:-ss
  7. tranminhluan1

    tranminhluan1 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    19/01/2011
    Đã được thích:
    0
    Các bác nên xin 1 cái bị và cây gậy,1 tháng thu nhập cũng trên chục chai,có tiền đầu tư tiếp
  8. abclkj

    abclkj Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    24/11/2003
    Đã được thích:
    1
    Thế mới nói là liệu có giống 2008 không [:D]. Đa số anh em chơi lâu năm quách tỉnh té sạch rồi giờ chỉ còn khổ bác nào đang ôm bom hy vọng đợi sóng thôi :-ss
  9. bodessm

    bodessm Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    07/03/2010
    Đã được thích:
    0
    Giờ này còn té gì nữa, túc tắc nhặt đi chứ
  10. abclkj

    abclkj Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    24/11/2003
    Đã được thích:
    1
    7 cuộc khủng hoảng giá dầu trong lịch sử

    Dù tăng hay giảm giá, mỗi cuộc khủng hoảng dầu lửa trong 40 năm qua đều gắn liền với xung đột chính trị và suy thoái kinh tế, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới tình hình tài chính toàn cầu.

    1. Khủng hoảng dầu lửa Trung Đông 1973 - 1975

    [​IMG]Khủng hoảng dầu lửa 1973-1975 khiến giá tăng vụt và người mua phải xếp hàng dài.
    Khủng hoảng dầu mỏ bắt đầu diễn ra từ ngày 17/10/1973 khi các nước thuộc Tổ chức Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) quyết định ngừng cung cấp nhiên liệu sang Mỹ, Nhật và Tây Âu, nhằm trừng phạt cho sự ủng hộ của nhóm này đối với Israel trong cuộc xung đột giữa Israel và liên quân Ai Cập - Syria. Lượng dầu bị cắt giảm tương đương với 7% sản lượng của cả thế giới thời kỳ đó. Sự kiện này đã khiến giá dầu thế giới tăng cao đột ngột và gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế 1973-1975 trên quy mô toàn cầu. Ngày 16/10/1973, giá dầu mỏ từ 3,01 USD nhảy lên 5,11USD một thùng, và tăng đến gần 12 USD vào giữa 1974.
    Đây được xem là cơn khủng hoảng đáng nhớ nhất trong thời kỳ những năm 1970. Những ai từng trải qua "cơn khủng hoảng dầu Trung Đông" sẽ không thể nào quên cảnh hàng người dài dằng dặc chờ đợi trước các cây xăng bởi nguồn cung ứng thiếu hụt nghiêm trọng và giá cả tăng cao. Trong thời gian khủng hoảng, tại nhiều bang ở Mỹ mỗi người dân chỉ được phép mua một lượng nhiên liệu nhất định, giá đã tăng trung bình 86% chỉ trong vòng một năm từ 1973 đến 1974.
    Thêm vào đó, một biến cố lớn nữa xảy đến với thị trường chứng khứng toàn cầu vào năm 1973 - 1974. Chỉ số FT30 của Sở giao dịch chứng khoán London bốc hơi 73% giá trị, khiến đôla Mỹ mất giá và làm cuộc khủng hoảng dầu lửa thêm tồi tệ. Thị trường chứng khoán Mỹ bốc hơi 97 tỷ đôla, số tiền khổng lồ thời điểm đó, chỉ sau một tháng rưỡi. Trong suốt cuộc khủng hoảng, tại Mỹ, GDP giảm 3,2%, tỷ lệ thất nghiệp chạm mức 9%. Suy thoái và lạm phát lan rộng gây ảnh hưởng tới kinh tế toàn cầu cho tới tận thập niên 1980.
    2. Cách mạng Iran và biến động thị trường dầu lửa năm 1979

    [​IMG]Cách mạng Iran đã gây ra cuộc khủng hoảng dầu lửa lớn thứ hai thế giới.
    Cách mạng Hồi giáo Iran được mệnh danh cuộc cách mạng lớn thứ 3 trong lịch sử nhân loại, sau Cách mạng Pháp, Tháng Mười Nga, và đã gây ra cuộc khủng hoảng dầu lửa lớn thứ hai thế giới.
    Vào đầu 1978, Iran xuất khẩu 5,4 triệu thùng dầu mỗi ngày, chiếm 17% tổng sản lượng của OPEC. Nhưng khi cách mạng Iran lật đổ chính quyền quân chủ của Shah, ngành công nghiệp vàng đen của nước này dưới chế độ mới đã giảm mạnh bởi sự tàn phá của các lực lượng đối lập. Trong nỗ lực kìm giá dầu, Ảrâp Xêút và các nước thuộc OPEC khác đã nhất loạt tăng sản lượng. Kết quả là lượng khai thác chỉ giảm 4% so với trước Cách mạng Hồi giáo Iran.
    Tuy nhiên, giá dầu vẫn bốc lên ngất ngưởng do nỗi sợ hãi của thị trường, cộng thêm việc việc Tổng thống Mỹ Jimmy Carter ra lệnh ngừng nhập khẩu dầu từ Iran. Chỉ trong vòng 12 tháng, mỗi thùng dầu nhảy vọt từ 15,85 USD lên 39,5 USD.
    Đây chính là tiền đề cho cuộc khủng hoảng kéo dài 30 tháng tại Mỹ. Giá năng lượng đi lên kéo theo lạm phát gia tăng, đạt đỉnh 13,5% trong năm 1980, buộc Cục Dự trữ Liên bang (FED) phải thực hiện hàng loạt chính sách thắt chặt tiền tệ.
    Không chỉ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng một cách đáng lo ngại với từ mức 5,6% của tháng 5/1979 lên 7,5% một năm sau đó. Dù kinh tế bắt đầu hồi phục trong năm 1981, tỷ lệ thất nghiệp vẫn được duy trì ở mức cao 7,5% và đạt kỷ lục 10,8% vào 1982.
    Hậu quả của suy thoái tồi tệ đến nỗi các ngành công nghiệp xe hơi, nhà đất, và sản xuất thép đều liên tục sụt giảm trong 10 năm sau, cho tới tận khi cuộc khủng hoảng giá dầu tiếp theo kết thúc.
    3. Giá dầu tụt thê thảm vào những năm 1980

    [​IMG]Kinh tế thế giới èo uột khiến giá dầu tụt thê thảm năm 1980.
    Từ 1981 đến 1986, do tăng trưởng kinh tế chậm tại các nước công nghiệp (hậu quả của các cuộc khủng hoảng năm 1973 và 1979), nhu cầu tiêu thụ dầu trên toàn thế giới chậm lại. Ở các nước tiêu thụ dầu lớn như Mỹ, Nhật và châu Âu, nhu cầu nhiên liệu giảm 13% từ năm 1979 đến 1981. Hệ quả là giá dầu giảm mạnh từ 35 USD hồi 1981 xuống dưới 10 USD một thùng năm 1986.
    Giá giảm đã làm lợi cho rất nhiều nước tiêu thụ lớn như Mỹ, Nhật, châu Âu và thế giới thứ 3, nhưng lại gây tổn thất nghiêm trọng cho các nước xuất khẩu dầu ở Bắc Âu, Liên Xô và khối OPEC. Nhiều công ty nhiên liệu của Mexico, Nigeria và Venezuela đến bên bờ vực phá sản. Dầu mất giá còn khiến khối OPEC mất đi sự đoàn kết.
    4. Cơn sốt giá dầu năm 1990

    [​IMG]Những giếng dầu bốc cháy trong cuộc chiến vùng Vịnh thời kỳ 1990, vốn là nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng giá nhiên liệu thời kỳ đó. Ảnh: openlearn.open.ac.uk
    Giá dầu thế giới một lần nữa tăng vọt 13% vào tháng 8/1990 vì cuộc chiến tranh vùng Vịnh giữa Iraq và liên quân hơn 30 quốc gia do Mỹ lãnh đạo để giải phóng Kuwait.
    Sau cuộc chiến, Liên Hợp Quốc áp dụng lệnh cấm xuất khẩu dầu toàn phần đối với Iraq và Kuwait. Chính lệnh cấm vận này đã lấy đi của thị trường dầu mỏ thế giới gần 5 triệu thùng mỗi ngày, khiến giá tăng cao.
    Cơn sốt lần này kéo dài trong 9 tháng và giá không vượt đỉnh các cuộc khủng hoảng trước (hồi 1973 và 1979 - 1980). Tại thời điểm đó, mỗi thùng dầu đắt gấp đôi chỉ trong vòng 2 tháng, từ 17 USD lên 36 USD mỗi thùng. Chỉ khi lực lượng Liên quân do Mỹ lãnh đạo đưa quân vào giải phóng Kuwait, tình trạng thiếu nguồn cung mới chấm dứt và giá bắt đầu hạ.
    Khủng hoảng này phần nào là nguyên nhân dẫn tới cuộc suy thoái kinh tế ở Mỹ với sự sụp đổ của thị trường tín dụng. Một loạt cường quốc chịu nhiều ảnh hưởng gián tiếp như Canada, Australia, Nhật, hay Anh cũng bị cuốn vào vòng xoáy suy thoái.
    5. Giá dầu xuống dốc năm 2001

    Sau năm 2000, kinh tế toàn cầu giảm sút, đặc biệt là từ sau sự kiện khủng bố 11/9 tại Mỹ, giá dầu thế giới càng giảm mạnh hơn. Năm 2001 mỗi thùng dầu chỉ còn 20 USD một thùng, giảm 35% so với trước. Nhu cầu nhiên liệu giảm mạnh cũng góp phần vào sự giảm giá dầu.
    6. Đợt khủng hoảng giá dầu nghiêm trọng năm 2007 - 2008

    [​IMG]Khủng hoảng giá dầu năm 2007-2008 trước khi thế giới rơi vào cuộc suy thoái toàn cầu.
    Năm 2007, giá dầu leo thang tiến gần 100 USD. Trong bối cảnh đồng USD mất giá nghiêm trọng, nhiều nước có dự trữ đôla Mỹ lớn và khối OPEC đã phải tính đến khả năng chuyển dần sang sử dụng loại ngoại tệ mạnh khác để tính giá dầu. Dầu đắt đỏ và nguy cơ cạn kiệt nguồn cung đã làm bùng lên cuộc tranh chấp giữa các cường quốc về chủ quyền đối với những giếng dầu lớn và đáy biển ở Bắc cực cũng như Nam cực.
    Bong bóng nhà ở cùng với sự giám sát tài chính thiếu hoàn thiện của Mỹ đã dẫn tới cuộc khủng hoảng tài chính bùng phát vào giữa năm 2007. Sự đổ vỡ lên đến cực điểm vào tháng 10/2008, lan rộng và đẩy nền kinh thế giới vào cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng nhất kể từ cuộc Đại suy thoái 1929 - 1933. Tại thời điểm này, có lúc giá dầu lên đến mức kỷ lục 145 USD mỗi thùng.
    7. Cú sốc dầu lửa 2011

    [​IMG]Bạo loạn tại Libya, thành viên lớn thứ 9 trong khối OPEC khiến thị trường nhiên liệu đang trải qua đợt khủng hoảng giá mới. Ảnh: AFP
    Bạo loạn tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi nói chung cùng những cuộc biểu tình ở Libya thời gian gần đây đang gây sóng gió trên thị trường nhiên liệu, với giá dầu lên mức trên 100 USD một thùng. Hiện tại, các nước châu Âu (ví dụ Italy, Iceland và Áo) phụ thuộc khá nhiều vào dầu mỏ đến từ Libya.
    Giá dầu mỏ tăng cao đã và đang ảnh hưởng kinh doanh chứng khoán và vận tải. Giới phân tích tính toán nếu những cuộc bạo loạn hiện nay khiến cho giá dầu tăng thêm 40 đến 50 USD, và tình trạng này kéo dài 1 năm, thì tăng trưởng GDP toàn cầu sẽ mất khoảng 2%.

Chia sẻ trang này