1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Lãi suất khó hạ vì thông tư 13? Lại thêm TT 226-BTC 1/4 có hiệu lực.

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi tiencua68, 20/02/2011.

Có 16413 người đang online, trong đó có 31 thành viên. 00:28 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 1022 lượt đọc và 11 bài trả lời
  1. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://cafef.vn/20110219085022575CA34/lai-suat-kho-ha-vi-thong-tu-13.chn

    Lãi suất khó hạ vì thông tư 13? ​
    [​IMG]

    Ông Lê Xuân Nghĩa - Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, cho rằng NHNN nên bỏ quy định chỉ cho vay 80% vốn huy động.



    Kể từ khi được ban hành, Thông tư 13 và sửa đổi là thông tư 19 tác động mạnh lên hoạt động của các ngân hàng. Theo đó thì tỷ lệ cho vay của NHTM bị giới hạn bởi tỷ lệ 80%. Nhiều ngân hàng cho rằng tỷ lệ đó khiến họ khó hạ lãi suất cho vay.
    Chúng tôi đã có trao đổi với các chuyên gia tài chính ngân hàng để có cái nhìn toàn diện về vấn đề này .
    Ông Lê Xuân Nghĩa - Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia: “NHNN nên bỏ quy định chỉ cho vay 80% vốn huy động”
    Tôi đề nghị sử dụng mạnh mẽ công cụ thị trường để thay cho những công cụ hành chính như thông tư 13 & sửa đổi 19. NHNN nên bỏ quy định cho vay 80% vốn huy động. Tôi cho rằng như thế sẽ tốt hơn.
    Việc áp dụng biện pháp hành chính, khiến các NHTM tìm cách để lách. Kết quả cơ quan giám sát cực kỳ khó khăn khi thanh tra giám sát ngân hàng. Chúng ta không thể ngồi tính được ngân hàng đã cho vay 80% vốn huy động, và trong 80% đó ngân hàng nào đã cho vay hết 25% vốn huy động không kỳ hạn của tổ chức.
    NHNN lập luận cho ban hành TT 19 là như vậy lãi suất không tăng bằng việc áp dụng dự trữ bắt buộc. Theo tôi đó là sai lầm vì cả 2 đều là những công cụ hạn chế tín dụng. Tiếp theo NHNN cho rằng làm như thế thanh khoản NHTM sẽ tốt hơn. Ý tưởng này càng không đúng. Vấn đề thanh khoản khi xảy ra chỉ ở một vài ngân hàng, và chỉ ở một vài thời điểm. Để lại 20% tiền huy động ở các ngân hàng thì có thể yên tâm thanh khoản là không hợp lý.
    Khi dùng công cụ dự trữ bắt buộc, lấy một phần vốn của thị trường về NHNN, và NHNN sử dụng can thiệp lúc cần khi ngân hàng gặp khó khăn. Điều này giống như mua bảo hiểm thì tất cả đều phải tham gia nhưng chỉ chi trả bảo hiểm khi có ai đó gặp tai nạn, ốm đau. Như vậy ta hoàn toàn có thể sử dụng DTBB để điều tiết thị trường mà vẫn đạt kết quả.
    Đã sử dụng công cụ DTBB thì cần có sự phân biệt tiền gửi nội tệ và ngoại tệ. Trong đó DTBB với ngoại tệ phải cao hơn nhiều nội tệ. Sự chênh lệch đó đủ để lãi suất tiền gửi ngoại tệ thấp, nhưng cho vay ngoại tệ cao. Khi đó NH sẽ ko thích huy động ngoại tệ, nếu có thì chỉ huy động lãi suất thấp. Như vậy người dân sẽ không thích gửi ngoại tệ và nội tệ sẽ hấp dẫn hơn. Người dân sẽ đổi ngoại tệ sang nội tệ, giảm áp lực cho tỷ giá.

    Ông Cấn Văn Lực – Cố vấn cao cấp Chủ tịch BIDV: “Thông tư 13 và 19 là nút thắt an toàn cho hệ thống ngân hàng.”
    Theo tôi thông tư 13 và sửa đổi là thông tư 19 cần thiết cho hệ thống ngân hàng. Thực ra trong môi trường biến động thì cần có những nút thắt an toàn. Thông tư 13, 19 là cho hệ thống ngân hàng an toàn khi hoạt động, đó là đáp ứng một phần tiêu chuẩn Basel II được ngân hàng ban hành 2004 mà đa phần các quốc gia đã đang áp dụng.
    Với hệ số cho vay 80% trên vốn huy động có nhiều tranh cãi. Quan điểm của tôi thì NHNN đã cố gắng để có sự phân biệt. Với ngân hàng là 80%, tổ chức phi ngân hàng 85% như công ty tài chính.
    Tuy nhiên tôi cũng có mong muốn NHNN cần có chỉ tiêu cụ thể với từng ngân hàng. Còn nếu bảo bỏ điều kiện đó thì tôi nghĩ không nên vì khủng hoảng tài chính 97-98 cho thấy các NH trong khu vực như Thái lan, Indonesia, philipines, Malaysia, Hàn quốc khi tỷ lệ cho vay vượt quá 100% vốn huy dộng các ngân hàng có nguy cơ mất thanh khoản rất lớn. Cho nên đảm bảo tính thanh khoản của NH thì áp dụng thông tư 13&19 là cần thiết.
    Tôi cũng đồng tình với ý cho rằng quản lý, điều tiết, giám sát ngân hàng trên cơ sở mức độ rủi ro của từng ngân hàng. Tôi hiểu NHNN cũng đang hướng tới việc đó. Điều này rất quan trọng. Hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ cũng thực hiện điều kiện giám sát như vây.
    Qua đó quy định hệ số CAR đối với từng ngân hàng khác nhau. Tiếp đến là hệ số cho vay nhiều hơn, ít hơn 80% cũng phụ thuộc vào độ rủi ro của từng ngân hàng. Nếu như quản lý được được từng ngân hàng thông qua hệ số rủi ro thì mức phí bảo hiểm tiền gửi cũng sẽ khác nhau giữa các ngân hàng.

    Bà Lê Nguyệt Ánh – Phó phòng nghiên cứu và phân tích ACBS: “ Thông tư 13 và sửa đổi 19 tác động mạnh mẽ, khiến ngân hàng khó giảm lãi suất”

    Thông tư 13 và sửa đổi 19 quy định các tỷ lệ an toàn bắt buộc đối với hệ thống ngân hàng và hạn chế một phần tốc độ tăng trưởng tín dụng. Các hạn chế này tác động mạnh mẽ đến hệ thống ngân hàng và khiến lãi suất khó giảm hơn là có thật.
    Tuy nhiên, cũng như chỉ thị 03 trước đây về hạn chế cho vay chứng khoán, Thông tư 13 và sửa đổi 19 là cần thiết để đảm bảo an toàn hệ thống tài chính ngân hàng trong dài hạn.
    Theo tôi, lãi suất cao vào thời điểm hiện tại là cần thiết để tăng cường thanh khoản của hệ thống ngân hàng và tăng cường tính hấp dẫn của Đồng Việt Nam nhằm hỗ trợ tỷ giá.
    Cao Sơn​


    ​
  2. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://luatvietnam.vn/default.aspx?...DA23-F7C5-47E8-92A5-4592BB767AD3/default.aspx

    Thiếu an toàn tài chính, công ty chứng khoán sẽ bị kiểm soát


    Tổ chức kinh doanh chứng khoán bị đặt vào tình trạng kiểm soát khi tỷ lệ vốn khả dụng dao động từ 120% tới 150% trong tất cả các kỳ báo cáo trong ba (03) tháng liên tục. Đây là nội dung được quy định trong Thông tư số 226/2010/TT-BTC ngày 31/12/2010 của Bộ Tài chính quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính.


    Theo quy định trên thì tỷ lệ vốn khả dụng là căn cứ để Ủy ban chứng khoán nhà nước đưa ra quyết định có áp dụng tình trạng kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán hay không; tỷ lệ này được xác định theo nguyên tắc: tỷ lệ vốn khả dụng = vốn khả dụng x 100%/tổng giá trị rủi ro.


    Trong đó, vốn khả dụng là vốn chủ sở hữu có thể chuyển đổi thành tiền trong vòng chín mươi (90) ngày; Giá trị rủi ro bao gồm 03 loại: giá trị rủi ro hoạt động, giá trị rủi ro thị trường và giá trị rủi ro thanh toán.


    Thời hạn kiểm soát không quá mười hai (12) tháng. Trong trường hợp xét thấy là cần thiết, theo đề nghị của tổ chức kinh doanh chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước kéo dài thời hạn kiểm soát, tuy nhiên tối đa không quá sáu (06) tháng.


    Trong thời hạn tối đa mười lăm (15) ngày, kể từ ngày Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ra quyết định đặt tổ chức kinh doanh chứng khoán vào tình trạng kiểm soát, tổ chức kinh doanh chứng khoán phải gửi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước báo cáo chi tiết về thực trạng tài chính, nguyên nhân và Phương án khắc phục.


    Tổ chức kinh doanh chứng khoán chỉ được đưa ra khỏi tình trạng kiểm soát khi tỷ lệ vốn khả dụng đạt và vượt 180% của các kỳ báo cáo trong ba (03) tháng liên tục. Trường hợp Tỷ lệ vốn khả dụng giảm xuống dưới 120% hoặc tổ chức kinh doanh chứng khoán không khắc phục được tình trạng kiểm soát trong thời gian quy định, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ra quyết định đặt tổ chức kinh doanh chứng khoán vào tình trạng kiểm soát đặc biệt...


    Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/4/2011; sau thời hạn mười hai (12) tháng kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực, các tổ chức kinh doanh chứng khoán xác định, báo cáo các chỉ tiêu an toàn tài chính và phải chịu sự điều chỉnh theo các quy định về kiểm soát, kiểm soát đặc biệt và các biện pháp xử lý tại Chương III Thông tư này.





    ​
    ​
  3. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
  4. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://vneconomy.vn/2011021808415933P0C9920/khi-lam-phat-gan-gap-doi-tang-truong.htm
    Khi lạm phát gần gấp đôi tăng trưởng

    [​IMG] E-mail [​IMG] Bản để in [​IMG] Cỡ chữ [​IMG] Chia sẻ: [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] Ý kiến (3)

    ▪ PHƯƠNG UYÊN
    19/02/2011 15:13 (GMT+7)

    [​IMG] Diễn biến CPI các tháng trong hai năm 2009 - 2010.
    ​
    Nhiều câu hỏi về ý nghĩa thực sự của tăng trưởng khi lạm phát gần gấp đôi tăng trưởng
    “Muốn nền kinh tế tích cực, chất lượng đời sống người dân được nâng lên thì lạm phát phải thấp hơn tăng trưởng”.

    Đây là điều được Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên đặc biệt nhấn mạnh trong phát biểu kết thúc gần một ngày thảo luận báo cáo bổ sung của Chính phủ về tình hình kinh tế, xã hội năm 2010 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hôm 18/12.

    CPI “vượt xa mọi dự báo”

    Tại đây, con số tăng trưởng 6,78% cùng với 17/21 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch của năm qua đã không làm vơi bớt nỗi lo về hệ lụy của chỉ số CPI, mà theo như Ủy ban Kinh tế là đã “vượt xa mọi dự báo”.

    Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Văn Thuận cho rằng cần phải trả lời câu hỏi của người dân, là “thưa các nghị sỹ, tăng trưởng hàng năm cao, con số đẹp nhưng đời sống người dân không tăng kịp với con số đó”.

    Theo ông, tăng trưởng rồi thu ngân sách vượt chỉ là những con số về lượng. “Điều tôi muốn là các đồng chí đánh giá chất của sự thực tăng trưởng, chất của sự thực tăng thu như thế nào. Nếu chỉ nhìn vào con số rất dễ dàng thỏa mãn, nhưng chất của nó thì sao?”.

    Ông Thuận cho rằng, nếu không phân tích kỹ điều này thì không thể trả lời câu hỏi của dân được.

    Với góc nhìn của Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Ksor Phước thì lạm phát tăng cao làm các thành tựu kinh tế giảm đi ý nghĩa thực tế, đối tượng chịu thiệt thòi nhất là người nghèo, người làm công ăn lương.

    Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng - An ninh Lê Quang Bình phản ánh than thở của dân "đi chợ bây giờ cứ như bị móc túi".

    Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên nhấn mạnh rằng, khi Quốc hội thông qua chỉ tiêu lạm phát không quá 7% không phải đưa ra những con số cho đẹp mà nghĩ đến ổn định kinh tế vĩ mô và chất lượng cuộc sống của người dân lao động.

    Cũng theo Phó chủ tịch, dù tốc độ tăng giá tiêu dùng cao hơn tốc độ tăng trưởng, lạm phát cao như vậy song vẫn có ý kiến cho rằng con số trong báo cáo vẫn còn thấp hơn thực tế.

    Ông Kiên phân tích, không riêng Việt Nam chịu tác động của suy giảm kinh tế và giá hàng hóa trên thế giới tăng cao. Nhưng thực tế qua chuyến đi công tác một số nước vừa qua cho thấy, chỉ số giá và lạm phát của họ đều tăng thấp hơn chỉ số tăng trưởng. "Lào, Campuchia, Ấn Độ… đều vậy, tăng trưởng gấp đôi chỉ số lạm phát".

    “Cho nên ở đây chúng ta phải phân tích những nguyên nhân để trên cơ sở đó có những giải pháp đảm bảo tốc độ tăng trưởng và lạm phát có tương quan hợp lý hơn”, ông Kiên lưu ý.

    “Có sao nói vậy, dân mới tin”

    Tập hợp ý kiến của nhiều chuyên gia kinh tế, tài chính, báo cáo thẩm tra sơ bộ của cả Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Tài chính - Ngân sách đều thể hiện sự quan ngại sâu sắc về hệ lụy của lạm phát.

    Yếu tố không thuận số 1 cho việc thực hiện mục tiêu và các chỉ tiêu chủ yếu theo Nghị quyết của Quốc hội trong năm nay tại bản báo cáo của Ủy ban Kinh tế vẫn là chỉ số giá tiêu dùng (CPI).

    Theo đó, CPI tháng 1 tăng 1,74% so với tháng 12/2010 là mức tăng cao hơn so với nhiều năm (tháng 1 các năm 2004, 2005, 2006, 2007 tăng 1,1-1,2%, năm 2009 tăng 0,3%, 2010 tăng 1,36%).

    Thêm nữa, ngay tại phiên họp buổi sáng, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu đã đưa ra thông tin lạm phát tháng 2/2011 có thể cao hơn dự kiến.

    Phân tích diễn biến phức tạp của CPI, lãi suất và tỷ giá, đa số ý kiến trong Thường trực Ủy ban Kinh tế cho rằng, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự yếu kém nội tại của nền kinh tế.

    Đó là mô hình tăng trưởng kinh tế những năm qua dựa nhiều vào việc tăng vốn đầu tư và phát triển chiều rộng, nhưng phân bổ nguồn lực chưa hợp lý, hiệu quả đầu tư thấp đã tác động xấu đến các cân đối lớn của nền kinh tế như thâm hụt cán cân vãng lai kéo dài, thâm hụt ngân sách lớn, nợ công tăng nhanh, nhập siêu cao, mất cân đối ngoại tệ...

    "Đây là những yếu tố mang tính cốt yếu, tác động xấu đến nền kinh tế không chỉ trong ngắn hạn, phản ảnh thực lực của nền kinh tế chưa mạnh, thiếu tính bền vững”, Chủ nhiệm Hà Văn Hiền nhấn mạnh.

    Vì vậy, Thường trực Ủy ban đã đưa ra đề nghị, cần ưu tiên xây dựng lộ trình và khẩn trương thực hiện ngay từ năm 2011 quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu kinh tế.

    Nhóm giải pháp nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh cũng nằm trong nội dung được Ủy ban Kinh tế nhấn mạnh.

    "Trước hết cần cơ cấu lại đầu tư, lấy hiệu quả kinh tế là thước đo và tiêu chí chủ yếu để quyết định đầu tư", Chủ nhiệm Hà Văn Hiền nêu quan điểm.

    Nằm trong nhóm giải pháp này còn có nội dung cải cách doanh nghiệp theo hướng nâng cao sức cạnh tranh, nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm, trong đó, cải cách doanh nghiệp nhà nước là trọng tâm. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

    Cũng lưu ý nhiều giải pháp cho năm tới, song Phó chủ tịch Nguyễn Đức Kiên nhấn mạnh "ổn định thực chất đời sống của tuyệt đại đa số người dân là nhiệm vụ trọng tâm" và "có sao nói vậy, dân mới tin".
  5. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://vneconomy.vn/20110218095018862P0C9920/thong-diep-chong-lam-phat-da-manh-me-hon.htm
    Thông điệp chống lạm phát đã mạnh mẽ hơn

    [​IMG] E-mail [​IMG] Bản để in [​IMG] Cỡ chữ [​IMG] Chia sẻ: [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] Ý kiến (6)

    [​IMG]
    Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề xuất tăng trưởng tín dụng năm nay dưới 20% thay vì 23%.


    ▪ MINH THÚY
    10:31 (GMT+7) - Thứ Sáu, 18/2/2011
    Chính phủ đã bàn và quyết định nhiều giải pháp nhằm đưa ra thông điệp mạnh mẽ thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát


    Tại cuộc họp chiều qua (17/2), Chính phủ đã bàn và quyết định những giải pháp nhằm đưa ra thông điệp mạnh mẽ thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh cho biết tại cuộc họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng 18/2.

    Theo Bộ trưởng, Chính phủ sẽ có nghị quyết mới đưa ra thông điệp mạnh mẽ về thực hiện giải pháp giảm tổng cầu để kiềm chế lạm phát. Thời gian tới, chính sách tài chính sẽ được điều hành hết sức chặt chẽ, tiết kiệm tiếp 10% chi nữa. Đồng thời không tăng đầu tư xây dựng cơ bản, kể cả trong điều kiện trượt giá.

    Trừ các công trình đầu tư chống lũ lụt, an ninh quốc phòng thực sự cấp bách, còn lại các công trình khác nếu thực hiện không hết thì không cho chuyển vốn sang năm sau. Đồng thời dừng xây dựng trụ sở không quan trọng, không cần thiết, vị tư lệnh ngành tài chính cho biết.

    Tại cuộc họp trên, chính sách tiền tệ sẽ chặt chẽ hơn cũng là một định hướng được đề cập tới. Thống đốc Nguyễn Văn Giàu đề nghị tăng trưởng tín dụng dưới 20% chứ không phải là 23% hay 25% nữa.

    Xác nhận thông tin này trong phát biểu sau đó, Thống đốc Giàu nhấn mạnh đây có thể là mức tăng trưởng tín dụng thấp nhất trong 5 năm trở lại đây.

    Ngân hàng Nhà nước đã chuẩn bị đưa ra các giải pháp mạnh để giảm tổng cầu, Thống đốc Giàu cho biết. Đồng thời người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước cũng phân tích việc giảm tổng cầu và tăng trưởng tín dụng sẽ đưa tín hiệu tốt cho thị trường.

    Theo Bộ trưởng Ninh và Thống đốc Giàu, tất cả giải pháp nêu trên đưa ra thông điệp điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa chặt chẽ hơn nhằm mục tiêu chống lạm phát.

    Trong ít phút phát biểu thêm sau khi trình bày báo cáo đánh giá bổ sung về kết quả thực hiện ngân sách Nhà nước năm 2010, Bộ trưởng Ninh cũng không quên nhắc đến những giải pháp kiềm chế lạm phát đã được thể hiện tại báo cáo của Chính phủ, được Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trình bày ngay đầu phiên họp.

    Tại đây, kiểm soát lạm phát là nội dung được nhấn mạnh ngay từ dòng đầu tiên của nhóm giải pháp "tăng cường ổn định vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế”.

    Theo đó, Chính phủ xác định phải kiểm soát lạm phát, bảo đảm ổn định thị trường, điều hành chính sách tiền tệ chủ động linh hoạt và thận trọng, kết hợp hài hòa giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán, tín dụng và bảo đảm lãi suất ở mức hợp lý.

    Chính phủ cũng nhấn mạnh việc điều hành tỷ giá chủ động, linh hoạt theo tín hiệu thị trường, tăng cường năng lực phân tích, dự báo, chủ động điều chỉnh lượng cung tiền để đảm bảo tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng, góp phần kiểm soát lạm phát.

    Một thông điệp mạnh mẽ với các giải pháp hiệu quả hơn để kiềm chế lạm phát cũng là yêu cầu được nhấn mạnh tại các báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính - Ngân sách và Ủy ban Kinh tế của Quốc hội.

    Bởi, theo Ủy ban Kinh tế, những dự báo mới nhất đều cho thấy kinh tế thế giới mặc dù tiếp tục xu hướng phục hồi nhưng tăng trưởng sẽ chậm hơn so với năm 2010. Hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến cân đối cung - cầu lương thực, thực phẩm tại một số quốc gia.

    Ở trong nước, lạm phát, lãi suất có sức ép tăng ở mức cao, cung - cầu vốn tín dụng căng thẳng, gây khó khăn cho điều hành chính sách tiền tệ khi vừa phải bảo đảm thanh khoản cho nền kinh tế, vừa phải thực hiện kiềm chế lạm phát, vừa phải bảo đảm tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2010. Thị trường ngoại hối và tỷ giá tiếp tục chịu sức ép.

    Quá trình thẩm tra báo cáo của Chính phủ, nhiều ý kiến của các chuyên gia kinh tế, tài chính đã đưa ra quan ngại sâu sắc khi lạm phát đã làm giảm ý nghĩa tăng trưởng. Thu nhập danh nghĩa tăng nhưng thu nhập thực tế tăng không tương xứng làm cho bộ phận dân cư, nhất là người làm công ăn lương đời sống gặp khó khăn.

    Do đó, nhóm giải pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát đã nằm ở vị trí số 1 khi Thường trực Ủy ban Kinh tế nhấn mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp chính cần tập trung thực hiện trong năm 2011.

    Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền đề nghị khắc phục tình trạng chính sách tiền tệ thì thắt chặt nhưng chính sách tài khóa thì nới lỏng, kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán một cách thích hợp nhằm mục tiêu hàng đầu là kiểm soát lạm phát và bảo đảm thanh khoản của nền kinh tế.

    Kiến nghị đầu tiên của Ủy ban Tài chính - Ngân sách cũng là "cần phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, ưu tiên cho ổn định kinh tế vĩ mô, giữ lạm phát ở mức Quốc hội cho phép".

    Nêu con số chi ngân sách tháng đầu tiên của năm tăng 19,3% so với cùng kỳ, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 20,3%, Chủ nhiệm Phùng Quốc Hiển đề nghị Chính phủ kiểm soát chặt chẽ chi tiêu công để góp phần ổn định kinh tế vĩ mô ngay từ những tháng đầu năm. "Tránh tình trạng lạm phát 2 con số như năm 2010, làm ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh và đời sống dân cư”, ông Hiển nhấn mạnh.
  6. muadinhbanday

    muadinhbanday Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    23/08/2010
    Đã được thích:
    0
  7. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://cafef.vn/20110223104153341CA...-tu-226-la-buoc-tien-lon-du-chua-hoan-hao.chn

    Cty Chứng khoán Thăng Long: Thông tư 226 là bước tiến lớn, dù chưa hoàn hảo ​
    [​IMG]

    Ông Mạc Quang Huy, Phó TGĐ Cty CK Thăng Long cho biết vẫn băn khoăn về cách tính giá trị rủi ro hoạt động dựa theo chí phí bằng tiền của công ty chứng khoán hoặc vốn pháp định.


    [​IMG] Đình chỉ hoạt động CTCK nếu không khắc phục được tình trạng kiểm soát đặc biệt sau 6 tháng

    p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal { margin: 0in 0in 0.0001pt; font-size: 12pt; font-family: "Times New Roman"; }div.Section1 { page: Section1; } Sau khi UBCK chính thức thông báo chính thức triển khai thông tư 226/BTC kể từ ngày 1/4/2011. Thông tư 226/BTC quy định các chỉ tiêu an toàn tài chính đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán.
    Phóng viên CafeF đã có buổi trao đổi với ông Mạc Quang Huy, phó tổng giám đốc công ty chứng khoán Thăng Long xung quanh việc áp dụng thông tư 226 vào thực tiễn.

    Xin ông cho biết thông tư 226/BTC được ban hành có tác động thuận lợi hay khó khăn như thế nào tới hoạt động của công ty?
    Thông tư 226/2010/TT-BTC ra đời là một bước tiến lớn trong công tác giám sát hoạt động của các công ty chứng khoán và các công ty quản lý quỹ thông qua chỉ số an toàn vốn. Quy định này giúp các công ty chứng khoán đánh giá khách quan sức khỏe tài chính và điều chỉnh kinh doanh của mình theo hướng an toàn và hiệu quả. Về cơ bản thông tư 226, mặc dù chưa hoàn hảo, song là một bước tiến lớn của Ủy ban Chứng khoán và đi theo định hướng hội nhập quốc tế.
    Theo Thông tư 226, một công ty chứng khoán được coi là “khỏe mạnh” phải có đáp ứng yêu cầu tỷ lệ vốn khả dụng trên tổng giá trị rủi ro không thấp hơn 1,8 lần. Trong đó, vốn khả dụng cơ bản được hiểu là vốn chủ sở hữu sau khi điều chỉnh cho một số tài sản có tính thanh khoản thấp cũng như các khoản trích lập dự phòng nghiệp vụ.
    Giá trị rủi ro được tính cho rủi ro thị trường, rủi ro thanh toán và rủi ro hoạt động. Như vậy, các công ty chứng khoán có các khoản mục đầu tư vào các chứng khoán không niêm yết, chứng khoán của các công ty phi đại chúng, chứng khoán hạn chế giao dịch sẽ chịu nhiều rủi ro thị trường và đòi hỏi yêu cầu vốn khả dụng nhiều hơn.
    Cá nhân tôi có chút phân vân về cách tính giá trị rủi ro hoạt động dựa theo chí phí bằng tiền của công ty chứng khoán hoặc vốn pháp định. Cách tính này có thể gây một số khó khăn nhất định cho các công ty chứng khoán có quy mô hoạt động lớn nhưng có hệ thống quản trị rủi ro tốt. Theo tham khảo thông lệ một số thị trường khác như Australia thì giá trị rủi ro hoạt động được tính dựa theo một tỷ lệ nhất định của giá trị rủi ro thanh toán và rủi ro thị trường.
    Đối với TLS, chúng tôi hiện đã tăng vốn điều lệ lên 1,200 tỷ. Chúng tôi cũng đang trong quá trình rà soát, tái cơ cấu lại các danh mục rủi ro để có thể đảm bảo đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn theo quy định.

    Xin ông cho biết, công ty đã có kế hoạch, chuẩn bị như thế nào để đáp ứng những quy định trong TT 226/BTC?
    TLS đã có những sự nghiên cứu và chuẩn bị thấu đáo cho sự ra đời của Thông tư 226/2010/TT-BTC. Chúng tôi coi đây là một cơ hội tự đánh giá lại sức khỏe của mình và là tiền đề cho các chiến lược tăng trưởng trong tương lai. Theo đó, chúng tôi đã tiến hành tăng vốn điều lệ từ 800 tỷ lên 1.200 tỷ vào tháng 11 năm 2010.
    Chúng tôi cũng đã và đang tiến hành rà soát và tái cơ cấu lại danh mục đầu tư theo hướng thu hẹp hoạt động đầu tư tự doanh nhằm từng bước hạn chế các hoạt động mâu thuẫn lợi ích khách hàng, đồng thời hạn chế giá trị rủi ro thị trường. Chúng tôi cũng thực hiện các chính sách tiết giảm chi phí hoạt động nhằm tăng hiệu quả hoạt động cũng như giảm thiểu giá trị rủi ro hoạt động theo cách tính trong Thông tư 226.
    Với việc TT 226/BTC được ban hành, ông có kỳ vọng gì về những thay đổi trên thị trường CK? Đó có là cơ sở để triển khai những sản phẩm tài chính, phái sinh mới?
    Chúng tôi hoan nghênh sự ra đời của Thông tư 226 và coi đây là tiền đề cần thiết để Ủy ban Chứng khoán tăng cường giám sát hoạt động của các thành viên thị trường thông qua các công cụ quản lý gián tiếp, tiệm cận dần với các thông lệ quốc tế, thông qua đó có thể cho phép các thành viên thị trường triển khai các sản phẩm mới. Chúng tôi tin rằng các sản phẩm mới là rất cần thiết để tăng cường tính hấp dẫn của thị trường, nhất là trong giai đoạn hiện nay.
    Đương nhiên, cùng với sự phát triển của các sản phẩm mới, Ủy ban Chứng khoán có thể tiếp tục hoàn thiện Thông tư 226 cho hoàn chỉnh hơn. Ví dụ, Thông tư hiện tại chưa đưa ra quy định tính giá trị rủi ro thị trường cho các khoản chứng khoán phái sinh được ghi nhận ngoại bảng, do đó các quy định này có thể được bổ sung trong tương lai.
    Quan điểm của ông với những trường hợp bị kiểm soát, kiểm soát đặc biệt theo TT 226? Theo ông những trường hợp đó cần được thông báo với thị trường hay không?
    Thông tư 226 có hiệu lực từ 1/4/2011 và các thành viên thị trường có 12 tháng để hoàn thiện và tuân thủ, do đó, tôi cho rằng đây là một lộ trình khá phù hợp. Do tính nhạy cảm của sức khỏe các công ty chứng khoán đối với các nhà đầu tư cũng như sự ổn định chung của thị trường và toàn xã hội.
    Theo quan điểm riêng của tôi, đối với các trường hợp bị kiểm soát đặc biệt, các cơ quan chức năng nên có những cân nhắc thấu đáo nhằm đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư và các thành viên thị trường khác cũng như lợi ích toàn cục. Do đó, cơ chế thông tin đối với những trường hợp này cũng có thể được áp dụng tương tự như đối với việc kiểm soát các ngân hàng thương mại.
    Để tránh rơi vào tình huống kiểm soát đặc biệt, các công ty chứng khoán cần ý thức trách nhiệm rủi ro và tuân thủ các quy định của Thông tư 226. Đồng thời, cũng cần sự giám sát thường xuyên của cơ quan chức năng nhằm đưa ra các cảnh báo sớm nhằm có biện pháp khắc phục kịp thời.

    Cao Sơn​
  8. ChientranhTK21

    ChientranhTK21 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    15/01/2011
    Đã được thích:
    0
    DN miễn bàn tiếp cận tín dụng
  9. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://vneconomy.vn/20110311035634868P0C6/thong-doc-neu-that-can-thiet-se-tang-du-tru-bat-buoc.htm

    .head_chuyenmuc .con .cat a:link, .head_chuyenmuc .con .cat a:visited, .head_chuyenmuc .con .cat a:active, .head_chuyenmuc .con .cat a:hover { color: rgb(6, 69, 153) ! important; } Thống đốc: Nếu thật cần thiết, sẽ tăng dự trữ bắt buộc

    [​IMG] E-mail [​IMG] Bản để in [​IMG] Cỡ chữ [​IMG] Chia sẻ: [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] Ý kiến (1)

    [​IMG]
    Trong cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của các ngân hàng thương mại có một tỷ trọng rất lớn từ dòng tiền ngân sách và từ các doanh nghiệp nhà nước.


    ▪ NGUYỄN HOÀI
    16:00 (GMT+7) - Thứ Sáu, 11/3/2011
    Chưa năm nào như đầu năm nay, chỉ trong vòng ba tuần, Ngân hàng Nhà nước phải hai lần điều chỉnh tăng lãi suất chủ chốt


    Ngày 9/3, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu cho biết, dù chưa sử dụng đến công cụ dự trữ bắt buộc, nhưng nếu thật cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ tính đến phương án này.

    Bởi, chỉ cần tăng 1% dự trữ bắt buộc, Ngân hàng Nhà nước sẽ rút về hàng chục nghìn tỷ đồng.

    Cửa khép nhanh hơn

    Chưa năm nào như đầu năm nay, chỉ trong vòng ba tuần, Ngân hàng Nhà nước phải hai lần điều chỉnh tăng lãi suất chủ chốt.

    Theo Quyết định 379/QĐ-NHNN ban hành ngày 8/3, các lãi suất chủ chốt như tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng được nâng lên mức 12%/năm.

    Trong khi ở lần điều chỉnh ngày 17/2, mức tăng lãi suất tái cấp vốn là từ 9%/năm lên 11%/năm; còn ở lần điều chỉnh 8/3, lãi suất tái chiết khấu tăng mạnh từ 7%/năm lên 12%/năm.

    Đánh giá về vấn đề này, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết, hiện tại Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh lãi suất (tái cấp vốn, chiết khấu, OMO) lên mức cao, trong khi đó, lãi suất huy động trên thị trường bị khống chế ở mức 14%/năm; tiếp theo, luồng tiền ra - vào thông qua 2 nghiệp vụ tái cấp vốn và OMO được giám sát chặt chẽ không như với với thời kỳ nới lỏng nên các ngân hàng thương mại sẽ khó khăn xoay xở nguồn vốn kinh doanh.

    Ông cho biết thêm, còn một công cụ nữa là nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, trong trường hợp thật cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ cân nhắc sử dụng. Theo đó, chỉ cần nâng 1% tỷ lệ dự trữ bắt buộc, Ngân hàng Nhà nước sẽ rút về hàng chục nghìn tỷ đồng. “Công cụ này có tác dụng tức thì, ảnh hưởng nhanh, mạnh đến thanh khoản của các ngân hàng, và vì cần có thời gian cho các ngân hàng chuẩn bị để thích ứng, nên Ngân hàng Nhà nước chưa sử dụng chúng vào lúc này”, Thống đốc nói.

    Tuy nhiên, theo ông, cùng với chính sách tiền tệ thì chính sách tài khóa phải hợp lực mạnh mẽ hơn nữa. Tính toán của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, trong năm nay, nếu chỉ tiêu tín dụng giảm 3% thì lượng tiền cung ứng ra nền kinh tế giảm tương đương 70 nghìn tỷ đồng. Trong khi đó, thông điệp giảm chi tài khóa của Chính phủ đã rõ ràng: giảm bội chi ngân sách dưới 5% GDP thay vì 5,3% GDP; giảm chi tiêu thường xuyên của Chính phủ 10% nhưng đến nay, con số cụ thể vẫn chưa được lượng hóa.

    Ngoài ra, một chỉ tiêu nữa cũng cần phải giảm là cắt giảm đầu tư, bao gồm đầu tư của Nhà nước và đầu tư từ tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

    Liên quan đến yếu tố này, hiện mới chỉ có thông tin từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) rằng, kế hoạch tín dụng năm 2011 của VDB là 28 nghìn tỷ đồng, nếu giảm được 10% thì sẽ giảm 2,8 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, lãnh đạo VDB khẳng định với Thống đốc là có thể giảm hơn thế, ở mức 3,5 nghìn tỷ đồng.

    Một điều cần chú ý thêm với các tổ chức tín dụng, trong cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của các ngân hàng thương mại có một tỷ trọng rất lớn từ dòng tiền ngân sách và từ các doanh nghiệp nhà nước. Nếu khu vực dòng tiền này bị thu hẹp, chắc chắn nguồn vốn của các ngân hàng thương mại sẽ bị ảnh hưởng theo.

    Chống đỡ với rủi ro thanh khoản

    Trong bối cảnh chính sách tiền tệ phải “chặt chẽ, thận trọng” thì vấn đề đau đầu nhất hiện nay đối với các ngân hàng thương mại là không chỉ tìm đủ nguồn vốn để kinh doanh, mà nỗi lo rủi ro thanh khoản luôn thường trực.

    “Đói thì đầu gối phải bò”, nhiều ngân hàng đã tìm mọi cách "chui lủi" huy động lãi suất vượt trần 14%/năm để gọi vốn, nhưng thời điểm này rất khó. Mới đây nhất, Ngân hàng Nhà nước đã công bố hai trường hợp ngân hàng vi phạm nên muốn “làm bậy” cũng khó. Chưa kể, một cán bộ thanh tra Ngân hàng Nhà nước cho biết, để kiểm soát thị trường, cơ quan này đã thành lập các tổ đi kiểm tra nhiều nơi, đặc biệt là ở các thành phố lớn như Hà Nội, Tp.HCM. Đồng thời, tổ còn sử dụng “tai mắt” hoặc “thám tử” mang tiền đi gửi, ngân hàng nào không chấp hành nghiêm sẽ bị… “sập bẫy”.

    “Các ngân hàng bây giờ cũng rất… khôn! Họ cũng “buôn có bạn, bán có phường” nên thanh tra Ngân hàng Nhà nước đang kiểm tra một ngân hàng này thì họ sẽ thông tin cho ngân hàng bạn và dừng ngay việc huy động vượt rào”, ông này cho biết.

    Giả định, nếu “cực chẳng đã”, ngân hàng mất thanh khoản thì sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước sẽ như thế nào, nhất là trong thời buổi “thắt chặt hầu bao”? Thống đốc nói: “Dù không thể thỏa mãn 100% nhu cầu của họ nhưng Ngân hàng Nhà nước không bao giờ đóng tất cả các “van”. Nhưng cũng đừng vì thế mà ỷ lại, trong lúc này đừng nên nghĩ quá nhiều về lợi nhuận, mà hãy ưu tiên bảo vệ thanh khoản lên hàng đầu, theo hướng cơ cấu lại tín dụng và chất lượng tín dụng”.

    Cũng liên quan đến vấn đề chất lượng tín dụng, hiện tại, trong kho dữ liệu của Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC) của Ngân hàng Nhà nước thường xuyên có các bản tin về “thông tin tín dụng khách hàng, cảnh báo rủi ro” nhưng chỉ dành cho “người trong cuộc”. Trong khi đó, người dân, tổ chức đi gửi tiền vào ngân hàng không bao giờ biết đến “sức khỏe” của ngân hàng để “chọn mặt gửi tiền”.

    Theo nhiều chuyên gia, Ngân hàng Nhà nước nên công bố minh bạch một số thông tin cơ bản như hệ số an toàn, cơ cấu tín dụng, nợ xấu… của từng ngân hàng theo định kỳ. Đó là một trong những biện pháp hiệu quả, vừa chống lách trần lãi suất, vừa bảo vệ người gửi tiền, bởi không ai mang tiền gửi cho nhà băng có tình hình tài chính xấu.

    Nhưng ở góc độ người gửi tiền, họ cũng phải hiểu một quy luật đơn giản của thị trường là “lợi nhuận cao, rủi ro cao”. Và nếu để lãi suất cao làm lóa mắt thì có ngày “mất cả gốc, lẫn củ” vì dù có gửi hàng chục tỷ đồng hay hơn thế thì mức bảo hiểm hiện không hơn 50 triệu đồng!
  10. Appel68

    Appel68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    17/02/2011
    Đã được thích:
    16
    Còn phuơng án tăng dự chữ bắt buộc có phải là phương án cuối cùng không bác rich. Thứ hai tăng thử phát đi xem lạm phát có âm không biết liền. Đừng để họ cứ hù nhà đầu tư mãi.

Chia sẻ trang này