1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Lãi suất qua đêm liên ngân hàng đã xuống dưới 10%/năm

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by dongdatu, Nov 22, 2010.

Có 2604 người đang online, trong đó có 110 thành viên. 16:53 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 1)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. dongdatu

    dongdatu Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Jul 12, 2007
    Likes Received:
    8,318
    Vượt 440 ngay ngày mai >>>> tiền sẽ vào mạnh???
  2. dongdatu

    dongdatu Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Jul 12, 2007
    Likes Received:
    8,318
    VNI đã tạo đáy xong
    đỉnh lạm phát là đáy CK
    VNI đang vào giai đoạn phục hồi miễn nhiễm với tin xấu , nhạy cảm với tin tốt
  3. dongdatu

    dongdatu Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Jul 12, 2007
    Likes Received:
    8,318
    :-bd:-bd:-bd\:D/\:D/\:D/
  4. dongdatu

    dongdatu Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Jul 12, 2007
    Likes Received:
    8,318
    Bạn cần biết
    14:44 (GMT+7) - Thứ Năm, 25/11/2010

    Những tin tức xấu đã dần dần được chiết khấu vào giá cổ phiếu trong thời gian dài vừa qua. Và những gì được cho là xấu nhất đã dồn dập xuất hiện trong 3 tháng gần đây.

    Lúc này, ngay cả những tin xấu nhất đã được chiết khấu đầy đủ vào giá cổ phiếu.

    Cuối tháng 7, khi Vn-Index 495 điểm, tôi cảm nhận rằng: diễn biến xấu của các chỉ số kinh tế vĩ mô chưa được chiết khấu đầy đủ vào giá cổ phiếu. Và qua phân tích kỹ thuật, tôi cho rằng thị trường còn tiếp tục giảm. Tôi đã bán hết cổ phiếu trong tài khoản và về trạng thái 100% tiền mặt.

    Cuối tháng 9, tôi cũng thường tham gia bình luận trên diễn đàn này để đưa ra cảnh báo tới các bạn. Đã khá nhiều người phản đối quan điểm bi quan của tôi khi đó. Tuy nhiên, tôi hy vọng cũng có một số người lắng nghe và đã có những quyết định đúng.

    Và bây giờ, xin thông báo tới quý bạn: tôi đã hết bi quan về thị trường. Tôi đã mua gần 100% tiền. Số cổ phiếu trong tài khoản đã “dư” ra so với lúc tôi bán cuối tháng 7 là gần 65%. Tôi hài lòng với kết quả này.

    Xin gửi tới NĐT cá nhân lời khuyên chân thành: thị trường đang “thai nghén” cho một chu kỳ tăng giá mạnh mẽ trung hạn.

    Theo kinh nghiệm, giai đoạn tích lũy này không kéo dài lâu nữa. Những phiên điều chỉnh giảm kỹ thuật chính là cơ hội để các bạn tích lũy cổ phiếu với chi phí thấp. Trong các phiên tới đây, nếu các bạn mua được ở những mức giá thấp hơn tham chiếu từ 2-3 bước giá đã là một thành công.

    Các bạn, muốn đi trước NĐT tổ chức một bước hay muốn tích lũy cổ phiếu ở mức giá cao chót vót?

    Thời cơ đang nằm trong tay các bạn!

    Thân ái và quyết thắng!
  5. dongdatu

    dongdatu Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Jul 12, 2007
    Likes Received:
    8,318
    Lý thuyết Dow - nền tảng của phân tích kỹ thuật

    Lý thuyết Dow là cơ sở đầu tiên cho mọi nghiên cứu kĩ thuật trên thị trường. Mặc dù nó thường bị coi là trễ so với thị trường và bị những người chống đối dựa vào đó để chỉ trích nhưng nó vẫn được đông đảo những người có quan tâm đến và tôn trọng. Rất nhiều người, dù ít hay nhiều có sử dụng lý thuyết này cho việc đề ra cho riêng mình một quan điểm đầu tư đều không nhận ra một điều là bản chất của Lý thuyết Dow là hoàn toàn mang “tính kỹ thuật”.

    Cơ sở để xây dựng cũng như đối tượng nghiên cứu của lý thuyết chính là những biến động của bản thân thị trường (thể hiện trong chỉ số trung bình của thị trường) và không hề dựa trên cùng cơ sở của Phân tích cơ bản là các thống kê hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    Trong những ghi chép của người đầu tiên đề ra lý thuyết này, ông Charles. H. Dow, có rất nhiều điều chứng tỏ rằng tác giả không hề nghĩ lý thuyết của mình sẽ trở thành một công cụ dùng cho dự báo thị trường chứng khoán hay thậm chí nó đã trở thành một hướng dẫn chung cho các nhà đầu tư. Những ghi chép ấy chỉ nói lên rằng ông muốn lý thuyết của mình thành một thước đo biến động chung của thị trường. Dow thành lập công ty “Dịch vụ thông tin tài chính Dow-Jones” và được mọi người biết đến với việc tìm ra chỉ số bình quân thị trường chứng khoán. Những nguyên lý căn bản của học thuyết (ngày nay được đặt theo tên ông) đã được ông phác thảo ra trong một bài nghiên cứu mà ông viết cho “Tạp Chí Phố Wall”. Sau khi Dow chết, năm 1902, người kế tục ông làm biên tập cho tờ nhật báo, William. P. Hamilton, đã tiếp tục việc nghiên cứu lý thuyết này, sau 27 năm nghiến cứu và viết các bài báo, ông đã tổ chức và câu trúc lại thành Lý thuyết Dow như ngày nay.

    Tìm hiểu về lý thuyết của Dow, trước tiên ta phải nghiên cứu đến chỉ số trung bình của thị trường. Nhìn chung giá chứng khoán của tất cả các công ty đều cùng lên và xuống, tuy nhiên một số cổ phiếu lại chuyển động theo hướng ngược lại xu thế chung của các cổ phiếu khác cho dù là chỉ trong vài ngày hoặc vài tuần. Thực tế cho thấy khi thị trường lên giá thì giá của một số chứng khoán tăng nhanh hơn những chứng khoán khác, còn khi thị trường xuống giá thì một số chứng khoán giảm giá nhanh chóng trong khi có một số khác lại tăng lên, nhưng thực tế vẫn chứng minh rằng hầu như tất cả các chứng khoán đều dao động theo cùng một xu thế chung.

    Cùng với những cố gắng nghiên cứu của mình, Charles Dow là người đã đưa ra khái niệm về “chỉ số giá bình quân” nhằm phản ánh xu thế chung của một số cổ phiếu đại diện cho thị trường. Hai loại chỉ số bình quân Dow-Jones được hình thành vào năm 1897 và vẫn còn cho đến cho đến ngày nay được Dow tìm ra và áp dụng trong các nghiên cứu của ông về xu thế chung của thị trường. Một trong hai loại chỉ số ấy là chỉ số của 20 công ty hỏa xa, loại còn lại gọi là chỉ số công nghiệp thuộc các ngành khác bao gồm 12 công ty mạnh nhất vào thời kỳ đó. Con số này tăng lên 20 công ty vào năm 1916 và đến 1928 là 30 công ty.

    Khi nghiên cứu lý thuyết Dow có 12 nguyên lý quan trọng sau:

    1. Chỉ số bình quân thị trường phản ánh tất cả (trừ hành động của Chúa).
    Bởi vì nó phản ánh những hoạt động có liên kết với nhau của hàng nghìn nhà đầu tư, gồm cả những người có kinh nghiệm dự đoán thị trường giỏi nhất, có những thông tin tốt nhất về xu hướng và các sự kiện, những gì có thể nhận thấy trước và tất cả những gì có thể ảnh hưởng đến cung và cầu của các loại chứng khoán. Thậm chí cả những thiên tai hay thảm họa không dự tính được thì ngay khi xảy ra chúng đã được thị trường phản ánh ngay vào giá của các loại chứng khoán.

    2. Ba xu thế của thị trường
    Thuật ngữ thị trường nhằm chỉ giá chứng khoán nói chung, dao động của thị trường tạo thành các xu thế giá, trong đó quan trọng nhất là các xu thế cấp 1 (xu thế chính hay xu thế cơ bản).bull4.jpg Đây là những biến động tăng hoặc giảm với qui mô lớn, thường kéo dài trong một hoặc nhiều năm và gây ra sự tăng hay giảm đến 20% giá của các cổ phiếu. Chuyển động theo xu thế cấp 1 sẽ bị ngắt quãng bởi các bởi sự xen vào của các dao động cấp 2 theo hướng đối nghịch - gọi là những phản ứng hay điều chỉnh của thị trường. Những biến động này xuất hiện khi xu hướng cấp 1 tạm thời vượt quá mức độ hiện tại của bản thân nó (gọi chung các biến động này là các biến động trung gian - biến động cấp 2). Những biến động cấp 2 bao gồm những biến động giá nhỏ hay gọi là những biến động hàng ngày và không có ý nghĩa quan trọng trong Lý thuyết Dow.

    3. Xu thế cấp 1

    Như đã nói đến ở phần trước, xu thế cấp 1 là những chuyển động lớn của giá, bao hàm cả thị trường, thường kéo dài hơn 1 năm và có thể là trong vài năm. Nếu như mỗi đợt tăng giá liên tiếp đều đạt đến mức cao hơn mức trước đó và mỗi điều chỉnh cấp 2 đều dừng lại ở mức đáy cao hơn mức đáy của lần điều chỉnh trước thì xu thế cấp 1 lúc này là tăng giá - thị trường lúc này là thị trường con bò tót - Bull Market (để đảm bảo tính chính xác, trong phần còn lại của của đề án sẽ dự nguyên thuật ngữ tiếng Anh : Bull Market). Còn ngược lại nếu mỗi biến động giảm đều làm cho giá xuống những mức thấp hơn còn mỗi điều chỉnh đều không đủ mạnh để làm cho giá tăng lên đến mức đỉnh của những đợt tăng giá trước đó thì xu thế cấp 1 của thị trường lúc này là giảm giá, thị trường được gọi là thị trường con gấu-Bear Market (trong phần còn lại sẽ giữ nguyên từ tiếng Anh). Thông thường, về lý thuyết thì xu thế cấp 1 chỉ là một trong 3 loại xu thế mà một nhà đầu tư dài hạn quan tâm. Mục đích của nhà đầu tư đó là mua chứng khoán càng sớm càng tốt trong một thị trường lên giá, sớm đến mức anh ta có thể chắc chắn rằng mới có duy nhất mình anh ta bắt đầu mua và sau đó nắm giữ đến khi và chỉ khi Bull Market đã thực sự kết thúc và bắt đầu Bear Market. Nhà đầu tư hiểu rằng họ có thể bỏ qua một cách an toàn tất cả những sự xen vào của các điều chỉnh cấp 2 và các dao động nhỏ vì họ đầu tư dài hạn theo xu thế chính của thị trường. Tuy nhiên với một kinh doanh chứng khoán ngắn hạn thì những biến động của xu thế cấp 2 lại có vai trò quan trọng bởi họ kiếm lợi nhuận dựa trên những biến động ngắn hạn của thị trường.

    4. Xu thế cấp 2
    Xu thế cấp 2 là những điều chỉnh có tác động làm gián đoạn quá trình vận động của giá theo xu thế cấp 1. Chúng là những đợt suy giảm tạm thời (trung gian) hay còn gọi là những điều chỉnh xuất hiện ở các Bull Market; hoặc những đợt tăng giá hay còn gọi là hồi phục xuất hiện ở các Bear Market. Thường thì những biến động trung gian này kéo dài từ 3 tuần đến nhiều tháng. Chúng sẽ kéo ngược lại khoản 1/3 đến 2/3 mức tăng (hay giảm tùy loại thị trường) của giá theo xu thế cấp 1. Do đó, chẳng hạn trong Bull Market, nếu chỉ số giá bình quân công nghiệp tăng liên tục ổn định hoặc có gián đoạn rất nhỏ và mức tăng đạt đến 30 điểm, khi đó xuất hiện xu thế điều chỉnh cấp 2, thì người ta có thể trông đợi xu thế điều chỉnh này có thể làm giảm từ 10 đến 20 điểm cho đến khi thị trường lặp lại xu thế tăng cấp 1 ban đầu của nó.

    Dẫu sao cũng cần lưu ý là qui tắc giảm 1/3 đến 2/3 không phải là một luật lệ không thể phá vỡ mà nó đơn giản chỉ là một nhận xét về khả năng có thể xảy ra mà hầu hết các biến động cấp 2 đều bị giới hạn trong mức này. Rất nhiều trong số đó ngừng tác động ở điểm gần với mức 50% mà rất hiếm khi đạt đến mức 1/3.

    Như vậy có 2 tiêu chí để nhận định một xu thế cấp 2: Tất cả những chuyển động của giá ngược hướng với xu thế cấp 1 kéo dài ít nhất 3 tuần và kéo hoàn lại ít nhất 1/3 mức biến động thức của xu thế cấp 1 (tính từ điểm kết thúc biến động cấp 2 trước đó đến biến động cấp 2 này, bỏ qua những dao động nhỏ) thì được coi là thuộc loại trung gian hay còn gọi là biến động cấp 2. Mặc dù đã có những tiêu chí để xác định một xu thế cấp 2 nhưng vẫn có những khó khăn trong việc xác định thời điểm hình thành và thời gian tồn tại của xu thế.
    dow_theory_060919.png

    5.Xu thế nhỏ (Minor)

    Đây là những dao động trong thời gian ngắn (dài tối đa 3 tuần, hường chỉ dưới 6 ngày) mà theo như thuyết Dow đã nói đến, bản thân chúng không thực sự có ý nghĩa nhưng chúng góp phần tạo nên các xu thế trung gian. Thông thường thì một biến động trung gian dù là một xu thế cấp 2 hay là một phần của xu thế cấp 1 xen giữa hai xu thế cấp 2 liên tiếp, đều được tạo thành từ một dãy gồm 3 hoặc nhiều hơn những dao động nhỏ khác nhau. Xu thế nhỏ là dạng duy nhất trong 3 loại xu thế có thể bị “lôi kéo” (bị tác động). Để tác động vào xu thế cấp 1 và 2 thì cần những giao dịch với khối lượng rất lớn và điều này hầu như là không thể.

    Để làm rõ khái niệm về 3 xu thế của thị trường, ta có thể so sánh với biến động của sóng biển với một số điểm giống nhau như sau: Xu thế cấp 1 trong giá chứng khoán giống như những đợt thủy triều lên hoặc xuống. Có thể so sánh thị trường lên giá (Bull Market) với thủy triều lên. Thủy triều dâng nước lên bờ biển ngày càng xa vào sâu trong bờ và đến đỉnh của thủy triều thì lại quay ngược trở về biển. Khi thủy triều rút lại được so sánh với thị trường xuống giá (Bear Market). Và cho dù trong lúc thủy triều lên hay xuống thì luôn có những con sóng đập vào bờ rồi lại lùi lại về biển. Khi thủy triều lên mỗi con sóng liên tiếp nhau vào bờ, sóng sau vào sâu hơn sóng trước lại góp phần làm thuỷ triều vào xa hơn trong bờ, nhưng khi thủy triều xuống mỗi con sóng không mang nước ra xa bờ mà nước giảm xuống là do sóng sau vào đến bờ ở mức thấp hơn (tụt lại hơn) so với đỉnh của sóng trước, mỗi con sóng do đó sẽ trả lại dần dần bờ biển như trước khi thủy triều lên. Những con sóng này là các xu thế trung gian, có thể cấp1 hoặc cấp 2 tùy thuộc hướng chuyển động của nó so với hướng của thủy triều vào thời điểm xảy ra xu thế đó.

    Mặt biển cũng luôn luôn biến động với những gợn sóng nhấp nhô chuyển động cùng chiều, ngược chiều hoặc chuyển động ngang so với hướng của những con sóng lớn - những gợn sóng này biểu hiện cho các xu thế nhỏ (những dao động hàng ngày có vai trò không quan trọng như đã nói ở phần trên). Những đợt thủy triều, những con sóng và những gợn sóng nhỏ chính là những hình ảnh so sánh giống nhất đối với những biến giá của một thị trường. Trong những phần sau ta sẽ còn xem xét đến một lý thuyết khác về thị trường gọi là Lý thuyết Sóng Elliott, trong đó mọi biến động của thị trường đều gắn trực tiếp với các con sóng.

    6. Bull Market (thị trường con bò tót - thị trường tăng giá)
    Một xu thế tăng giá cơ bản thường bao gồm 3 thời kì. Thời kì đầu tiên là quá trình “tích tụ”, trong quá trình này, những nhà đầu tư có tầm nhìn xa sẽ tiến hành xem xét các doanh nghiệp, có thể vào thời kì này doanh nghiệp đang suy thoái nhưng nhà đầu tư nhận thấy khả năng doanh ngiệp có thể chuyển biến tình hình thành tăng trưởng nhanh chóng, có thể giá cổ phiếu của nó sẽ tăng trong thời gian tới. Đây cũng là thời điểm mà cổ phiếu này đang được chào bán rất nhiều bởi những nhà đầu tư đang có tâm lý rất chán nản và lo lắng về tình trạng của những cổ phiếu của họ và để nhằm tăng dần giá chào bán của họ khi thị trường xuất hiện sự suy giảm trong khối lượng giao dịch. Các bản báo cáo tài chính của doanh nghiệp đó có thể không tốt thậm chí rất tồi. Công chúng hoàn toàn cảm thấy thất vọng khi tham gia vào thị trường chứng khoán bởi họ thấy lượng tiền đã đầu tư của họ đang giảm giá trị nhanh chóng và có nguy cơ còn giảm nữa, vì vậy mà họ muốn thoát ra khỏi thị trường. Tuy nhiên có thể nhận thấy một điều vào cuối giai đoạn thứ nhất này là trong hoạt động của công ty và trong những biến động trên thị trường đã có những biến chuyển tuy mới chỉ ở mức hạn chế, bắt đầu xuất hiện những đợt tăng giá nhỏ.

    Thời kỳ thứ 2 là thời kỳ của sự tăng trưởng khá vững chắc. Họat động của doanh ngiệp đang theo dõi gia tăng mạnh cùng với những khởi sắc trong nội bộ doanh nghiệp và doanh thu của nó cũng tăng dần và bắt đầu thu hút các mối quan tâm trên thị trường. Đây chính là thời kì mang lại nhiều lợi nhuận cho các nhà kinh doanh chứng khoán theo trường phái Phân tích kỹ thuật.

    Cuối cùng là thời kì thứ 3, trong thời kì này thị trường sôi sục với những biến động của nó. Công chúng rất háo hức với từng biến động của thị trường. Tất cả các thông tin tài chính của doanh nghiệp đưa ra đều rất tốt, giá chứng khoán tăng cao ngoài sức tưởng tượng và đang là những vấn đề nóng hổi được đưa lên trang đầu của các tờ báo ra hàng ngày. Đến thời điểm sau khoảng hai năm tính từ lúc thị trường bắt đầu đi lên, những người ít kinh nghiệm có thể mới cho rằng thị trường lúc này mới chắc chắn cho lợi nhuận của họ và muốn tham gia vào thị trường. Nhưng thực sự thì sau hai năm, giá đã tăng khá cao, câu hỏi nên đặt ra vào lúc này là “nên bán cổ phiếu nào? ” chứ không còn là “nên mua cổ phiếu nào ? ” nữa. Vào cuối thời kì thứ 3, người ta có thể thấy nạn đầu cơ tràn lan, khối lượng giao dịch vẫn tiếp tục tăng nhưng “air-pocket-stock” xuất hiện ngày càng nhiều, số lượng cổ phiếu có giá thấp nhưng không có giá trị đầu tư cũng gia tăng và cả những đợt phát hành trái phiếu cũng ít dần đi.

    Air-pocket-stock là những cổ phiếu đột ngột giám giá mạnh một cách bất thường - có thể là do nhà đầu tư bán ồ ạt do một tin đồn xấu. Lý do dùng khái niệm này là vì nó được so sánh với việc máy bay đột ngột mất độ cao, ngoài khả năng kiểm soát khi gặp air-poket là những dòng khí hướng xuống, tác động làm mất chiều

    7. Bear Market (Thị trường con gấu - thị trường giảm giá)

    dow_bear_market_02.jpgXu thế giảm giá của thị trường cũng được chia thành ba thời kỳ. Thời kỳ đầu tiên là thời kỳ “phân bổ” (thời kỳ này thực sự bắt đầu ở giai đoạn cuối của Bull Market trước đó). Trong thời kỳ này những nhà đầu tư có tầm nhìn xa đều nhận thấy rằng doanh thu (và các chỉ số kinh doanh nói chung) của những công ty mà họ đang nắm giữ cổ phiếu đều đang đạt mức cao không bình thường và họ muốn nhanh chóng thoát khỏi vị thế sở hữu cổ phiếu của những công ty này. Khối lượng giao dịch vẫn rất cao mặc dù đã có những dấu hiệu của xu hướng giảm, công chúng vẫn rất “năng động” nhưng cũng bắt đầu có dấu hiệu lo lắng và cũng không còn nhiều kỳ vọng kiếm lợi nhuận.

    Thời kỳ thứ hai được gọi là thời kỳ "hỗn loạn". Số lượng người mua bắt đầu giảm dần và những người bán bắt đầu trở lên vội vã bán đi những cổ phiếu mình đang nắm giữ. Xu thế giảm giá bắt đầu tăng mạnh làm đồ thị giá gần như dốc thẳng xuống và khối lượng giao dịch đạt đến mức đỉnh điểm. Giai đoạn này được gọi là hỗn loạn vì sự sụt giảm thường xảy rbear_market_x148fl.jpga rất trầm trọng thậm chí là thái quá với mức độ vượt quá cả thực trạng của các doanh nghiệp. Sau giai đoạn hỗn loạn có thể có giai đoạn hồi phục (một dạng xu thế cấp hai) hoặc một giai đoạn dao động ngang của đồ thị thị trường (các dao động không có hướng đi lên hay đi xuống mà là dao động trong một khoảng cố định theo chiều ngang của thị trường) trong một thời gian tương đối dài. Giai đoạn này thể hiện tâm lý chán nản của một bộ phận nhà đầu tư, họ cũng chính là những người đã cố gắng nắm giữ cổ phiếu qua thời kỳ hỗn loạn trước đó hoặc cũng có thể là những người đã mua cổ phiếu trong thời kỳ đó bởi vì lúc đó giá của cổ phiếu rõ ràng là rẻ hơn rất nhiều so với trước đó vài tháng. Thông tin về các doanh nghiệp ngày càng xấu đi. Kết thúc giai đoạn này mới bước vào thời kỳ thứ ba.

    Vào thời kỳ thứ ba, xu thế đi xuống trên thị trường đã yếu dần, nhưng lại được duy trì bởi những lệnh bán nhiều và liên tục thể hiện “nỗi buồn” và sự lo lắng của những nhà đầu tư đang rất cần tiền cho những nhu cầu riêng của họ. Các cổ phiếu đều giảm đến mức thấp nhất, thậm chí gần như mất hoàn toàn giá trị. Những cổ phiếu có chất lượng cao hầu như không được giao dịch vì những người sở hữu chúng đều muốn nắm giữ đến cùng. Ở giai đoạn cuối của Bear Market, như một kết quả của toàn bộ thời kỳ giảm giá trước, cả thị trường chỉ tập trung vào giao dịch một số loại cổ phiếu. Bear Market kết thúc tất cả với những tin xấu về các doanh nghiệp, về thị trường ở mức có thể coi là tồi tệ nhất đã thể hiện ra và có thể đến.

    8. Hai đường chỉ số bình quân của thị trường phải cùng xác nhận xu thế của thị trường. Đây là câu hỏi thường xuyên đặt ra nhất và cũng khó giải thích nhất đối với hệ thống các nguyên lý của lý thuyết Dow. Tuy nhiên từ khi được đưa ra cho đến nay nó đã được thời gian chứng minh tính đúng đắn và nó vẫn được vận dụng cho đến ngày nay và bất kì một ai đã xem xét những số liệu ghi lại thì đều không thể có ý kiến phản đối với nguyên lý này. Còn với những người ít quan tâm hay bỏ qua nguyên lý này thì trong thực tế kinh doanh đã và sẽ phải nhiều lần cảm thấy tiếc nuối. Điều nguyên lý này muốn nói đến là không thể có một dấu hiệu chính xác nào về sự thay đổi xu thế thị trường có thể được khẳng định chỉ thông qua xem xét biến động của duy nhất một loại chỉ số bình quân (ở đây muốn nói đến những thị trường bao gồm nhiều chỉ số bình quân, chẳng hạn như ở Mỹ, như nói ở phần đầu, có hai loại chỉ số bình quân).

    dow.JPG

    * Chỉ số bình quân bên dưới chỉ ra thị trường đi xuống
    * Chỉ số bình quân phía trên chỉ ra thị trường đi lên

    Như vậy thị trường sẽ vẫn đi xuống do cả hai không cùng xác nhận một sự đảo chiều trong xu thế hiện tại của thị trường.
    dj_index.gif

    Chỉ khi nào cả chỉ số bình quân cũng chỉ ra là thị trường đang có xu thế đi lên thì ta mới có cơ sở xác nhận một dấu hiệu về sự đổi chiều của xu thế chính. Trong hình vẽ trên, trừ khi có một biến động nào khác nếu không chỉ duy nhất chỉ số bình quân bên dưới sẽ không để chuyển hướng chung của thị trường mà thậm chí còn bị kéo xuống. Xu thế cấp 1 của thị trường rõ ràng vẫn chưa rõ ràng. Đây là một ví dụ áp dụng nguyên lý về sự xác nhận. Không cần thiết cả hai chỉ số bình quân phải cùng xác nhận vào 1 ngày. Thường thì cả hai chỉ số này sẽ cùng chuyển động đến cùng một khoảng đỉnh hoặc đáy mới, nhưng có nhiều trường hợp mà một trong hai chỉ số sẽ trễ hơn chỉ số kia vài ngày, vài tuần, thậm chí là một đến hai tháng. Trong những tình huống như vậy thì nhà đầu tư phải giữ kiên nhẫn và đợi cho đến khi thị trường thật sự thể hiện ra bản chất xu hướng của nó.

    9. Khối lượng giao dịch áp dụng kèm với xu thế thị trường.

    bullbear.jpgĐiều này thể hiện một thực tế là khi giá biến động theo đúng xu thế cấp 1 thì các họat động kinh doanh trên có xu hướng mở rộng hơn. Do vậy, với Bull Market, khối lượng giao dịch sẽ tăng nếu giá tăng, và sẽ thu lại nếu giá giảm; với Bear Market giá trị giao dịch sẽ tăng nếu giá giảm và ít khi giá có dấu hiệu phục hồi. Điều này vẫn đúng ở mức độ thấp hơn tức là với những xu thế cấp 2, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của một xu thế hồi phục cấp 2 trong một Bear Market, khi mà các diễn biến của thị trường chỉ ra rằng giá sé tăng lên theo một số đợt tăng giá nhỏ, còn các biến động kéo giá xuống giảm đi. Các kết luận ở đây thường không có giá trị nếu chỉ dựa trên diễn biến trong vài ngày và càng không có giá trị với những kết luận dựa trên một phiên giao dịch đơn lẻ. Nguyên lý này chỉ phát huy hiệu quả nếu dựa trên những diễn biến của khối lượng giao dịch chung trong thời gian giao dịch tương đối dài. Hơn nữa, theo Lý thuyết Dow thì chỉ dựa trên những phân tích về giá mới có thể đưa ra được những dấu hiệu mang tính quyết định về xu thế thị trường, còn khối lượng giao dịch chỉ có thể cung cấp thêm những chứng cứ phụ để giải thích rõ hơn biến động của thị trường và sử dụng vào những tình huống khi dấu hiệu chính tỏ ra còn nhiều nghi ngờ.

    10. Đường ngang có thể thay thế cho các xu thế cấp 2.

    Đường ngang theo định nghĩa của Lý thuyết Dow là những chuyển động ngang có tính chất trung gian của thị trường phản ánh thời kỳ mà giá biến động rất ít (với thị trường Mĩ là nhỏ hơn hoặc bằng 5%). Đường ngang thường kéo dài từ 2 đến 3 tuần hoặc đôi khi là lâu hơn (trong vài tháng). Khi thị trường xuất hiện mô hình dạng đường ngang, điều này chỉ ra rằng áp lực của cung và cầu trên thị trường là tương đối cân bằng. Thực tế trong giai đoạn này các lệnh đặt mua hoặc bán đều thể hiện một sự kiệt sức. Những người muốn mua cổ phiếu thì phải tăng mức giá chào mua để khuyến khích người có cổ phiếu mà họ muốn bán cho họ, còn những người muốn bán thì với thị trường có biến động dạng đường ngang họ thấy rằng số lượng người mua đang ít dần và kết quả là họ phải giảm giá để có thể bán được những cổ phiếu của mình. Do vậy một mức giá dao động vượt ra ngoài mức dao động của mô hình đường ngang đang xuất hiện trên thị trường sẽ là một dấu hiệu rõ ràng cho một thị trường lên hoặc xuống giá tùy thuộc vào hướng của dao động vượt ra ngoài. Nhìn chung mô hình đường ngang càng kéo dài lâu và biên độ dao động càng nhỏ thì ý nghĩa của dao động vượt ra ngoài mô hình đường ngang càng lớn.

    Mô hình đường ngang thường diễn ra dài vừa đủ để khoảng thời gian tồn tại của nó mang một ýdow_primary_trend.png nghĩa quan trọng đối với những người phân tích thị trường theo trường phái Dow. Những biến động vượt ra ngoài mô hình đường ngang có thể là dấu hiệu cho thấy mô hình này chính là những mức đỉnh hoặc đáy rất quan trọng của thị trường bởi nếu là đỉnh thì đó chính là giai đoạn “phân bổ” - giai đoạn ban đầu của một Bear Market; còn nếu dấu hiệu cho thấy nó có thể là mức đáy của thị trường thì đây là giai đoạn “tích tụ” - giai đoạn đầu của một Bull Market. Thông thường nhất, nó đóng vai trò như một thời kỳ yên tĩnh thuộc giai đoạn cuối cùng trong quá trình hình thành hoặc thuộc giai đoạn củng cố xu thế cấp 1 của thị trường. Trong những trường hợp đó mô hình này đóng vai trò như những sóng cấp 2. Mức biến động 5% cũng hoàn toàn chỉ là một mức biên độ được xác định theo kinh nghiệm bởi trên thực tế rằng mô hình đường ngang có rất nhiều điểm tương đồng với mô hình cũng có nhiều biến động ngang với biên độ lớn hơn nhưng hai biên của nó vẫn được xác định khá rõ ràng và tương đối chuẩn nên cũng được tính là một loại mô hình đường ngang.

    11. Chỉ sủ dụng mức giá đóng cửa để nghiên cứu.
    Lý thuyết Dow không quan tâm và ít đề cao đến các mức biến động giá (thậm chí là cả mức giá cao nhất và thấp nhất) trong ngày mà chỉ quan tâm đến những số liệu cuối ngày giao dịch, chẳng hạn như mức bình quân giá bán cuối cung trong ngày.

    Xem xét một thị trường với xu thế cơ bản là tăng giá và đang ở thời điểm giá tăng và đạt mức đỉnh của ngày hôm đó vào 11 giờ sáng, giả sử lúc đó chỉ số bình quân đang là 152.45 sau đó lại giảm xuống mức giá đóng cửa là 150.70. Để có thể xác nhận thị trường vẫn đang trong xu thế cơ bản là tăng giá thì ở đợt tăng giá tiếp theo mức giá đóng cửa phải cao hơn 150.70. Trong trường hợp này mức đỉnh 152.45 không được quan tâm đến. Trái lại nếu ở đợt thứ 2, dù giá có đạt đến mức đỉnh ở 152.60 nhưng giá đóng cửa lại nhỏ hơn 150.70 thì hoàn toàn có cơ sở để nghi ngờ liệu xu thế tăng giá hiện tại có còn tiếp tục hay không.

    Trong những nắm gần đây, nhiều ý kiến đã được đưa ra xung quanh vấn đề liệu chỉ số giá bình quân phải tăng thêm hay giảm đi bao nhiêu so với giới hạn đạt được của đợt dao động giá trước (đỉnh hoặc đáy) để có thể báo hiệu (xác nhận một xu thế mới hoặc xác nhận lại xu thế hiện tại) xu thế thị trường. Dow và Hamilton luôn rất cẩn thận trong việc xem xét bất cứ một dao động nhỏ nào xen vào xu thế hiện tại làm giá thay đổi thậm chí đến 0. 01 và hai ông đều cho rằng dấu hiệu đó hoàn toàn có thể là một dấu hiệt đúng. Nhưng ngày nay nhiều nhà phân tích cho rằng mức thay đổi đó phải đạt ít nhất 1.00 mới có thể được coi là một dấu hiệu của thị trường.

    12. Một xu thế cần được giả định rằng vẫn đang tiếp tục cho đến khi có một dấu hiệu thực sự về sự đảo chiều của xu thế đó được xác định.
    Nguyên lý này là một trong những nguyên lý có nhiều ý kiến tranh cãi nhất. Nhưng khi đượcdow_bottom.jpg hiểu chính xác nó vẫn có giá trị rất lớn trong phân tích thị trường. Nguyên lý thứ mười hai giúp đề phòng với những thay đổi (phản ứng) quá sớm trong quan điểm về thị trường, theo như chúng ta hay nói là “cầm đèn chạy trước ô tô”, của bất kì nhà đầu tư nào. Điều này không nhằm làm nhà đầu tư trì hoãn hành động của mình lại một cách không cần thiết, cho dù là chỉ một phút, khi những dấu hiệu về sự thay đổi của xu thế thị trường là đã rõ ràng, nhưng nó nhắc nhở một điều rằng lợi thế sẽ nghiêng về phía những người biết chờ đợi cho đến khi họ chắc chắn về tình hình thị trường và rõ ràng sẽ không nghiêng về những người quá nôn nóng với hành động của họ. Khả năng xảy không thể được phát hiện một cách rõ ràng bởi bản chất của nó là những biến động thực tế của thị trường và chúng thay đổi thường xuyên. Bull Market không thể lên giá mãi và Bear Market thì sớm muộn cũng đạt đến đáy của nó. Khi một xu thế cấp 1 của thị trường vừa mới được hình thành thì cho dù có những dao động trong ngắn hạn ta vẫn có thể chắc chắn rằng nó không thay đổi, nhưng nếu nó kéo dài càng lâu thì mức chắc chắn càng ít dần đi, các điểm tái xác nhận xu thế thị trường cũng có giá trị ít dần đi. Động lực của người mua và khả năng bán được những cổ phiếu với giá cao hơn giá mua để kiếm lời sẽ ngày càng thấp nếu như Bull Market đã tồn tại trong nhiều tháng và rõ ràng là thấp hơn khi nó mới hình thành. Nguyên lý thứ mười hai của Dow nói rằng “Making your position pending contrary orders”.

    Một hệ quả tất yếu từ nguyên lý này đó là khi đã có những dấu hiệu về sự thay đổi của xu thế thị trường thì sự thay đổi đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Vì vậy bất cứ nhà đầu tư nào cũng cần phải theo dõi thị trường một cách thường xuyên.

    http://www.saga.vn
  6. dongdatu

    dongdatu Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Jul 12, 2007
    Likes Received:
    8,318
    6 dấu hiệu của một Uptrend thời gian khó Thứ hai, 29/11/2010, 14:46 GMT+7 (ATPvietnam.com) -Kể từ "Đại khủng hoảng thời đại mới" năm 2008 tới nay, thị trường trong nước đã vật lộn trong vô vàn gian khó. Tuy nhiên, dù khó đến mấy thì thi thoảng vẫn có một Uptrend. Một Uptrend thực thụ chứ không phải chỉ là những trò lừa trút hàng vội vã và vô hồn.

    * Các cổ phiếu thuộc diện hàng nóng
    * Làm sao xác định cổ phiếu nào đang rẻ để mua vào?

    [​IMG]

    Ảnh: Thông tin dù có tiêu cực cũng bị bỏ lại sau lưng?

    Trải qua những tháng ngày gian khổ đó, có thể nghiệm ra một số những dấu hiệu thường có của mỗi Uptrend.

    Thường thì, một Uptrend trên TTCK trong những ngày tháng khó khăn vài năm nay thường phải có các tiêu chí như sau:

    1 - Giảm nhẹ khi hàng T4 bắt đáy về tới tài khoản nhưng đi kèm với đó là khối lượng vẫn duy trì cao hoặc tăng càng tốt.

    2 - Rung lắc liên tục giữa phiên và càng rung lắc thì hàng nóng mang tính đầu cơ càng cao càng lúc càng tăng lượng khớp.

    3 - Chốt phiên rung lắc thì chỉ số tăng trở lại với sự đua mua trên diện rộng khiến chỉ số tăng mạnh về cuối và đóng cửa ở mức cao nhất trong ngày

    4 - Trong phiên, nhất là thời điểm đầu phiên, các mã lớn có ảnh hưởng tới index bị dìm xuống để làm đỏ index. Các mã tốt bị mất giá trần song lượng khớp cứ âm thầm tăng nhanh như không hề biết sợ. Chốt phiên thì mã nóng vẫn hoàn nóng và mã dìm cũng nhanh chóng tăng lại do có ai đó buộc phải lấy lại vũ khí đã tung ra đầu phiên.

    5 - Các mã ngành tài chính và đặc biệt là chứng khoán tăng mạnh với thanh khoản lên cao.

    6 - Tin xấu không làm nhụt chí nhà đầu tư được lâu mà chỉ thoáng qua rồi nhanh chóng rơi vào quên lãng.

    Có thể còn nhiều dấu hiệu nữa mà một Uptrend thời gian khó thường có, tuỳ theo trải nghiệm của mỗi người. Nhưng với giả định bằng những dấu hiệu đó, hãy cùng thử lại để xác minh xem, liệu lần này Uptrend thực thụ đã trở về hay chưa.

    1 - Giảm nhẹ khi hàng T4 bắt đáy về tới tài khoản nhưng đi kèm với đó là khối lượng vẫn duy trì cao hoặc tăng càng tốt.

    Điều này đã được kiểm nghiệm trong phiên cuối tuần qua chứ không phải đến phiên đầu tuần mới có. Khi đó, xét về tổng quát, khối lượng rất tích cực. Trên sàn HOSE khối lượng khớp đã tăng tiếp lên gần 45,4 triệu cổ phiếu cả khớp lệnh trực tiếp và thoả thuận. Còn HNX khối lượng tiếp tục duy trì ở mức cao với hơn 40,4 triệu cổ phiếu. Nếu trừ số giao dịch thông qua thoả thuận thì khối lượng khớp lệnh trực tiếp qua sàn không tăng nhiều, song vẫn duy trì được ở mức cao.

    Vậy là đã hoàn thành tiêu chí 1, bởi đón đợi một phiên điều chỉnh trong chuỗi tăng liên tiếp, kinh nghiệm cho thấy nếu khối lượng sụt giảm mạnh và ở nhiều mã không còn dư mua, cổ phiếu bị kẹp thì đó không phải là điều chỉnh mà là đi xuống. Còn nếu khối lượng sụt giảm nhưng không có hiện tượng khó bán dù là giá sàn thì cần phải theo dõi thêm. Nếu khối lượng giảm không đáng kể và chỉ số rớt không mạnh thì đó là một phiên điều chỉnh và đà tăng nhiều khả năng sẽ còn tiếp diễn sau đó.

    Phiên hôm nay, nếu tạm gọi là điều chỉnh
    giữa phiên, thì kịch bản vẫn lặp lại tương tự: thanh khoản tăng cao hơn trước, vốn cũng đã tăng sẵn.

    2 - Rung lắc liên tục giữa phiên và càng rung lắc thì lượng khớp của hàng nóng mang tính đầu cơ càng cao.

    Quả thật, ai mà không nao lòng, không bối rối và âu lo khi đoàn tàu qua đoạn rung lắc. Biết đâu tàu yếu, đổ cả chục toa thì sao.

    Vậy là, một số người lo lắng rời tàu trong day dứt.

    Mà day dứt cũng đúng, bởi khi họ rời tàu vào thời điểm khó khăn nhất của thị trường như phiên hôm nay thì cũng là lúc nhiều lệnh mua tranh thủ "ăn hàng", nhất là hàng nóng vừa rơi xuống dưới trần một chút.

    Vậy nên, sau vài lần rung lắc trong phiên, nhiều mã nằm trong tầm ngắm của số đông nhà đầu tư đã có lượng khớp tăng lên đột biến, y như đã xảy ra phiên cuối tuần trước và trong những lần điều chỉnh giữa Uptrend năm nào. Hàng nóng mang tính đầu cơ truyền thống như VIS, KSS, MCG, MCV, TS4... của sàn HOSE hay VE9, AAA, SHN, LTC, PGS, TNG... trên sàn Hà Nội lại được mua vào cật lực, đưa lượng khớp lên cao chất ngất.

    3 - Chốt phiên rung lắc thì chỉ số tăng trở lại với sự đua mua trên diện rộng khiến chỉ số tăng mạnh về cuối và đóng cửa ở mức cao nhất trong ngày.

    Hầu hết cổ phiếu đạt mức giá trần vào cuối phiên, không có nhóm ngành nào nổi bật hơn khi sắc tím trải rộng trên bảng điện tử. Lệnh mua dồn dập đưa vào đã khiến nguồn cung cạn kiệt, cuối phiên bên bán đã trống trơn trong khi bên mua vẫn còn chất lệnh.

    Nhìn biểu đồ có thể thấy rõ diễn biến cuối phiên hôm nay:

    Sàn HOSE:


    [​IMG]

    Sàn HNX:


    [​IMG]

    4 - Trong phiên, nhất là thời điểm đầu phiên, các mã lớn có ảnh hưởng tới index bị dìm xuống để làm đỏ index. Các mã tốt bị mất giá trần song lượng khớp cứ âm thầm tăng nhanh như không hề biết sợ. Chốt phiên thì mã nóng vẫn hoàn nóng và mã dìm cũng nhanh chóng tăng lại do có ai đó buộc phải lấy lại vũ khí đã tung ra đầu phiên.

    Ít phút sau khi mở cửa, chỉ báo sàn HOSE là SSI nhanh chóng mất sắc xanh để rồi chuyển đỏ ở mức giá 22.300 đ/cp. Sợ. Ông lớn BVH đỏ từ đầu với giá 62.300 đ/cp. Chắc do
    Thanh tra phát hiện nhiều sai sót ở BVH, đề xuất thu hồi 20 tỷ đồng. Hỏng rồi. CTG đỏ lửa ở mức 18.300 đ/cp. Hoảng. Cả DPM, REE hay MSN trên HOSE và KLS, BVS hay PVI bên HNX cũng vậy, thảy đều đỏ màu lo lắng từ nửa đầu phiên giao dịch.

    Sau đó thì hầu như tất cả đều xanh tươi trở lại về cuối phiên hoặc chí ít đều đóng cửa cao hơn mức mở cửa. Lệnh đâu ra nhiều và nhanh đến thế?

    Trong lúc đó thì hàng hot phục vụ đầu cơ truyền thống vẫn đều đặn loé lên những cú khớp với khối lượng đáng kể trên bảng điện. Lúc trần, lúc dưới trần, thay đổi liên tục. Chỉ có đà tăng của khối lượng là không hề thay đổi.

    5 - Các mã ngành tài chính và đặc biệt là chứng khoán tăng mạnh với thanh khoản lên cao.

    Hôm nay, đóng cửa thì các mã ngành tài chính chứng khoán tăng mạnh, từ SSI, PVF, BVH, STB bên sàn HOSE cho tới KLS, VND, BVS, AVS hay ACB đều tăng với thanh khoản cao gần bằng những đợt sôi động gần nhất.

    6 - Tin xấu không làm nhụt chí nhà đầu tư được lâu mà chỉ thoáng qua rồi nhanh chóng rơi vào quên lãng.

    Sáng nay xuất hiện thêm các thông tin không thuận cho thị trường:
    Những tín hiệu căng thẳng trên thị trường tiền tệ được cho là sẽ cản trở dòng tiền, USD tự do lại tăng mạnh khiến lo ngại tỷ giá lại dấy lên. Ngoài nước thì Tổng thống Hàn Quốc thề trừng phạt Triều Tiên, gây lo ngại thế giới bất ổn và chứng khoán đi xuống, nhường thế ưu tiên về đầu cơ cho các nơi trú ẩn an toàn hơn. Chính vì thế mà có chuyên gia còn phán đoán rằng tuần này, dòng tiền được dự báo sẽ chảy vào thị trường vàng

    Từ cuối tuần trước cũng đã xuất hiện những thông tin tiêu cực. Các chuyên gia vẫn cảnh báo về 3 lo ngại lớn lúc này: Tỷ giá, lạm phát và nhập siêu. Trên thực tế thì dù lãi suất tăng đồng loạt song khách hàng cũng khó tiếp cận vốn. Chưa kể, trong tháng cuối năm, ngân hàng sẽ phải gồng mình tăng vốn, đe doạ lấy bớt dòng tiền của thị trường...

    Mặc.

    Nhà đầu tư vẫn chỉ xao động trong giây lát và vẫn tự tin đua mua cổ phiếu. Và
    khi Nhà đầu tư bắt đầu miễn dịch với tin xấu, khi cũng đã có bắt đầu có các chuyên gia "cấp tiến" tin rằng, đỉnh lạm phát chính là đáy chứng khoán thì có lẽ cũng tranh thủ tạm "quẳng gánh lo đi mà vui lướt".

    Tất nhiên, chỉ tạm quẳng đi thôi...

    Phan Lê

    http://atpvietnam.com/vn/dulieuvapha...219/index.aspx

  7. dongdatu

    dongdatu Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Jul 12, 2007
    Likes Received:
    8,318
    Lãi suất cho vay của 2 ngân hàng khủng MB và Eximbank 13.5-14% còn thấp hơn cả lãi suất huy động của mấy ngân hàng nhỏ. Có lẽ đây là đỉnh của lãi suất năm nay, sau đó sẽ giảm dần. Yên tâm vào hàng rồi
    .................................................. .................................................. .....................

    http://stox.vn/stox/News/76419/1/186...-lai-suat.stox

    Những ngân hàng đi ngược dòng lãi suất


    [​IMG] [​IMG] Eximbank và MB công bố lãi suất cho vay với mức tốt nhất chỉ còn 13,5% - 14%/năm, thấp hơn cả mức đầu vào hiện nay tại nhiều ngân hàng.

    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Tuần trước, Ngân hàng cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) công bố đồng loạt giảm 1% lãi suất cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp, giảm tới 1,5% trong trường hợp khách hàng thuộc diện ưu tiên. Những đối tượng ưu tiên gồm khách hàng truyền thống, doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp vừa và nhỏ có phương án sản xuất kinh doanh tốt…[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Mức lãi vay thấp nhất của Eximbank chỉ còn 13,5% một năm, thấp hơn cả mức huy động đầu vào hiện nay của nhiều nhà băng (lên tới 15%). Đây là động thái được coi là "ngược dòng" với diễn biến hiện nay trên thị trường tiền tệ bởi hầu hết các nhà băng khác đều tăng lãi suất cả huy động và cho vay.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Một nhà băng khác cũng công bố chính sách “ngược dòng” lãi suất là Ngân hàng cổ phần Quân đội (MB). Nguồn tin từ nhà băng này cho biết, lãi suất cho vay đối với khách hàng ưu tiên phổ biến ở mức 14 -15% một năm, mức lãi suất này thậm chí còn thấp hơn cả mức cho vay ưu đãi tại một vài ngân hàng quốc doanh lớn. Tuy nhiên, mức lãi suất cho vay ưu đãi chỉ được áp dụng đối với các khoản vay ngắn hạn.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Đại diện của MB cho biết, nhà băng này đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu lợi nhuận của năm 2010 nên tháng cuối năm, mục tiêu được ưu tiên là gia tăng thị phần và sức ảnh hưởng. Về hiệu quả trên từng món vay, vị lãnh đạo này cho rằng, ngân hàng vẫn cân đối được mà không bị lỗ nhờ có nguồn huy động với lãi suất thấp từ trước đó.
    [/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]“Trong bối cảnh hiện nay, chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp ‘ruột’ của mình cũng là một cách tìm kiếm lợi nhuận tốt hơn trong thời gian sau này”, lãnh đạo của MB nói.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Trong khi đó, đại diện cấp cao của Eximbank cho biết, việc ngân hàng giảm lãi suất cho vay đồng loạt đối với doanh nghiệp chủ yếu phát đi một thông điệp với nội bộ nhà băng này. “Trong bối cảnh hiện nay, tìm mọi cách tiết giảm chi phí để có giá vốn tốt, tăng cường quản trị rủi ro là những yếu tố được đặt lên hàng đầu chứ không phải là chạy đua giành thêm khách hàng”, ông này nói.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Theo phân tích của vị lãnh đạo Eximbank, lãi suất cho vay tăng cao tiềm ẩn rủi ro rất lớn khi gia tăng tín dụng. Mức lãi suất đầu ra cao cũng kích thích nhân viên săn lùng khách hàng mới nhưng điều này là không có lợi với tình hình hiện nay. “Doanh nghiệp chấp nhận vay lãi suất cao có thể có mức độ rủi ro cao trong dự án kinh doanh. Còn những đơn vị có hiệu quả kinh doanh tốt, rủi ro thấp thì sẽ khó chấp nhận mức lãi vay cao”, ông này cho biết.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Đại diện từ Eximbank cũng tiết lộ, cho vay thấp nhưng ngân hàng vẫn thu được lợi ích nhờ mối quan hệ với khách hàng được tăng cường và tăng doanh thu từ các dịch vụ khác. Bên cạnh đó, lãi suất đầu vào của ngân hàng này cũng được tổng hòa từ nguồn cũ và mới nên mức bình quân vẫn cân đối được với đầu ra.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Phó chủ tịch hội đồng quản trị một ngân hàng cổ phần tại Hà Nội cho biết, vào thời điểm cuối năm, nhu cầu vốn của doanh nghiệp thường tăng cao. Tuy nhiên, trong bối cảnh lạm phát và lãi suất cùng gia tăng, thị trường tiền tệ hàm chứa nhiều bất ổn thì quản trị rủi ro nên được quan tâm hàng đầu. Cũng vì thế, các ngân hàng hạn chế cho vay bằng lãi suất cao hoặc sàng lọc khách hàng bằng điều kiện để cho vay với lãi suất thấp đều có lý.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]“Cố cho vay thêm vài khách hàng thì lợi nhuận có thể thêm được một ít nhưng nếu bị rủi ro thì con số thiệt hại sẽ lớn hơn rất nhiều. Đây là chưa kể đến rủi ro về mặt đạo đức phát sinh khi các doanh nghiệp quá đói vốn sẽ tìm cách vay bằng mọi giá”, ông này bình luận.[/FONT]

Share This Page