1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Lợi nhuận quý1 ACB giảm mạnh !!!!!!!!!!!!!!!!

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi thaibinhotc, 11/04/2009.

1106 người đang online, trong đó có 173 thành viên. 20:55 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 2956 lượt đọc và 30 bài trả lời
  1. thaibinhotc

    thaibinhotc Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    19/11/2007
    Đã được thích:
    11
    Đảo lợi suất? trái phiếu

    Trong thực tế, do xu thế lãi suất tiếp tục giảm trong những tháng đầu năm 2009 và nguồn thanh khoản khá dồi dào, việc bán trái phiếu của nhiều ngân hàng chỉ mang tính chất ?ohình thức?, nhằm hợp lý hóa các khoản lãi trái phiếu cho mục đích báo cáo tài chính.

    Sau khi thực hiện giao dịch bán, có khả năng các ngân hàng mua lại ngay trạng thái danh mục của mình nhằm đón đợi các quyết định cắt giảm lãi suất cơ bản tiếp theo của Ngân hàng Nhà nước trong 2009.

    Chỉ những ngân hàng nào khó khăn thanh khoản và không dự báo đúng xu hướng cắt giảm lãi suất tiếp theo mới bán trái phiếu mà không mua lại.

    Chính vì lý do này mà hoạt động mua bán trái phiếu cuối năm hết sức nhộn nhịp. Theo thống kê của HASTC và HOSE, khối lượng và giá trị giao dịch trái phiếu tăng đột biến trong tháng 12 (là tháng có giá trị giao dịch lớn nhất trong năm), trong khi giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài lại giảm.

    Về bản chất, các ngân hàng có thể đã thực hiện một việc đơn giản là ?ođảo lợi suất? (yield roll) trái phiếu để hợp lý hóa lợi nhuận.

    Có nhiều cách làm việc này, không ngoại trừ việc các ngân hàng có thể ?ohợp tác? với nhau để thực hiện việc đảo lợi suất trái phiếu này một cách dễ dàng thông qua các hợp đồng bán và hợp đồng mua lại. Trong trường hợp này, ngân hàng đối tác chỉ đóng vai trò "giúp bạn" hạch toán giao dịch.

    Hệ quả của màn ảo thuật "khắc xuất, khắc nhập" này là danh mục trái phiếu có lợi suất cao (15-24%/năm) mua trong năm được thay thế bằng danh mục trái phiếu có lợi suất thấp (8-10%/năm) mua cuối năm. Khoản lợi nhuận thu được là hoàn toàn ?othật? xét về khía cạnh kinh tế cũng như kế toán.

    Nói một cách ví von thì đây là một ca ép gà đẻ non để lấy trứng vàng ra rồi cho ấp tiếp để hy vọng ra trứng bạc. Theo một bài báo trên tờ Đầu tư Chứng khoán, có ngân hàng chỉ cần thực hiện một lệnh bán trái phiếu cuối năm đã hạch toán 500 tỷ đồng vào lợi nhuận, bằng 1/3 lợi nhuận cả năm.

    Một số ngân hàng đã đạt đủ lợi nhuận để báo cáo sẽ không cần ?ođảo lợi suất? toàn bộ danh mục trái phiếu của mình mà có thể sẽ găm lại một phần làm của để dành cho 2009, một năm kinh doanh được dự báo cũng hết sức khó khăn.

    Như vậy, số lãi tiềm ẩn trong các danh mục trái phiếu của ngân hàng có thể vẫn chưa thể hiện hết. Với việc lãi suất cơ bản tiếp tục hạ xuống mức 7%/năm có hiệu lực từ ngày 1/2/2009 vừa qua, danh mục trái phiếu của các ngân hàng lại tiếp tục đẻ thêm ?otrứng bạc? cho những tháng đầu năm 2009.

    Hạn chế của các chuẩn mực kế toán?

    Câu hỏi đặt ra là tại sao ngân hàng phải thực hiện động tác ?ođảo lợi suất? trái phiếu này để báo cáo lãi?

    Điều này có thể giải thích do hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện chưa cho phép các ngân hàng ?ođánh giá lại? (mark to market) các tài sản tài chính. Do đó, động tác ?ođảo lợi suất? trái phiếu sẽ giúp ngân hàng biến lãi chưa thực hiện (unrealised gains) thành lãi thực hiện (realised gains) một cách hợp pháp.

    Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39 (Ghi nhận và đánh giá các công cụ tài chính) hay chuẩn mực kế toán FAS 157 (Ghi nhận theo giá trị hợp lý) của Mỹ đều có những quy định về kế toán theo giá trị hợp lý (fair value acccounting) đối với các loại tài sản và công nợ tài chính.

    Việc này nhằm tăng cường tính cập nhật của thông tin kế toán cho quản trị rủi ro cũng như việc đưa ra các quyết định kinh doanh. Trong khi đó hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) chưa có các chuẩn mực tương đương.

    Tại Việt Nam, đầu tư trái phiếu vẫn được hạch toán theo nguyên tắc giá phí lịch sử mà chưa được phép đánh giá lại theo giá trị thị trường. Sự thiếu hụt này buộc các ngân hàng phải sáng tạo ra biện pháp ?ođảo lợi suất? nhằm hợp lý hóa lợi nhuận. Hệ quả của việc này là ngân hàng có thể điều chỉnh được lợi nhuận của mình theo mục tiêu của ban điều hành cho từng giai đoạn.

    Điểm bất cập thứ nhất đó là việc ngân hàng có quyền lựa chọn trái phiếu cần đảo mà không tiến hành đảo toàn bộ danh mục một cách thống nhất. Việc chọn các trái phiếu có lợi suất cao hơn lợi suất thị trường để đảo sẽ tạo ra các khoản lãi. Ngược lại, việc chọn các trái phiếu có lợi suất thấp hơn lợi suất thị trường để đảo có thể tạo ra các khoản lỗ. Tùy theo mục đích báo cáo, các ngân hàng sẽ lựa chọn một chiến lược đảo phù hợp.

    Với áp lực báo cáo lãi như 2008 thì có lẽ các trái phiếu lợi suất thấp sẽ không được đảo mà sẽ ghi nhận theo giá lịch sử. Về nguyên tắc, ngân hàng cần lập dự phòng cho các khoản mục này theo quy định của chuẩn mực VAS 02 về hàng tồn kho. Việc lựa chọn các khoản mục để hợp lý hóa theo hướng có lợi được gọi là hiện tượng ?ohái cherry? (cherry picking) trong kế toán.

    Một vấn đề rất quan trọng không thể nhìn được từ những con số lợi nhuận đẹp là sự tương quan giữa tài sản và nguồn vốn của ngân hàng. Với xu hướng lãi suất huy động tăng rất cao trong 2008, chắc chắn nhiều ngân hàng vẫn còn ?ongậm đắng? các nguồn vốn huy động với lãi suất cao 15-20%/năm với các kỳ hạn khác nhau.

    Trong khi các tài sản có lợi suất cao được định giá lại một cách khá ?otinh tế?, thay thế bằng các tài sản lợi suất thấp thì các khoản nguồn vốn huy động trả lãi cao lại không được định giá lại một cách tương tự. Điều này sẽ tạo ra một bảng cân đối có cơ cấu lệch lạc trong năm 2009.

    Để hiểu rõ điều này, chúng ta lấy một ví dụ đơn giản: một ngân hàng phát hành kỳ phiếu trong năm 2008 với mức lãi suất 18%/năm cho kỳ hạn 3 năm. Ngân hàng dùng đúng số tiền này đầu tư trái phiếu chính phủ lợi suất 20%/năm cùng kỳ hạn 3 năm. Cơ cấu tài sản, nguồn vốn này cho phép ngân hàng khai thác chênh lệch lợi suất 2%/năm. Đến cuối năm cả kỳ phiếu (nguồn vốn) và trái phiếu (tài sản) đều còn thời hạn trên 2 năm.

    Với lợi suất thị trường đối với kỳ hạn 2 năm còn 8-10%/năm thì việc đảo lợi suất trái phiếu sẽ tạo ra khoản lãi lớn. Tuy nhiên, chỉ đảo tài sản mà không đảo nguồn vốn sẽ cho phép ngân hàng báo lãi trên tài sản mà tránh báo lỗ trên nguồn vốn. Trong khi nhà đầu tư mua kỳ phiếu ngân hàng có thể bán lại kỳ phiếu này với mức giá cao hơn mệnh giá nhiều trên thị trường thì ngân hàng chỉ ghi nhận phần công nợ bằng mệnh giá phát hành. Đây chính là điểm bất cập thứ 2.

    Việc đảo lợi suất của tài sản mà không thực hiện cho nguồn vốn sẽ tạo ra sự méo mó trong cơ cấu bảng cân đối của ngân hàng. Trong ví dụ trên cơ cấu ?olợi suất đầu tư 20% - lợi suất huy động 18%? (lãi 2%) được chuyển thành một cơ cấu mới ?olợi suất đầu tư 9% - lợi suất huy động 18%? (lỗ 9%). Việc rút lãi 2008 có thể tạo ra các khoản lỗ trong năm 2009 và các năm sau đến khi kỳ phiếu đáo hạn.

    Việc sử dụng các kỹ thuật kế toán để điều chỉnh kết quả kinh doanh là vấn đề không mới trên thế giới cũng như Việt Nam. Năm 2007, khi thị trường cổ phiếu thăng hoa thì các ngân hàng và công ty chứng khoán Việt Nam cũng đồng loạt báo lãi nhờ nghệ thuật định giá lại giá cổ phiếu thông qua việc bán cổ phiếu hoặc đảo giá cổ phiếu (bán thu lãi rồi mua lại với giá vốn cao hơn).

    Dự phòng nợ xấu

    Đến thời điểm này thì các số liệu về lập dự phòng nợ xấu của các ngân hàng đều chưa được kiểm toán.

    Trong năm 2008, cùng với khó khăn của nền kinh tế, lãi suất cho vay tăng cao thì rủi ro tín dụng đã tăng lên mức khá cao. Hơn nữa, với sự tăng trưởng tín dụng quá nóng trong thời gian ngắn cuối năm 2007, đặc biệt là đối với các loại hình cho vay mới như tín dụng tiêu dùng và tín dụng nhà ở thì các ngân hàng thương mại Việt Nam đều chưa có những số liệu lịch sử cũng như mô hình tin cậy trong việc xác định tổn thất nợ xấu. Việc đảo nợ, gia hạn nợ, giãn nợ, tái cơ cấu nợ, khoanh nợ có thể làm cho các số liệu dự phòng khó chính xác.

    Dự phòng tín dụng là một ước tính kế toán mang tính chủ quan cao và cũng là một ?ovan? điều khiển lợi nhuận hiệu quả của các ngân hàng. Kinh nghiệm các ngân hàng quốc tế cho thấy các khoản lỗ lớn của họ trong năm qua chủ yếu do trích lập dự phòng một cách nghiêm túc như dự phòng rủi ro tín dụng, dự phòng liên quan đến vụ lừa đảo 50 tỷ USD của Bernard Madoff.

Chia sẻ trang này