1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

LS BQ 20%/năm có những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực gì đến nền kinh tế cũng như sự phát triển xã h

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by kienvkt, May 7, 2011.

Có 10 người đang online, trong đó có 1 thành viên. 14:47 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 1)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. kienvkt

    kienvkt Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 8, 2010
    Likes Received:
    343
    Chào ông Huỳnh Thế Du, dưới góc độ kinh tế, lãi suất hiện nay các ngân hàng đang áp dụng cho vay (bình quân 20%/năm) có những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực gì đến nền kinh tế cũng như sự phát triển xã hội?

    Ông Huỳnh Thế Du -
    Chuyên gia độc lập, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

    Một mặt, lãi suất cao là kết quả của lạm phát cao và việc thắt chặt tiền tệ của Ngân Hàng Nhà nước. Lãi suất cao, đầu tư sẽ giảm do vậy sẽ giảm áp lực tăng giá trong trước mắt. Tuy nhiên, khi đầu tư giảm sẽ dẫn đến tăng trưởng giảm đó là tác động trực tiếp của lãi suất cao.

    Ở đây có một vấn đề cần quan tâm là hiện tượng lựa chọn ngược và rủi ro đạo đức (tâm lý ỷ lại) khi lãi suất bị đẩy lên cao. Khi lãi suất cao, những hoạt động kinh doanh thông thường với suất sinh lợi kèm với rủi ro vừa phải không thể đi vay được vì suất sinh lợi không bù đắp được chi phí lãi vay. Chỉ những khoản đi vay có rủi ro cao kèm với suất sinh lợi cao mới có thể vay được. Hiện tượng này gọi là lựa chọn ngược.

    Hơn thế, đối với những người đi vay, do lãi suất cao, để có thể bù đắp được chi phí lãi vay nên người ta có xu hướng đầu tư vào các hoạt động kinh doanh rủi ro cao hơn để mong có được một suất sinh lợi tương ứng. Đây chính là tâm lý ỷ lại hay rủi ro đạo đức.

    Nếu vòng xoáy trên cứ tiếp tục thì cuối cùng hầu hết các khoản vay đều là những khoản vay có rủi ro hay không trả được nợ cao. Hậu quả là nợ xấu ngân hàng cao và đến một lúc nào đó các ngân hàng có thể mất thanh khoản kéo theo toàn hệ thống sụp đổ do hiệu ứng dây chuyền.

    Nói chung, khi lãi suất cao mà nguyên nhân căn bản của nó chính là lạm phát cao kéo dài sẽ tiềm ẩn rủi ro rất lớn cho nền kinh tế. Do vậy, việc duy trì mức tăng giá hay lạm phát thấp là vấn đề cốt lõi đối với một nền kinh tế và đây cũng phải là ưu tiên hàng đầu của chính phủ song song với việc cải thiện môi trường kinh doanh.
  2. Vuhoang77

    Vuhoang77 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Dec 30, 2010
    Likes Received:
    2
  3. kienvkt

    kienvkt Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 8, 2010
    Likes Received:
    343
    Ông Huỳnh Thế Du đánh giá thế nào về việc thắt chặt tiền tệ như hiện nay, kết quả và hệ lụy của nó?

    Ông Huỳnh Thế Du:

    Về nguyên tắc, khi tiền tăng nhiều hơn mức tăng của hàng hóa dẫn đến lạm phát thì cần phải thắt chặt tiền tệ để giảm lượng tiền trong nền kinh tế là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, điều cần lưu ý là việc thắt chặt tiền tệ cần phải đảm bảo rằng những đối tượng tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho nền kinh tế phải bị ít ảnh hưởng nhất để đảm bảo mức gia tăng cân đối giữa tiền và hàng. Nhìn dưới khía cạnh này và dựa vào phân tích trên sẽ thấy việc thắt chặt tiền tệ có thể làm cho tình trạng trở nên trầm trọng hơn vì:

    Thứ nhất, ở khu vực thị trường hay khu vực kinh doanh các doanh nghiệp vừa và nhỏ - cỗ máy tăng trưởng của Việt Nam - có thể là đối tượng chịu tác động trước tiên vì khi nguồn vốn bị giới hạn thì người bên ngoài (các doanh nghiệp vừa và nhỏ) sẽ là đối tượng bị cắt nguồn vốn trước tiên. Như vậy, ngay ở khu vực trường, mất cân đối tiền - hàng có thể trở nên trầm trọng hơn.

    Thứ hai, thắt chặt tiền tệ chưa hẳn sẽ giảm được lượng tiền trong nền kinh tế. Nói chung thắt chặt tiền tệ là giảm lượng cung tiền ở khu vực thị trường với giả định là việc chi tiêu công phải tuân thủ theo những kỷ luật nghiêm ngặt nên lượng tiền trong nền kinh tế sẽ giảm. Tuy nhiên, nếu mục tiêu đầu tư vẫn chiếm khoảng 40% GDP hay mức chi tiêu của toàn xã hội không thay đổi thì việc thắt chặt tiền tệ ở khu vực thị trường có thể sẽ đẩy tiền sang khu vực chi tiêu ngân sách vì trên thực tế NHNN không thể nói không với yêu cầu từ phía Chính phủ.

    Lúc này, một lần nữa, mất cân đối tiền - hàng lại trở nên nghiêm trọng hơn.
  4. bh_dn

    bh_dn Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    May 23, 2010
    Likes Received:
    0
    biết rùi, khổ lắm nói mãi
  5. Manhbeo

    Manhbeo Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 13, 2010
    Likes Received:
    742
    bác vào mã gì mà hô khoẻ thế......cho anh em đu với
    lần này chắc chắn có ăn roài
  6. Manhbeo

    Manhbeo Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 13, 2010
    Likes Received:
    742
    thời cơ đến chưa bác......còn cổ ko
  7. kienvkt

    kienvkt Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 8, 2010
    Likes Received:
    343
    Xin các chuyên gia đánh giá về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến lạm phát năm 2011? Dường như chính sách tài khóa vẫn chưa có động thái gì, điều này ảnh hưởng thế nào đến khả năng kiềm chế lạm phát năm 2011?

    Ông Nguyễn Đình Cung:

    Như trên tôi đã trình bày về nguyên nhân của lạm phát. Trong năm nay, nếu Chính phủ kiên trì thắt chặt tài khóa và tiền tệ thì nguyên nhân cầu kéo lạm phát sẽ dần được loại trừ. Vì vậy, có thể nguyên nhân chủ yếu của lạm phát năm nay là do chi phí đẩy.

    Tuy vậy, nếu không khởi động trên thực tế quá trình tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào nâng cao năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thì nguyên nhân sâu xa của lạm phát vẫn còn nguyên, và nguy cơ lạm phát do cầu kéo (do mở rộng chính sách tài khóa và tiền tệ) sẽ quay trở lại.

    Tôi cũng cho rằng, thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ, chính sách tiền tệ năm nay đã có một mục tiêu khá rõ ràng, đo lường và giám sát được. Trên thực tế, các giải pháp về tiền tệ đang được thực hiện khá quyết liệt và có những kết quả bước đầu trong kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

    Còn về tài khóa thì kết quả chưa thật rõ ràng, các khoản cắt giảm đầu tư, cắt giảm chi tiêu, theo tôi vẫn mới chỉ dừng ở những con số báo cáo, có lẽ chưa cắt giảm một cách thực sự, qua đó góp phần giảm tổng cầu của nền kinh tế và giảm áp lực đối với lạm phát.

    Hy vọng rằng, trong những tháng tới đây các giải pháp về tài khóa sẽ được thực hiện tốt hơn, phối hợp, bổ sung và giảm bớt gánh nặng cho chính sách tiền tệ trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Có như vậy, kết quả kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô sẽ bền vững hơn.
  8. kienvkt

    kienvkt Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 8, 2010
    Likes Received:
    343
    Gần đây có một số ý kiến của chuyên gia cho rằng thắt chặt tiền tệ đã quá đủ và không cần thắt thêm nữa. Xin hỏi chúng ta đã thực sự thắt chặt tiền tệ hay chưa khi tỷ lệ dự trữ bắt buộc còn ở mức 3% trong khi Trung Quốc tăng tới 20,5%? Và chúng ta có thật sự thiếu tiền trong khi quả bóng tín dụng của ta bằng 1,2 GDP? Liệu nới lỏng tiền tệ để hạ lãi suất có phải là biện pháp để giảm lạm phát hay không như một số ý kiến chuyên gia?

    Ông Huỳnh Thế Du:

    Như tôi đã phân tích, nếu chỉ tập trung vào thắt chặt tiền tệ có thể làm cho tình hình nghiêm trọng hơn. Thực ra quả bóng lúc này đang ở phía chi tiêu ngân sách nhiều hơn.

    Ý kiến nới lỏng tiền tệ để hạ lãi suất, giảm lạm phát là một lập luận hoàn toàn sai lầm. Nếu giải pháp này được thực hiện chẳng khác nào đổ dầu vào lửa.

    Con số tín dụng bằng 1,2 lần GDP mà bạn đưa ra (theo số liệu mà tôi có được có thể là cao hơn một chút) là điều cần đặc biệt quan tâm. Những nước có mức độ phát triển như Việt Nam thì tín dụng so với GDP của họ chỉ bằng khoảng 50-80% GDP và giá trị thị trường của các doanh nghiệp niêm yết so với GDP cũng chỉ tương đương mức độ hiện tại của Việt Nam.

    Tại sao tín dụng cho doanh nghiệp nhiều mà GDP lại tăng không cao? Phải chăng nợ xấu là một vấn đề có thể rất nghiêm trọng và cần được quan tâm của nền kinh tế Việt Nam?
  9. bh_dn

    bh_dn Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    May 23, 2010
    Likes Received:
    0
    Lâu rùi không có hàng
    sau đợt giảm này có thể vào được đó bác. chờ HA về <80:))
  10. kienvkt

    kienvkt Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 8, 2010
    Likes Received:
    343
    Xin hỏi ông Huỳnh Thế Du, nếu lạm phát ở Việt Nam chỉ do nguyên nhân tiền tệ thì tại sao CPI cao nhất vào tháng hai (trung bình 10 năm qua là 2,17%) và tháng Giêng (trung bình 10 năm qua là 1,25%)? Việt Nam chưa bao giờ thắt chặt về tiền tệ (thể hiện mức tăng M2 chưa bao giờ thấp hơn 20%/ năm). Ông nghĩ gì về điều này?

    Ông Huỳnh Thế Du:

    Tôi xin trả lời hai câu hỏi của ông Thắng như sau:

    Thứ nhất, đối với vấn đề lạm phát. Như tôi đã phân tích, yếu tố tiền tệ vẫn là căn nguyên của lạm phát, nhưng ở một số thời điểm nhất định (ngắn hạn) còn yếu tố cầu kéo và chi phí đẩy. Ở Việt Nam, mức tăng giá hàng năm vào tháng 1 và tháng 2 thường tăng cao là rơi vào dịp tết âm lịch, khi đó mức cầu của hầu hết các loại hàng hóa tiêu dùng đều cao hơn mức cung có (cho dù đã được chuẩn bị sẵn) nên ở thời điểm này giá tăng cao hơn bình thường.

    Như vậy, việc tăng giá theo mùa vụ này chính là do cầu kéo. Điều này không chỉ đúng ở Việt Nam mà còn đúng ở các nước khác trong các mùa lễ hội như các nước phương Tây vào tháng 11-12 hay Trung Quốc vào tháng 1-2. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, nếu cung tiền không tăng quá nhiều thì qua những thời điểm mùa vụ này giá sẽ được điều chỉnh và mức tăng giá của cả năm sẽ không quá cao.

    Thứ hai, đối với vấn đề thắt chặt tiền tệ: Ông đúng và đó là nguyên nhân dẫn đến lạm phát cao.

Share This Page