1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Mặc dù thị trường giảm điểm nhưng có tín hiệu tích cực rất đáng ghi nhận

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi thachanhisc, 31/05/2010.

2179 người đang online, trong đó có 209 thành viên. 13:28 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 1287 lượt đọc và 24 bài trả lời
  1. thachanhisc

    thachanhisc Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    29/03/2010
    Đã được thích:
    0
    [​IMG][​IMG]*Phần lớn TTCK tại châu Á tăng điểm: Phiên cuối cùng của tháng 5, chỉ số Nikkei 225 của thị trường Nhật tăng 0,1%. Chỉ số
    *Kospi của thị trường Hàn Quốc tăng 0,8%. Chỉ số Jakarta Composite của thị trường Indonexia tăng 3%. Chỉ số FTSE Bursa KLCI
    của thị trường Malaysia tăng 0,9%. Chỉ số S&P/ASX 200 của thị trường Úc hạ 0,6%. Chỉ số Shanghai Composite của thị trường
    *Trung Quốc hạ 2,4%. Chỉ số Bombay SE Sensitive của thị trường Ấn Độ tăng 0,08%. Cổ phiếu các công ty y tế và sản xuất hàng
    tiêu dùng tăng điểm nhờ dấu hiệu tăng trưởng kinh tế tốt trong khu vực.
    *Giữ nguyên lãi suất cơ bản 8%/năm: Sáng nay (31/5/2010), Thống đốc Ngân hàng Nhà nước *Việt Nam ban hành Quyết định số
    1311/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam. Theo Quyết định này, kể từ ngày 01/6/2010, mức lãi suất cơ bản
    bằng đồng Việt Nam sẽ là 8%/năm.
    *Vàng giữ giá phiên đầu tuần: Mở cửa phiên giao dịch thị trường Châu Á sáng nay (31/5), giá vàng thế giới chưa có biến động gì
    đáng kể. Vàng trong nước vẫn khá vững quanh mốc 27,7 triệu đồng/lượng. Ngày 31/5, tỷ giá USD/VND điều chỉnh giảm nhẹ tại
    thị trường tự do cũng như liên ngân hàng. Tỷ giá này giao dịch quanh mức 18,980-19,000 (thị trường tự do) và 18,983-18,990
    (interbank) vào đầu ngày hôm nay. Tại VCB, giá USD giao dịch ở 18.960-19.010 VND/USD (mua vào-bán ra).

    Trong quá trình giảm
    điểm này, sự giảm KLGD do tiết cung sẽ là yếu tố quan
    trọng được xem như là tín hiệu tích cực để có thể kỳ
    vọng đang trong quá trình tích lũy tạo đáy.

    Chứng khoán tháng 5 và dự đoán tháng 6
    "Tuy tháng 5 giảm như vậy, nhưng người viết dự đoán CK tháng 6 không những bù lại được mà còn vượt đỉnh ngày 6.5, vì: CK Mỹ bắt đầu tăng mạnh, kéo các thị trường khác tăng theo; Giá trị giao dịch phần lớn là tiền tự có; Kết quả cuối tháng 5 khá hứng khởi, sẽ có tác động hút các nhà đầu tư trở lại thị trường; Giá nhiều cổ phiếu hiện ở mức khá rẻ; Kinh tế vĩ mô khá lên từ tăng trưởng công nghiệp, vốn đầu tư nước ngoài, xuất khẩu, tiêu thụ trong nước, lạm phát được kiềm chế, tăng trưởng tín dụng cao lên, tỷ giá ổn định…; Khối ngoại tiếp tục mua ròng"
    http://www.thanhnien.com.vn/news/Pages/201022/20100529150609.aspx
  2. n.p.h

    n.p.h Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/05/2010
    Đã được thích:
    0
    =D>=D>
  3. Thaiduongst

    Thaiduongst Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/01/2010
    Đã được thích:
    0
    Giao dịch trên TTCK EU đang rất bình ổn, tâm lý cân bằng đã trở lại rồi
  4. thachanhisc

    thachanhisc Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    29/03/2010
    Đã được thích:
    0
    [​IMG] Một số chỉ tiêu chủ yếu 5 tháng đầu năm 2010 (tăng/giảm) so với cùng kỳ năm trước (%)
    Giá trị sản xuất công nghiệp+13,6 Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng +26,9 Tổng kim ngạch xuất khẩu+12,6 Tổng kim ngạch nhập khẩu+29,8 Khách quốc tế đến Việt Nam+37,7 Vốn đầu tư ngân sách nhà nước thực hiện so với kế hoạch năm36,5
  5. thachanhisc

    thachanhisc Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    29/03/2010
    Đã được thích:
    0
    [​IMG] [​IMG] Thông cáo báo chí [​IMG] [​IMG]
    A { TEXT-DECORATION: none } A:hover { TEXT-DECORATION: underline } THÔNG CÁO BÁO CHÍ VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI QUÝ I NĂM 2010 (16:03 30/03/2010)


    "> function goto_link(ID) {window.location = '/default.aspx?tabid=507&ItemID='+ID;}Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá 12 đã đề ra Nghị quyết số 36/2009/QH12 về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010 với mục tiêu tổng quát là:“Nỗ lực phấn đấu phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn năm 2009, tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô; nâng cao chất lượng tăng trưởng; ngăn chặn lạm phát cao trở lại; tăng khả năng đảm bảo an sinh xã hội; chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh; phấn đấu đạt mức cao nhất các chỉ tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010”. Ngày 15/01/2010 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 03/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2010 với 6 nhiệm vụ và 8 nhóm giải pháp chủ yếu gồm trên 130 giải pháp cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu tổng quát nêu trên.
    Ngay từ đầu năm, các cấp, các ngành, các địa phương đã khẩn trương triển khai và tổ chức thực hiện quyết liệt các Nghị quyết của Đảng, Nhà nước nên tình hình kinh tế-xã hội quý I/2010 của nước ta diễn biến theo chiều hướng tích cực với những kết quả chủ yếu như sau:
    I. KẾT QUẢ PHỤC HỒI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
    1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
    Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2010 ước tính tăng 5,83% so với cùng kỳ năm 2009, bao gồm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,45%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,65%; khu vực dịch vụ tăng 6,64%. Trong tốc độ tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,42 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 2,44 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ đóng góp 2,97 điểm phần trăm. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước quý I tuy chưa bằng mục tiêu tăng 6,5% đề ra cho cả năm nhưng cao hơn nhiều so với quý I/2009, chứng tỏ nền kinh tế nước ta đang tiếp tục phục hồi và tăng trưởng nhanh dần.
    2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
    Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quý I/2010 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 5,8% so với quý I/2009, bao gồm nông nghiệp tăng 6,1%; lâm nghiệp tăng 4,5%; thủy sản tăng 4,9%.
    a. Nông nghiệp
    Tính đến ngày 15/3/2010, cả nước đã gieo cấy 3051,8 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 102,4% cùng kỳ năm trước. Các địa phương phía Bắc gieo cấy 1098,6 nghìn ha, bằng 100,1%. Các địa phương phía Nam gieo cấy 1953,2 nghìn ha, bằng 103,7% cùng kỳ năm trước, trong đó Vùng đồng bằng sông Cửu Long 1579,1 nghìn ha, bằng 102,3% cùng kỳ năm 2009.
    Đến trung tuần tháng 3/2010, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã thu hoạch 895,9 nghìn ha, chiếm 56,7% diện tích gieo cấy và bằng 115,6% cùng kỳ năm trước. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa đông xuân toàn vùng năm nay ước tính đạt 63,8 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha, sản lượng đạt 9973 nghìn tấn, tăng 117 nghìn tấn so với vụ đông xuân 2009.
    Bên cạnh việc chăm sóc và thu hoạch lúa đông xuân, tính đến 15/3/2010, cả nước đã gieo trồng được 369,2 nghìn ha ngô, bằng 107,9% cùng kỳ năm trước; khoai lang 78,1 nghìn ha, bằng 97,1%; đậu tương 111,6 nghìn ha, bằng 143,6%; rau đậu 366,6 nghìn ha, bằng 101,8%. Ngoài ra, các địa phương phía Bắc đang thu hoạch cây vụ đông với sản lượng của nhiều cây tăng mạnh so với vụ đông năm trước: Sản lượng ngô tăng 66%; khoai lang tăng 23%; đỗ tương gấp 4,6 lần; lạc tăng 18%; rau đậu tăng 17%.
    Chăn nuôi trong những tháng đầu năm tăng mạnh, đáp ứng nhu cầu thực phẩm tiêu dùng tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán. Tổng đàn lợn quý I/2010 ước tính tăng trên 3% so với cùng kỳ năm 2009; đàn gia cầm tăng 8%; sản lượng thịt hơi các loại tăng 6%. Tính đến ngày 21/3/2010, cả nước không còn địa phương nào có dịch tai xanh trên lợn; các dịch bệnh chưa qua 21 ngày ở một số địa phương là: Dịch cúm gia cầm ở Tuyên Quang, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Bến Tre; dịch lở mồm long móng trên trâu, bò ở Hà Giang, Điện Biên và Sơn La.
    b. Lâm nghiệp
    Diện tích rừng trồng tập trung quý I/2010 cả nước ước tính đạt 26,8 nghìn ha, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước; số cây trồng phân tán đạt 59,7 triệu cây, tăng 0,3%; diện tích rừng trồng được chăm sóc 128 nghìn ha, tăng 6,6%; diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh 268 nghìn ha, tăng 6,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 761 nghìn m3, tăng 6,1%; sản lượng củi khai thác đạt 6,8 triệu ste, tăng 2,4%.
    Hiện nay thời tiết nắng hạn và khô hanh kéo dài, lại đang vào mùa đốt nương làm rẫy nên tình trạng chặt phá rừng, cháy rừng đã xảy ra ở nhiều địa phương. Diện tích rừng bị cháy và bị chặt phá trong quý I/2010 là 1763,6 ha, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm diện tích rừng bị cháy 1521,6 ha, tăng 134,1%; diện tích rừng bị chặt phá là 242 ha, giảm 66,4%.
    c. Thuỷ sản
    Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng và khai thác quý I/2010 ước tính đạt 1067,7 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 808,4 nghìn tấn, tăng 4,2%; tôm đạt 93 nghìn tấn, tăng 6,1%. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng quý I/2010 ước tính đạt 463 nghìn tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước. Khai thác thuỷ sản những tháng đầu năm thuận lợi về thời tiết và giá tiêu thụ nên sản lượng thủy sản khai thác quý I/2010 ước tính đạt 604,7 nghìn tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khai thác biển đạt 559,8 nghìn tấn, tăng 4,2%.
    3. Sản xuất công nghiệp
    Sản xuất công nghiệp tiếp tục đà phục hồi và tăng cao hơn quý I/2009. Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 1994) quý I/2010 ước tính tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong các ngành công nghiệp, giá trị sản xuất của ngành điện, ga, nước quý I/2010 đạt mức tăng cao nhất với 19,3% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp chế biến tăng 14,1%.
    Một số sản phẩm công nghiệp quý I năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Điều hoà nhiệt độ tăng 102,3%; khí hóa lỏng tăng 66,7%; kính thuỷ tinh tăng 56,5%; lốp ô tô, máy kéo tăng 51,6%; xe máy tăng 40,4%; xe tải tăng 39,4%; tủ lạnh, tủ đá tăng 36,8%; gạch lát ceramic tăng 35%; xe chở khách tăng 26,4%; khí đốt thiên nhiên dạng khí tăng 24,3%; giấy, bìa tăng 20,1%; điện sản xuất tăng 19,9%; xi măng tăng 18,2%; xà phòng giặt tăng 17,2%; bia tăng 15,9%; sơn hoá học tăng 15,5%; giày thể thao tăng 15,2%. Bên cạnh đó, vẫn còn một số sản phẩm có tốc độ tăng không cao hoặc mức sản xuất không bằng cùng kỳ năm trước như: Ti vi chỉ tăng 4,3%; vải dệt từ sợi tổng hợp và sợi nhân tạo tăng 2,4%; dầu thực vật tinh luyện không tăng; đường kính giảm 4,9%;dầu thô khai thác giảm 14,5%; v.v...
    Các địa phương đã nỗ lực, cố gắng thúc đẩy sản xuất công nghiệp phát triển nên nhiều tỉnh, thành phố đạt tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung cả nước như: Vĩnh Phúc tăng 47,4%; Phú Thọ tăng 38,7%; Đà Nẵng tăng 26,2%; Bình Dương tăng 20,8%; Hải Dương tăng 19,8%; Quảng Ninh tăng 18,7%, Đồng Nai tăng 18,4%; Hải Phòng tăng 15,2%; Thanh Hoá tăng 14,2%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,7%. Bên cạnh đó, sản xuất công nghiệp của một số địa phương tăng thấp, thậm chí vẫn trong tình trạng giảm sút: Hà Nội tăng 12,4%; Cần Thơ tăng 11,9%; Bà Rịa-Vũng Tàu giảm 3,1%.
    4. Hoạt động dịch vụ
    a. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
    Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2010 theo giá thực tế ước tính tăng 24,1% so với cùng kỳ năm 2009; nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 14,4%. Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I, ngành kinh doanh thương nghiệp tăng 24,7%; khách sạn, nhà hàng tăng 20,5%; dịch vụ tăng 22,6%; du lịch tăng 34,1%.
    b. Vận tải hành khách và hàng hoá
    Vận chuyển hành khách quý I/2010 ước tính tăng 14,8% về khối lượng vận chuyển và tăng 15,8% về khối lượng luân chuyển so với quý I/2009, bao gồm: Vận tải đường bộ tăng 15,6% và tăng 16,4%; đường sông tăng 5,7% và tăng 2,3%; đường biển tăng 5% và tăng 6,2%; đường sắt giảm 0,3% và tăng 4%; vận tải đường không tăng 21,1% và tăng 18,5%.
    Vận tải hàng hóa quý I/2010 ước tính tăng 10,4% về khối lượng vận chuyển và tăng 8,5% về khối lượng luân chuyển so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: vận tải hàng hoá đường bộ tăng 11,9% và tăng 10,3%; đường sông tăng 2,5% và tăng 3,4%; đường biển tăng 16% và tăng 9%; đường sắt giảm 2,9% và tăng 2,4%.
    c. Bưu chính, viễn thông
    Tổng số thuê bao điện thoại phát triển mới trong quý I/2010 đạt 7,2 triệu thuê bao, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2009, bao gồm 677,4 nghìn thuê bao cố định, giảm 28,1% và 6,55 triệu thuê bao di động, tăng 31,4%. Số thuê bao điện thoại cả nước tính đến hết tháng 03/2010 ước tính đạt 137,6 triệu thuê bao, tăng 57,7% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm 19,7 triệu thuê bao cố định, tăng 31% và 117,9 triệu thuê bao di động, tăng 63,3%. Đến cuối quý I/2010, số thuê bao internet trên cả nước đạt trên 23,3 triệu thuê bao, trong đó gần 3,1 triệu thuê bao băng rộng (tăng 37,3% so với cùng thời điểm năm trước).
    d. Khách quốc tế đến Việt Nam
    Khách quốc tế đến nước ta quý I/2010 ước tính đạt 1351,2 nghìn lượt người, tăng 36,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 847 nghìn lượt người, tăng 41%; đến vì công việc 265,6 nghìn lượt người, tăng 63,5%; thăm thân nhân đạt 170 nghìn lượt người, tăng 3,6%.
    Một số quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng khách đến nước ta trong quý I tăng cao là: Trung Quốc 227,8 nghìn lượt người, tăng 115% so với cùng kỳ năm 2009; Hàn Quốc 133 nghìn lượt người, tăng 29,5%; Hoa Kỳ 127,7 nghìn lượt người, tăng 5,6%; Nhật Bản 110,7 nghìn lượt người, tăng 12%; Đài Loan 86,8 nghìn lượt người, tăng 22,4%; Ôx-trây-li-a 80,7 nghìn lượt người, tăng 24,5%; Cam-pu-chia 58,4 nghìn lượt người, tăng 147,2%; Pháp 57,4 nghìn lượt người, tăng 15,2%; Thái Lan 53,6 nghìn lượt người, tăng 37%; Ma-lai-xi-a 44,9 nghìn lượt người, tăng 14,3%.
    II. KẾT QUẢ ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG VÀ NGĂN CHẶN LẠM PHÁT CAO TRỞ LẠI
    1. Đầu tư phát triển
    Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I/2010 theo giá thực tếước tính đạt 146,8 nghìn tỷ đồng, tăng 26,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: vốn khu vực Nhà nước chiếm 48,2% tổng số vốn thực hiện và tăng 23,5%; vốn khu vực ngoài Nhà nước chiếm 19,3% và tăng 48,4%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 32,5% và tăng 19,6%. Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện quý I/2010 ước tính đạt 21,8 nghìn tỷ đồng, bằng 17,4% kế hoạch năm, bao gồm: Vốn trung ương quản lý đạt 6,7 nghìn tỷ đồng, bằng 17,9% kế hoạch năm; vốn địa phương quản lý đạt 15,1 nghìn tỷ đồng, bằng 17,2% kế hoạch năm.
    Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 22/3/2010 đạt 2,1 tỷ USD, bằng 29% cùng kỳ năm 2009, bao gồm: Vốn đăng ký của 139 dự án được cấp phép mới là 1,9 tỷ USD (giảm 40,9% về số dự án và giảm 40,5% về số vốn so với cùng kỳ năm trước); vốn đăng ký bổ sung của 41 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước là 215 triệu USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện quý I/2010 ước tính đạt 2,5 tỷ USD, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm 2009.
    Trong quý I/2010, Bà Rịa-Vũng Tàu có số vốn đăng ký dẫn đầu, chiếm 46,9% tổng vốn đăng ký; tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh chiếm 21,7%; Quảng Ngãi chiếm 17,7%; Bình Dương chiếm 5,1%; Bắc Giang chiếm 2,8%; Hải Phòng chiếm 1,7%.
    Trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam quý I/2010, Hoa Kỳ là nhà đầu tư lớn nhất, chiếm 47,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc chiếm 26,3%; Xin-ga-po chiếm 7,1%; Xlô-va-ki-a chiếm 5,2%; Quần đảo Virgin thuộc Anh chiếm 4,9%; Đài Loan chiếm 3,6%; CHND Trung Hoa chiếm 1,4%.
    2. Cân đối thu, chi ngân sách Nhà nước
    Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/3/2010 ước tính bằng 19,7% dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 18,9%; thu từ dầu thô bằng 18,6%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 23%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 21,2% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 18,5%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước bằng 17,6%; thuế thu nhập cá nhân bằng 17,3%; thu phí xăng dầu bằng 20,6%; thu phí, lệ phí bằng 17,5%.
    Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/3/2010 ước tính bằng 17,5% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 17,5%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể bằng 19,9%; chi trả nợ và viện trợ bằng 18,7%.
    3. Cân đối thương mại
    a. Xuất khẩu hàng hoá
    Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 3/2010 ước tính tăng 37,7% so với tháng trước, nhưng giảm 3,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2010, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 25%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 28,6%. Nếu loại trừ tái xuất vàng của quý I/2009 và yếu tố tăng giá trên thị trường thế giới thì xuất khẩu hàng hóa quý I/2010 tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước.
    Do không tái xuất vàng nên cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu quý I/2010 có sự thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản tăng từ 25,7% trong quý I/2009 lên 32,5% trong quý I/2010; nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 33,4% lên 42,8%; nhóm hàng nông lâm nghiệp và thủy sản tăng từ 23,4% lên 24,7% (tái xuất vàng quý I/2009 chiếm 17,6%).
    Trong quý I năm nay, một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn vẫn duy trì mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: dệt may đạt 2,2 tỷ USD, tăng 12,3%; giày dép đạt 1 tỷ USD, tăng 10,1%; thủy sản đạt 861 triệu USD, tăng 14,5%; điện tử máy tính đạt 703 triệu USD, tăng 40,7%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 716 triệu USD, tăng 26,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 630 triệu USD, tăng 66,5%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 425 triệu USD, tăng 151,7%. Tuy nhiên, có một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực giảm so với cùng kỳ cả về lượng và giá trị như: Gạo đạt 677 triệu USD, giảm 30,7% về lượng và giảm 16,8% về giá trị; cà phê đạt 461 triệu USD, giảm 25,3% về lượng và giảm 31% về giá trị.
    b. Nhập khẩu hàng hoá
    Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 3/2010 ước tính tăng 28,2% so với tháng trước và tăng 27,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung kim ngạch nhập khẩu hàng hóa quý I/2010 ước tính tăng 37,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước tăng 28,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 53,1%. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì kim ngạch nhập khẩu quý I/2010 tăng 16,6% so với cùng kỳ năm 2009.
    Kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng quý I đạt 2,8 tỷ USD, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước; xăng dầu đạt 1,6 tỷ USD tăng 33,2%; sắt thép đạt 1 tỷ USD, tăng 26%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 1 tỷ USD, tăng 53,1%; vải đạt 955 triệu USD, tăng 13,2%; chất dẻo đạt 758 triệu USD, tăng 53%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 623 triệu USD, tăng 136,9%; ôtô đạt 582 triệu USD, tăng 66% (trong đó ôtô nguyên chiếc đạt 149 triệu USD, giảm 3%); nguyên phụ liệu dệt may giày dép đạt 483 triệu USD, tăng 21,6%.
    Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu quý I/2010 không có nhiều biến động so với cùng kỳ năm 2009, nhóm hàng tư liệu sản xuất vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất với 88,8%; nhóm hàng tiêu dùng chiếm 9,9%; vàng chiếm 1,3%.
    Nhập siêu tháng 3/2010 ước tính 1,35 tỷ USD, bằng 26,2% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa. Tính chung quý I/2010, nhập siêu đạt 3,5 tỷ USD, bằng 25% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa.
    4. Kết quả nn ngừa lạm phát cao trở lại
    Giá tiêu dùng tháng 3/2010 tăng 0,75% so với tháng trước, trong đó nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng cao nhất với 1,38%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,03% (lương thực giảm 0,9%; thực phẩm tăng 1,5%; ăn uống ngoài gia đình tăng 1,75%). Giá các nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng nhẹ gồm: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,15%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,16%; giáo dục tăng 0,18%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,34%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,39%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,5%; giao thông tăng 0,92%; riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,2%.
    Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2010 tăng 9,46% so với cùng kỳ năm 2009 và tăng 4,12% so với tháng 12/2009. Giá tiêu dùng bình quân quý I/2010 tăng 8,51% so với giá tiêu dùng bình quân quý I/2009.
    III. KẾT QUẢ ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI
    1. Đời sống dân cư
    Công tác bảo đảm an sinh xã hội tiếp tục được triển khai tích cực tại các địa phương nhằm ổn định và nâng cao đời sống nhân dân. Theo Quyết định số 61/QĐ-CTN ngày 15/01/2010 của ************* về việc tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán Canh Dần năm 2010, các đối tượng chính sách được tặng quà theo 2 mức: 400 nghìn đồng và 200 nghìn đồng. Ngoài ra UBND và các cơ quan, đoàn thể các địa phương còn hỗ trợ thêm cho các đối tượng này mỗi suất quà trị giá từ 100 nghìn đồng trở lên. Tổng giá trị hỗ trợ bằng tiền và hiện vật trong dịp Tết Nguyên đán cho các đối tượng chính sách xã hội là 776 tỷ đồng.
    Ở khu vực nông thôn, do thiên tai xảy ra cuối năm 2009 gây thiệt hại nặng về người và tài sản; đồng thời ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống dân cư nên trong 3 tháng đầu năm 2010, cả nước có 236,1 nghìn lượt hộ với 934 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói. Để giúp đỡ đồng bào khắc phục thiếu đói, từ đầu năm, Chính phủ và chính quyền các cấp, các ngành, các tổ chức cá nhân trong nước và quốc tế đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 12,5 nghìn tấn lương thực và 4,6 tỷ đồng.
    2. Y tế và chăm sóc sức khỏe dân cư
    Trong quý I/2010, trên địa bàn cả nước đã có 7,4 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 867 trường hợp mắc bệnh sốt rét; 484 trường hợp mắc bệnh viêm gan virút; 15 trường hợp nhiễm virút cúm A (H1N1) và 5 trường hợp nhiễm virút cúm A (H5N1). Tính từ đầu năm đến 17/3/2010, cả nước đã xảy ra 23 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể với 738 trường hợp bị ngộ độc, trong đó 12 người đã tử vong. Số trường hợp nhiễm HIV/AIDS tiếp tục gia tăng. Tính từ ca phát hiện đầu tiên cho đến ngày 22/03/2010, trên địa bàn cả nước đã có 208,3 nghìn trường hợp nhiễm HIV, trong đó 81,9 nghìn người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 45,1 nghìn người đã tử vong do AIDS.
    3. Tai nạn giao thông
    Trong 2 tháng đầu năm 2010, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 2520 vụ tai nạn giao thông, làm chết 2072 người và làm bị thương 1978 người. So với 2 tháng đầu năm 2009, số vụ tai nạn giao thông tăng 16,5%; số người chết tăng 1,3%; số người bị thương tăng 38,9%. Bình quân một ngày trong 2 tháng đầu năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 43 vụ tai nạn giao thông, làm chết 35 người và làm bị thương 34 người. So với cùng kỳ năm 2009, số vụ tai nạn giao thông bình quân một ngày tăng 7 vụ; số người chết tăng 1 người và số người bị thương tăng 10 người.
    Riêng trong 6 ngày Tết Canh Dần (từ 30 tháng Chạp đến 5 tháng Giêng), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 407 vụ tai nạn giao thông, làm chết 297 người và làm bị thương 425 người, trong đó 397 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 287 người và làm bị thương 425 người. Bình quân 1 ngày có gần 50 người chết do tai nạn giao thông.
    4. Thiệt hại do thiên tai
    Trong 3 tháng đầu năm 2010, áp thấp nhiệt đới, triều cường, mưa lớn kéo dài và lốc xoáy đã gây thiệt hại về người và tài sản cho 4 tỉnh là Yên Bái, Thanh Hoá, Bình Thuận và Đồng Tháp. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, thiên tai đã làm 5 người chết; 10 người bị thương, tổng giá trị thiệt hại ước tính gần 13 tỷ đồng.
    Khái quát lại, mặc dù đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, nhưng trong quý I/2010 nền kinh tế nước ta vẫn tiếp tục đà phục hồi của những quý cuối năm 2009 với tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước đạt 5,83%, gấp gần 1,9 lần tốc độ tăng trong quý I/2009. Đáng chú ý là sự phục hồi diễn ra ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực kinh tế then chốt: Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,8%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13,6%; tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế tăng 24,1%, nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tăng 14,4%; thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội ước tính tăng 26,2%; vận chuyển hành khách tăng 14,8% về khối lượng vận chuyển và tăng 15,8% về khối lượng luân chuyển; vận chuyển hàng hoá tăng 10,4% về khối lượng vận chuyển và tăng 8,5% về khối lượng luân chuyển; khách quốc tế đến nước ta tăng 36,2%.
    Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn vừa có tính trước mắt vừa có tính lâu dài. Chất lượng, hiệu quả tăng trưởng hạn chế; sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và của nhiều ngành, nhiều loại sản phẩm hàng hoá, dịch vụ còn thấp. Một số cân đối kinh tế vĩ mô chưa được cải thiện đáng kể, thiếu tính bền vững, nhất là cân đối xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ; cân đối thu chi ngân sách Nhà nước; cân đối vốn đầu tư phát triển; chỉ số giá tiêu dùng tăng cao. Những khó khăn, thách thức đó đã tác động không nhỏ đến sản xuất và đời sống dân cư.
    Năm 2010 có vị trí rất quan trọng. Việc hoàn thành Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010 không chỉ góp phần thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010 và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010, mà còn tạo tiền đề vật chất và tinh thần để bước vào triển khai thực hiện các mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015 và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2011-2020 mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI tiến hành đầu năm 2011 sẽ đề ra.
    Để hoàn thành những mục tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010, các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và nhân dân cả nước cần tiếp tục thực hiện nghiêm túc, quyết liệt các Nghị quyết số 36/2009/QH12; Nghị quyết số 37/2009/QH12 và Nghị quyết số 38/2009/QH12 của Quốc hội; Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 15/01/2010 của Chính phủ, trong đó chú trọng các vấn đề lớn sau đây:
    - Một là, trên cơ sở kết quả thực hiện trong quý I/2010, các ngành, các cấp cần rà soát các chỉ tiêu chủ yếu của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010 đã được Quốc hội và các ngành, các địa phương thông qua để đề ra nhiệm vụ phấn đấu cho các tháng, quý tiếp theo. Riêng về tổng sản phẩm trong nước, theo tính toán của Tổng cục Thống kê, quý I/2010 tuy tăng trưởng cao nhưng mới đạt 5,83%, muốn đạt chỉ tiêu cả năm tăng 6,5% thì quý II/2010 phải phấn đấu tăng 6%; quý III/2010 tăng 6,5% và quý IV tăng 7,3%.
    - Hai là, để thực hiện được các chỉ tiêu chủ yếu của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010 nói chung và chỉ tiêu tăng tổng sản phẩm trong nước nói riêng, phải tận dụng đà phục hồi của kinh tế trong nước và xu hướng phục hồi của kinh tế thế giới để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh. Rà soát và xác định rõ những thế mạnh của địa phương, của mỗi ngành và của từng doanh nghiệp để ưu tiên phát triển sản xuất, kinh doanh. Khai thác cao nhất sức mua của thị trường nội địa, nhất là thị trường khu vực nông thôn nhằm tiêu thụ mạnh hơn hàng hoá sản xuất trong nước. Đẩy mạnh thực hiện chiến lược thu mua dự trữ các sản phẩm hàng hoá, bảo đảm giá cả có lợi cho người sản xuất; đồng thời tạo quỹ hàng hoá để chủ động trong xuất khẩu và bình ổn giá cả thị trường trong nước. Trước mắt cần chuẩn bị kho tạm chứa và kinh phí tiếp tục thu mua hết lúa hàng hoá của vùng Đồng bằng sông Cửu Long vì đang vào vụ thu hoạch đại trà với sản lượng dự báo tăng cao so với vụ đông xuân 2009; thu mua cà phê và một số loại nông sản khác. Phát huy vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp và tập đoàn kinh tế Nhà nước gắn liền với ngăn ngừa độc quyền. Tăng cường vai trò chỉ đạo, điều hành nền kinh tế của Nhà nước bằng các giải pháp phù hợp với quy luật thị trường, tránh lạm dụng các biện pháp can thiệp hành chính. Trong công nghiệp, bên cạnh việc quan tâm đổi mới thiết bị công nghệ lạc hậu và nâng cao hiệu quả các cơ sở công nghiệp hiện có, cần đẩy mạnh đầu tư xây dựng các cơ sở công nghiệp phụ trợ và công nghiệp tái sử dụng nguyên vật liệu nhằm tiết kiệm trong nhập khẩu và bảo vệ môi trường.
    - Ba là, tập trung chỉ đạo đẩy mạnh tiến độ thực hiện và giải ngân các dự án công trình đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, trái phiếu Chính phủ, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp Nhà nước để bù đắp cho việc triển khai các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước đạt thấp (Thực hiện quý I/2010 chỉ đạt 17,4% kế hoạch năm). Tiếp tục đổi mới và hoàn chỉnh cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước mở rộng đầu tư. Có giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài tăng trở lại vì số vốn đăng ký đầu tư thuộc khu vực đầu tư này năm 2009 đã giảm 70%; quý I/2010 tiếp tục giảm 71% so với cùng kỳ năm trước. Tăng cường huy động các nguồn vốn đầu tư phải gắn liền với việc quản lý chặt chẽ, chống thất thoát, lãng phí nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng.
    - Bốn là, chú trọng giám sát và điều hành các cân đối kinh tế vĩ mô. Giảm thiểu tình trạng mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế, cán cân thương mại, cân đối thu chi ngân sách Nhà nước. Thực hiện chính sách tài chính tiền tệ vừa thận trọng vừa tạo điều kiện thuận tiện trong việc vay vốn để triển khai các dự án đầu tư có hiệu quả; có giải pháp đồng bộ, linh hoạt và hiệu quả trong chỉ đạo, điều hành hoạt động tài chính, ngân hàng để hỗ trợ tích cực, thúc đẩy nền kinh tế phục hồi nhanh và tăng trưởng bền vững. Phấn đấu thực hiện chỉ tiêu nhập siêu bằng 20% xuất khẩu. Để thực hiện nhiệm vụ khó khăn này, mức nhập siêu các tháng còn lại tối đa không được vượt quá 18-19% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng tháng. Đẩy mạnh xuất khẩu những hàng hoá dịch vụ nước ta có thế mạnh, tiếp tục củng cố thị trường hiện có và mở rộng khai thác thị trường thế giới đang xuất hiện nhu cầu do kinh tế nhiều nước đang và sẽ phục hồi. Khẩn trương nghiên cứu và xây dựng hàng rào kỹ thuật phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm ngăn chặn hàng hoá dư thừa, tồn kho, hàng hoá chất lượng thấp, hàng giả nhập khẩu chính ngạch và tiểu ngạch tràn vào nước ta. Đồng thời tiến hành xây dựng chương trình và giải pháp thiết thực, đồng bộ nhằm khôi phục và tăng dự trữ ngoại tệ của Nhà nước.
    - Năm là, kiểm soát chặt chẽ giá cả hàng hoá, dịch vụ trên thị trường, phòng ngừa lạm phát cao trở lại. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2010 đã tăng 4,12% so với tháng 12/2009. Như vậy, muốn thực hiện được mục tiêu kiềm chế lạm phát không quá 7% thì mỗi tháng còn lại của năm 2010 chỉ được phép tăng không quá 0,3%. Đây là nhiệm vụ hết sức nặng nề vì diễn biến giá cả năm 2010 không hoàn toàn theo quy luật của các năm trước. Trong những tháng tới, giá tiêu dùng có thể sẽ còn tiếp tục chịu tác động tiêu cực của các yếu tố chính sau đây: (1) Hệ luỵ của chính sách nới lỏng tài chính và các gói kích cầu đầu tư, kích cầu tiêu dùng áp dụng trong năm 2009; (2) Tác động dây chuyền theo quan hệ liên ngành của việc tăng giá điện, than, xăng dầu, sắt thép, cước vận chuyển trong thời gian vừa qua tới các ngành không trực tiếp sử dụng các sản phẩm hàng hoá đã tăng giá; (3) Giá cả của nhiều loại hàng hoá, dịch vụ nước ta nhập khẩu với khối lượng lớn trên thị trường thế giới tăng do kinh tế thế giới phục hồi; (4) Thêm vào đó, từ 01/5/2010 cán bộ, công chức được nâng lương tối thiểu từ 650 nghìn đồng/tháng lên 730 nghìn đồng/tháng cũng sẽ tạo ra tâm lý và lý do để thị trường tăng giá hàng hoá tiêu dùng. Để kiềm chế lạm phát, cần khẩn trương phân tích đánh giá, rút ra những nguyên nhân khách quan và chủ quan tác động tăng giá tiêu dùng những tháng vừa qua và dự báo cho thời gian tới để chủ động kiềm chế lạm phát.
    - Sáu là, do giá tiêu dùng tăng nhanh và đứng ở mức cao nên thu nhập thực tế của dân cư bị thu hẹp. Vùng bị bão lũ năm 2009 và đầu năm 2010 tàn phá nặng nề đến nay sản xuất và đời sống vẫn gặp khó khăn. Do vậy, tình trạng tái nghèo và thiếu đói giáp hạt có dấu hiệu gia tăng ở một số địa bàn. Do vậy, phải đẩy mạnh việc thực hiện và nâng cao hiệu quả của chương trình xoá đói giảm nghèo; chống tái nghèo đối với các hộ cận nghèo. Các địa phương cần rà soát lại các hộ đang thiếu đói để trợ giúp, khắc phục kịp thời và triệt để, góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội. Mặt khác, phải tăng cường công tác bảo vệ môi trường, phòng chống cháy rừng, thiên tai, dịch bệnh cho người, cây trồng, vật nuôi, không để xảy ra trên diện rộng gây thiệt hại lớn và gây tâm lý hoang mang trong cộng đồng. Ngoài ra, công tác bảo đảm an toàn giao thông cần phải được các ngành, các địa phương quan tâm triển khai quyết liệt và phải có giải pháp đồng bộ, hiệu quả nhằm hạn chế mạnh hơn nữa tình trạng tai nạn giao thông sau một thời gian giảm thiểu, đến quý I/2010 đã bắt đầu tăng trở lại.
    Những kết quả đạt được trong quý I/2010 cho thấy tình hình kinh tế-xã hội nước ta tiếp tục phát triển theo xu hướng tích cực, chứng tỏ những giải pháp đề ra từ đầu năm phù hợp và đã đi vào thực tế, bước đầu phát huy tác dụng tốt. Theo đà thắng lợi đó, cần tiếp tục triển khai tích cực, kịp thời các Nghị quyết của Đảng, Nhà nước và những giải pháp kiến nghị nêu trên; cùng với việc phát huy tốt kinh nghiệm thành công trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và kết quả thu được của nền kinh tế nước ta năm 2009 và quý I/2010, chắc chắn chúng ta sẽ hoàn thành Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010, tạo đà phát triển với tốc độ cao và bền vững trong những năm tiếp theo.

    TỔNG CỤC THỐNG KÊ
  6. thachanhisc

    thachanhisc Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    29/03/2010
    Đã được thích:
    0
    Coi trong phát triển thị trường tiêu dùng nội địa


    Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu 2008 đã buộc người ta nhìn nhận lại về sự thiên lệch thái quá của mô hình kinh tế chủ yếu dựa vào xuất khẩu này. Có vẻ như sự phát triển của kinh tế châu Á dựa trên năng lực xuất khẩu đã đạt mức giới hạn và cần tìm ra động lực phát triển mới cho các nước. Giờ đây, các chuyên gia kinh tế đang hướng đến một nguồn nội lực mà bất kỳ quốc gia nào cũng có, nhưng phần nhiều đều bị bỏ quên. Đó chính là thị trường tiêu dùng nội địa. Nhiều ý kiến cho rằng chiến lược quan trọng bậc nhất sau giai đoạn khủng hoảng là xây dựng một chiến lược thương mại mới trên nền tảng cân đối giữa thị trường nội địa và bên ngoài. Đây được xem là một hướng đi khôn ngoan, nhất là trong bối cảnh thương mại toàn cầu sụt giảm.
    Thị trường nội địa bao gồm mạng lưới bán buôn và bán lẻ, hệ thống này ngày càng phát triển và đa dạng do có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế bao gồm: các doanh nghiệp; các tập đoàn; các hiệp hội; các công ty đa quốc gia; hệ thống các cửa hàng bán lẻ, siêu thị, các trung tâm thương mại; người tiêu dùng,… Thị trường nội địa giữ vai trò liên kết giữa nhà sản xuất và tiêu dùng, nó tác động trực tiếp đến lợi nhuận của các nhà sản xuất và lợi ích của người tiêu dùng. Sự phát triển của thị trường nội địa làm cho quá trình chuyển dịch hàng hóa gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường, giúp cho nhà sản xuất có những điều chỉnh thích hợp. Việc xây dựng và phát triển thị trường nội địa đã và đang trở thành nhu cầu bức thiết trong việc ổn định kinh tế. Từ vai trò và ý nghĩa quan trọng đó, Đảng và Nhà nước đã xác định: “Phát triển thị trường nội địa là một giải pháp chiến lược hàng đầu hướng vào mục tiêu phát triển bền vững có tác động nhiều mặt đến thúc đầy sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của toàn dân, nâng cao mức sống và góp phần bảo đảm an sinh xã hội”. Trong thời gian qua, chủ trương phát triển thị trường trong nước để kích thích tiêu dùng nội địa đã được triển khai khá rộng lớn trên cả nước với sự chỉ đạo điều hành của nhiều bộ, ngành và các cấp từ trung ương đến địa phương, sự tham gia của các doanh nghiệp và sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân.
    MỤC LỤC
    I - Nhận thức mới trên thế giới và ở từng quốc gia về tầm quan trọng của thị trường tiêu dùng nội địa
    1. Trên thế giới, đặc biệt là trong và sau khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu
    2. Kinh nghiệm một số nước trong việc phát triển thị trường tiêu dùng nội địa
    2.1. Nhật Bản
    2.2. Hàn Quốc
    2.3. Trung Quốc
    II - Một số đặc điểm của thị trường nội địa Việt Nam
    1. Thực trạng phát triển của thị trường nội địa Việt Nam
    2. Cơ hội và thách thức trong việc phát triển thị trường nội địa Việt Nam
    2.1 Một số thuận lợi khi phát triển thị trường nội địa
    2.2 Một số hạn chế của thị trường nội địa
    III – Một số giải pháp phát triển thị trường tiêu dùng nội địa
    1. Tăng cung và nâng cao chất lượng cung, đáp ứng được yêu cầu của nhân dân, cạnh tranh được với hàng ngoại cả về chất lượng lẫn chủng loại, số lượng, giá cả, thuận tiện trong giao dịch
    2. Chuyến biến hợp lý về nhận thức, thái độ, thị hiếu tiêu dùng của các tầng lớp nhân dân
    3. Trách nhiệm của Nhà nước trong việc phát triển thị trường nội địa
    4. Trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc phát triển thị trường nội địa
    Nguồn: VNEP, tháng 05/2010
  7. thachanhisc

    thachanhisc Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    29/03/2010
    Đã được thích:
    0
    Kinh tế toàn cầu không đi xuống

    Trong báo cáo định kỳ hai lần mỗi năm, hôm 26.5, tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) dự báo nền kinh tế thế giới đang hướng tới mức phát triển 4,75% trong năm nay và sau này, vượt hơn mức phát triển trước suy thoái, phần lớn nhờ các thị trường đang nổi lên.
    Phát triển ở 30 nước công nghiệp hóa thành viên OECD dự kiến thấp hơn nhiều, chỉ 2,7%, nhưng vẫn cao hơn mức dự báo tháng 11 là 2,5%.



    Tuy nhiên, OECD dự báo các mức tăng trưởng tăng cao hơn mức dự kiến hồi tháng 11: nền kinh tế Mỹ tăng trưởng 3,2% năm 2010 và năm sau thay cho mức dự báo hồi tháng 11 là 2,5%, 16 nước khu vực đồng euro tăng trưởng 1,2% so với dự báo trước đây là 0,9% trong khi nền kinh tế Nhật là 3% thay vì 1,8%.
    Những con số này tương phản với bước phát triển tăng vọt ở các nền kinh tế đang nổi lên. Trong năm nay, Trung Quốc sẽ tăng trưởng hơn 11%, Ấn Độ 8,3% và Brazil 6,5%, và năm 2011, dự kiến Ấn Độ phát triển 8,5% trong khi Trung Quốc và Brazil sẽ chậm hơn, khoảng 9,7% và 5%, khi chính sách tiền tệ được thắt chặt để ngăn cơn sốt giá bất động sản và giữ lạm phát trong vòng kiểm soát.
    OECD cho rằng, “Sự phát triển mạnh, bền vững và cân bằng hơn có thể đạt được thông qua một sự kết hợp các chính sách kinh tế vĩ mô, tỉ giá hối đoái và cơ cấu” Những nỗ lực đáp ứng nhu cầu nội địa của Trung Quốc đã giúp giữ cho thặng dư mậu dịch không trở lại mức kỷ lục những năm 2006 và 2007, trước khủng hoảng tài chính.
  8. thachanhisc

    thachanhisc Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    29/03/2010
    Đã được thích:
    0
    Kiên định thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu năm 2010

    Với tình hình KT-XH 4 tháng đầu năm và từ đầu tháng 4 đến nay, dựa trên triển vọng phục hồi kinh tế trong và ngoài nước sắp tới, Chính phủ đề nghị tiếp tục kiên định các mục tiêu và chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch năm 2010 Quốc hội đã đề ra.
    Tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XII, thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã trình bày báo cáo của Chính phủ về “ Thực hiện đồng bộ các giải pháp để giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tiếp tục duy trì phục hồi tăng trưởng theo mục tiêu Quốc hội đã đề ra”.
    Vượt 17/25 chỉ tiêu năm 2009
    Tại kỳ họp thứ 6 cuối năm 2009, Chính phủ đã báo cáo về ước thực hiện kế hoạch triển KT-XH và ngân sách nhà nước năm 2009 trên cơ sở số liệu thực tế 9 tháng đầu năm và dự báo 3 tháng cuối năm 2009. Đến nay, qua số liệu thực tế cả năm, Chính phủ báo cáo bổ sung.
    Theo đó, đa số các chỉ tiêu lớn mà Quốc hội đề ra đã hoàn thành. Tăng trưởng GDP cả năm 2009 là 5,32% (cao hơn con số đã báo cáo tại kỳ họp thứ 6 của Quốc hội là 5,2%).
    Tổng thu ngân sách nhà nước vượt 13,4% so với dự toán và tăng khoảng 51,69 ngàn tỷ đồng so với số đã báo cáo tại kỳ họp thứ 6. Dư nợ Chính phủ và dư nợ quốc gia nằm trong giới hạn an toàn. Xuất khẩu cả năm đạt 57,1 tỷ USD, cũng cao hơn mức đã báo cáo Quốc hội tại kỳ họp trước. Lạm phát năm 2009 kìm giữ ở mức 6,52%. Tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn khoảng 11%.
    Tính chung, trong số 25 chỉ tiêu chủ yếu, có 17 chỉ tiêu đạt cao hơn mức đã trình Quốc hội, còn 8 chỉ tiêu không đạt kế hoạch đề ra.
    Chính phủ đánh giá tổng quát, năm 2009 là năm khó khăn nhất trong 10 năm gần đây nhưng nhờ nỗ lực chung của Đảng, Nhà nước, nhân dân và sự giám sát của Quốc hội, chúng ta đã vượt qua khó khăn thử thách, sớm ngăn chặn được đà suy giảm kinh tế, đạt tốc độ tăng trưởng khá, đẩy lùi và kiểm soát lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội.
    Tuy vậy, Chính phủ cũng thẳng thắn nhìn nhận, vẫn còn một số tồn tại và yếu kém cần tiếp tục khắc phục như chất lượng tăng trưởng thấp, kim ngạch xuất khẩu và thu hút FDI giảm. Cán cân thanh toán tổng thể bị thâm hụt, tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao trở lại…
    Chính phủ báo cáo Quốc hội về tình hình KT-XH những tháng đầu năm nay đã có những biến chuyển tích cực. Tăng trưởng GDP quý I/2010 đạt 5,83%, cao hơn cùng kỳ và cả năm 2009. Đáng chú ý, giá trị sản xuất công nghiệp quý I/2010 tăng 13,6%, gấp nhiều lần so với quý I năm ngoái (2,1%) và cao hơn kết hoạch năm đề ra (12%).
    Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 26,2% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu tăng 8,9% so với cùng kỳ.
    Công tác cải cách thủ tục hành chính đạt được kết quả tích cực với việc triển khai quyết liệt giai đoạn 2 Đề án 30. Sẽ có khoảng 81% các thủ tục hành chính hiện hành phải sửa đổi theo hướng thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm được hiệu quả, hiệu lực quản lý của Nhà nước.
    Tuy nhiên, trong những tháng qua, tình hình thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu gặp không ít khó khăn. Chẳng hạn, mới 4 tháng đầu năm, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,27% so với tháng 12/2009 (trong khi chỉ tiêu lạm phát cả năm 2010 là 7%), cao hơn so với cùng kỳ một số năm gần đây. Chính phủ đánh giá, lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát nhưng cho rằng, tình hình kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định.
    7 nhóm công tác trọng tâm
    Xuất phát từ những kết quả đã đạt được trong những tháng qua, nhất là từ đầu tháng 4 đến nay và triển vọng phục hồi kinh tế trong và ngoài nước sắp tới, Chính phủ đề nghị tiếp tục kiên định các mục tiêu và chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch cả năm 2010 mà Quốc hội đã đề ra.
    Một số chỉ tiêu chủ yếu Quốc hội đề ra năm 2010:
    - Tăng trưởng GDP 6,5 %
    - Lạm phát 7%
    - Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội bằng khoảng 41% GDP...
    - Tạo việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động
    - Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10%

    Để đạt được kết quả đó, trong công tác từ nay đế hết năm, Chính phủ tập trung vào 7 nhóm trọng tâm.
    Thứ nhất, nhiệm vụ hàng đầu là thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, góp phần phục hồi tăng trưởng kinh tế vững chắc.
    Thứ hai, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, đầu tư, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 6,5%.
    Thứ ba, triển khai mạnh mẽ Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 về nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
    Thứ tư, đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện giảm nghèo nhanh và bền vững.
    Thứ năm, tăng cường công tác quốc phòng, an ninh và đối ngoại, tạo môi trường hòa bình, hữu nghị, hợp tác phục vụ phát triển đất nước.
    Thứ sáu, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực điều hành.
    Thứ bảy, Chính phủ chỉ rõ, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền bảo đảm sự thống nhất về tư tưởng và hành động từ trung ương đến địa phương và tạo sự đồng thuận xã hội cao trong việc thực hiện các nhiệm vụ năm 2010.
    “Chính phủ tin tưởng rằng, với nỗ lực của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của toàn xã hội, huy động tối đa sức mạnh nội lực, tận dụng tốt nhất ngoại lực, chúng ta sẽ phấn đấu thực hiện thắng lợi những mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra”, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nêu cao quyết tâm của Chính phủ.


    Nguồn: Chinhphu.vn

  9. lethanh81

    lethanh81 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    25/05/2010
    Đã được thích:
    0
    Chuẩn, thanks bác [r2)][r2)][r2)]
  10. thachanhisc

    thachanhisc Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    29/03/2010
    Đã được thích:
    0
    Vĩ Mô Việt nam tốt thế sao lại vẫn giảm !!??? , tây lông sao vẫn múc đều ... ???!!!

Chia sẻ trang này