1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

May quá ông anh này đã trả được nợ, mừng rồi thị trường lại phi lên 520-550 điểm rồi

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by hieple, Dec 20, 2010.

Có 2739 người đang online, trong đó có 288 thành viên. 11:41 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 1)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. hanghot_hose

    hanghot_hose Thành viên mới

    Joined:
    Apr 13, 2010
    Likes Received:
    0
    haizzzz.......
  2. hieple

    hieple Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Dec 24, 2009
    Likes Received:
    29
    TRANG NHẤT :: KINH TẾ :: DOANH NGHIỆP
    THỨ HAI, 20/12/2010 11:35 GMT+7​

    Điều chỉnh của Moody’s không ảnh hưởng tới BIDV

    17/12/2010 | 12:26:00
    Từ khóa : BIDV, Moody’s, Hạ định hạng, Kinh doanh

    [​IMG]EMAIL[​IMG]PRINT[​IMG]SHARECỠ CHỮ A A A
    [​IMG]


    TIN MỚI NHẬN


    Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cho biết, ngày 15/12/2010, Tổ chức Xếp hạng tín nhiệm toàn cầu Moody’s Investors Service (Moody’s) đã công bố hạ xếp hạng một số ngân hàng của Việt Nam trong đó có BIDV.

    Công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm BIDV tại thời điểm này về cơ bản vẫn đạt trần xếp hạng quốc gia với triển vọng chung là ổn định, xếp hạng năng lực tài chính độc lập vẫn giữ nguyên ở mức E+, cụ thể: Xếp hạng tiền gửi nội tệ B1; xếp hạng tiền gửi ngoại tệ B2; xếp hạng nhà phát hành B1; triển vọng trong thời gian tới là ổn định.

    Moody’s đánh giá cao BIDV với thế mạnh là ngân hàng thương mại Nhà nước có quy mô tổng tài sản lớn thứ 2, chiếm 10,2% thị phần tính theo tổng tài sản toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đồng thời, Moody’s tin rằng khả năng hỗ trợ của Chính phủ với BIDV là rất cao.

    Một đại diện của BIDV khẳng định việc công bố kết quả xếp hạng của Moody’s không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của BIDV nói riêng và hệ thống ngân hàng nói chung.

    BIDV là Ngân hàng Việt Nam đầu tiên thuê Moody’s đánh giá xếp hạng trong hơn 5 năm qua. Ngoài Moody’s, BIDV cũng đã thuê Standard & Poor's xếp hạng BIDV từ năm 2010.

    Cùng với BIDV, Moody's cũng hạ xếp hạng tín nhiệm tiền gửi ngoại tệ từ mức B1 xuống B2 đối với 5 ngân hàng khác của Việt Nam, bao gồm: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn-Hà Nội (SHB), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế (VIB) và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương (Techcombank).

    Không bình luận về kết quả xếp hạng, đại diện một trong 6 ngân hàng giải thích rằng việc hạ định mức tín nhiệm các ngân hàng chủ yếu xuất phát từ việc hạ định mức tín nhiệm trái phiếu Chính phủ Việt Nam từ mức Ba3 xuống B1; liên quan đến rủi ro gia tăng về cán cân thanh toán, lạm phát tăng tốc và gánh nặng nợ nần tại Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin)./.


  3. toiyeuphunu1988

    toiyeuphunu1988 Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Jun 19, 2006
    Likes Received:
    18
  4. sieuthiotc

    sieuthiotc Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Dec 5, 2006
    Likes Received:
    10
    Họ hứa ... anh ấy hứa, 1 năm sau không trả thì xem thằng nào làm được gì ... kiện thì mất hết.
    (Trích đoạn "Chí phèo toàn tập").
  5. Vietnga79

    Vietnga79 Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Jun 16, 2001
    Likes Received:
    0
    tin tốt vinashin sẽ được tung ra nhưng là cơ hội để ra hàng
    nên tạm dừng mua nếu ko có ý định đầu tư dài hạn
    mua hôm nay có thể T4 về vẫn lãi nhưng nguy cơ đọng vốn đến tết âm khá cao
    có thể giữ một ít lướt lát cho vui cũng được
  6. hieple

    hieple Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Dec 24, 2009
    Likes Received:
    29
    Kinh tế-xã hội nước ta chín tháng năm 2010 diễn ra trong điều kiện một số nền kinh tế lớn hồi phục sau khủng hoảng, một số nền kinh tế mới nổi đạt mức tăng trưởng cao. Tuy nhiên, nhìn chung kinh tế thế giới chưa thực sự thoát khỏi khủng hoảng và còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi tác động đến kinh tế nước ta. Ở trong nước, thiên tai và dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi liên tiếp xảy ra, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống dân cư. Một số cân đối vĩ mô vẫn còn biểu hiện không ổn định. Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã kịp thời ban hành nhiều Nghị quyết, chính sách cùng các giải pháp và nhiệm vụ cụ thể, trong đó trọng tâm là Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2010 và Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2010 nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện tốt Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010.
    Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2010 - năm cuối cùng của kế hoạch 5 năm có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế-xã hội đã đề ra trong Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010 và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010 của cả nước nói chung và của từng địa phương nói riêng. Đồng thời đây cũng là năm cơ sở, đặt nền tảng cho việc xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2011-2020. Vì vậy ngay từ đầu năm, Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, các cấp, các địa phương thực hiện nghiêm và đồng bộ các giải pháp, nỗ lực vượt qua khó khăn, huy động hiệu quả các nguồn lực, tận dụng kịp thời và tối đa cơ hội, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh. Do đó kinh tế-xã hội cả nước chín tháng phát triển tương đối ổn định và theo xu hướng tích cực.
    KẾT QUẢ PHỤC HỒI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
    Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
    Tổng sản phẩm trong nước (GDP) chín tháng năm 2010 ước tính tăng 6,52% so với chín tháng năm 2009, trong đó quý I tăng 5,83%; quý II tăng 6,4% và quý III tăng 7,16%. Đây là mức tăng khá cao so với mức tăng 4,62% của cùng kỳ năm trước.
    Trong mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế chín tháng năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,89%, đóng góp 0,49 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,29%, đóng góp 3,02 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 7,24%, đóng góp 3,01 điểm phần trăm.
    Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
    Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chín tháng năm 2010 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm nông nghiệp tăng 4,4%; lâm nghiệp tăng 4,1%; thuỷ sản tăng 5,3%. Tình hình sản xuất cụ thể như sau :
    Nông nghiệp
    Tính đến trung tuần tháng 9/2010, cả nước đã gieo cấy được 1636 nghìn ha lúa mùa, bằng 97,1% cùng kỳ năm trước. Cùng với việc gieo cấy lúa mùa, tính đến 15/9/2010, các tỉnh phía Nam đã thu hoạch được 1756,7 nghìn ha lúa hè thu, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch được 1477,3 nghìn ha. Cũng đến thời điểm trên, cả nước đã gieo trồng được 953,8 nghìn ha ngô, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2009; 123,5 nghìn ha khoai lang, tăng 1,7%; 216 nghìn ha lạc, giảm 15,5%; 179,7 nghìn ha đậu tương, giảm 6,2% và 725,9 nghìn ha rau, đậu, tăng 9,1%.
    Chăn nuôi trâu, bò và gia cầm từ đầu năm tương đối ổn định do không bị ảnh hưởng nhiều của dịch bệnh. Tính đến giữa tháng 9/2010, đàn trâu cả nước có 2,9 triệu con, xấp xỉ cùng kỳ năm trước; đàn bò 6,2 triệu con, tăng nhẹ so với cùng kỳ; đàn gia cầm ước tính tăng 5-6%.Sản lượng thịt trâu, bò hơi xuất chuồng chín tháng ước tính tăng 3-4% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt gia cầm tăng trên 12%.
    Cũng đến thời điểm trên, đàn lợn cả nước có 27,1 triệu con, giảm 3% so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của dịch bệnh tai xanh. Tại các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, tổng số lợn mắc bệnh là trên 330 nghìn con, trong đó chết và tiêu hủy trên 194 nghìn con.
    Lâm nghiệp
    Sản xuất lâm nghiệp phát triển ổn định. Tính chung chín tháng năm 2010, diện tích rừng trồng tập trung cả nước ước tính đạt 164 nghìn ha, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 163,2 triệu cây, tăng 0,1%; diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh đạt 778 nghìn ha, tăng 4,9%; diện tích rừng được chăm sóc 331 nghìn ha, tăng 5,1%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2740,8 nghìn m3, tăng 6,2%. Trong chín tháng, cả nước có 7773,7 ha rừng bị thiệt hại, chủ yếu do hạn hán xảy ra đầu năm, trong đó diện tích rừng bị cháy 6718,3 ha; diện tích rừng bị phá 1055,4 ha.
    Thuỷ sản
    Sản lượng thủy sản chín tháng năm 2010 ước tính đạt 3794 nghìn tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 2871 nghìn tấn, tăng 4,5%; tôm đạt 412 nghìn tấn, tăng 6,4%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng chín tháng ước tính đạt 2013 nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2009. Khai thác thủy sản chín tháng đạt kết quả khá so với năm trước với ước tính 1781 nghìn tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển đạt 1640 nghìn tấn, tăng 5,2%.
    Sản xuất công nghiệp
    Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 9/2010 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2009, bao gồm khu vực Nhà nước tăng 9,1%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 12,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,4%.
    Trong giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp chín tháng năm nay, công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng lớn nhất (89,4%) về giá trị sản xuất và tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó nhiều sản phẩm chủ yếu có tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung của toàn ngành là: Khí hóa lỏng tăng 121,2%; sữa bột tăng 26,8%; giày thể thao tăng 25,2%; kính thủy tinh tăng 22,8%; bia tăng 21,6%; xe tải tăng 21,1%; sơn hóa học tăng 20,5%; quần áo người lớn tăng 20,2%; tủ lạnh, tủ đá tăng 19,9%; xi măng tăng 16,8%; xe máy tăng 16,4%.
    Ngành sản xuất, phân phối điện, ga, nước mặc dù chỉ chiếm 5,9% tổng giá trị nhưng có tốc độ tăng so với cùng kỳ 2009 cao nhất với 15,3%. Công nghiệp khai thác ước tính giảm 3,8% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do sản lượng dầu thô chỉ khai thác 11,1 triệu tấn, giảm 13,8% so với cùng kỳ năm trước; than sạch tăng thấp ở mức 1,4%; riêng khí đốt thiên nhiên tăng 19,1%.
    Hoạt động dịch vụ
    Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
    Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chín tháng năm 2010 ước tính tăng 25,4% so với cùng kỳ năm 2009, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 15,4%. Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chín tháng, kinh doanh thương nghiệp tăng 26,4% so với cùng kỳ năm trước; khách sạn nhà hàng tăng 21,8%; dịch vụ tăng 20,5%; du lịch tăng 37,4%.
    Vận tải hành khách và hàng hóa
    Vận tải hành khách chín tháng năm 2010 ước tính tăng 14,2% về vận chuyển và tăng 16,5% về luân chuyển so với cùng kỳ năm 2009, bao gồm: Vận tải đường bộ tăng 15% và tăng 13,6%; đường sông tăng 3,4% và tăng 3,1%; đường hàng không tăng 32,1% và tăng 30,6%; đường biển tăng 4,2% và tăng 5%; đường sắt tăng 6,1% và tăng 8,5%.
    Vận tải hàng hóa chín tháng năm 2010 ước tính tăng 12,2% về khối lượng vận chuyển và tăng 9,7% về khối lượng luân chuyển so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vận tải trong nước tăng 12,6% và tăng 10%; vận tải ngoài nước tăng 10,4% và tăng 8,6%. Tương tự, vận tải hàng hoá đường bộ tăng 13% và tăng 14,3%; đường sông tăng 5,1% và tăng 1,3%; đường biển tăng 22% và tăng 10,1%; đường sắt giảm 5,8% về khối lượng vận chuyển và xấp xỉ cùng kỳ năm trước về khối lượng luân chuyển.
    Bưu chính, viễn thông
    Số thuê bao điện thoại phát triển mới tính đến hết tháng 9/2010 là 32,9 triệu thuê bao, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó máy cố định đạt 754 nghìn thuê bao, giảm 34,6%; máy di động đạt 32,1 triệu thuê bao, tăng 5,7%. Số thuê bao điện thoại cả nước tính đến cuối tháng 9/2010 ước tính đạt 158,5 triệu thuê bao, tăng 40,4% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm 16,4 triệu thuê bao cố định, tăng 7,6% và 142,1 triệu thuê bao di động, tăng 45,5%.
    Số thuê bao internet trên cả nước tính đến hết tháng 9/2010 ước tính đạt 3,5 triệu thuê bao, tăng 28,8% so với cùng thời điểm năm trước. Số người sử dụng internet tính đến cuối tháng 9/2010 là 26,6 triệu người, tăng 21% so với cùng thời điểm năm trước. Tổng doanh thu thuần bưu chính, viễn thông chín tháng năm 2010 ước tính đạt 95,7 nghìn tỷ đồng, tăng 36,3% so với cùng kỳ năm trước.
    Khách quốc tế đến Việt Nam
    Khách quốc tế đến nước ta chín tháng năm 2010 ước tính đạt 3731,9 nghìn lượt người, tăng 34,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng tăng 43,3%; đến vì công việc tăng 39,8%; thăm thân nhân tăng 2%. Trong chín tháng năm nay, khách đến từ Trung Quốc tăng 89,2%; Hàn Quốc tăng 29,4%; Hoa Kỳ tăng 2,4%; Nhật Bản tăng 18,7%; Đài Loan tăng 20,7%; Ôx-trây-li-a tăng 27,9%; Cam-pu-chia tăng 92,2%; Thái Lan tăng 39,5%; Pháp tăng 12%; Ma-lai-xi-a tăng 23,1%.
    KẾT QUẢ ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG VÀ NGĂN CHẶN LẠM PHÁT CAO TRỞ LẠI
    Đầu tư phát triển
    Vốn đầu tư toàn xã hội theo giá thực tế thực hiện chín tháng năm 2010 ước tính đạt 602,8 nghìn tỷ đồng, tăng 19,8% so với cùng kỳ năm 2009, bao gồm: Khu vực Nhà nước chiếm 37,6% tổng vốn và tăng 30,2%; khu vực ngoài Nhà nước chiếm 36,8% và tăng 17%;khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 25,6% và tăng 10,7%. Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước thực hiện chín tháng, vốn từ ngân sách Nhà nước ước tính đạt 106,1 nghìn tỷ đồng, bằng 82,7% kế hoạch năm.
    Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 20/9/2010 đạt 12,2 tỷ USD, bằng 87,3% cùng kỳ năm 2009, bao gồm: Vốn đăng ký của 720 dự án được cấp phép mới đạt 11,4 tỷ USD, giảm 13,1% về số dự án và tăng 37,3% về số vốn so với cùng kỳ năm trước; vốn đăng ký bổ sung của 153 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước với 783 triệu USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện chín tháng năm 2010 ước tính đạt 8 tỷ USD, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2009. Trong các lĩnh vực có vốn đầu tư nước ngoài chín tháng năm nay, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 30,2% tổng vốn đăng ký; lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa chiếm 24,1%; kinh doanh bất động sản chiếm 22,6%.
    Trong số 48 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam chín tháng năm nay, Hà Lan là nhà đầu tư lớn nhất với 2220,2 triệu USD; tiếp đến là Hàn Quốc 1840,1 triệu USD; Hoa Kỳ 1792,2 triệu USD; Nhật Bản 1457,6 triệu USD; Đài Loan 1029,6 triệu USD; quần đảo Virgin thuộc Anh 672,5 triệu USD; Tây Ấn thuộc Anh 475,9 triệu USD.
    Trong chín tháng năm 2010, tổng trị giá vốn ODA được ký thông qua các Hiệp định với các nhà tài trợ đạt 2209 triệu USD, bao gồm vốn vay đạt 2108 triệu USD; vốn viện trợ không hoàn lại đạt 101 triệu USD. Giải ngân vốn ODA chín tháng ước tính đạt 1920 triệu USD, bằng 79% kế hoạch năm và tăng 11% so với cùng kỳ năm 2009.
    Thu chi ngân sách Nhà nước
    Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/9/2010 ước tính bằng 78,2% dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 77,2%; thu từ dầu thô bằng 66,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 89,8%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 77% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 68,8%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước bằng 71,3%; thuế thu nhập cá nhân bằng 85,9%; thu phí xăng dầu bằng 75%; thu phí, lệ phí bằng 66,9%.
    Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/9/2010 ước tính bằng 69,7% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 69,6%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể bằng 70,8%; chi trả nợ và viện trợ bằng 79%.
    Cân đối thương mại
    Xuất khẩu hàng hóa
    Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 9/2010 ước tính giảm 11% so với tháng trước và tăng 32,2% so với cùng kỳ năm 2009. Tính chung chín tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 51,5 tỷ USD, tăng 23,2% so với cùng kỳ năm trước (Nếu loại trừ xuất khẩu vàng và các sản phẩm vàng thì tăng 24,6%), bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 24,2 tỷ USD, tăng 19,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cả dầu thô) đạt 27,3 tỷ USD, tăng 26,5%.
    Trong chín tháng năm 2010, kim ngạch xuất khẩu nhiều mặt hàng chủ lực tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Hàng dệt may đạt kim ngạch lớn nhất với 8 tỷ USD, tăng 20,6%; giày dép đạt 3,6 tỷ USD, tăng 23,1%; thủy sản 3,4 tỷ USD, tăng 13%; gạo 2,6 tỷ USD, tăng 15,2%; hàng điện tử máy tính 2,5 tỷ USD, tăng 28,2%; gỗ và sản phẩm gỗ 2,4 tỷ USD, tăng 36,4%; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng 2,1 tỷ USD, tăng 55,2%; cao su 1,4 tỷ USD, tăng 95,6%. Tuy nhiên, một số mặt hàng giảm so với cùng kỳ năm trước là: Dầu thô đạt 3,7 tỷ USD, giảm 22,2% (lượng giảm 44,3%); cà phê đạt 1,3 tỷ USD, giảm 1,6%; sắn và sản phẩm của sắn đạt 384 triệu USD, giảm 19,1% (lượng giảm 54,1%).
    Tỷ trọng kim ngạch hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 40,6% chín tháng năm 2009 lên 43% chín tháng năm 2010; nhóm hàng nông, lâm sản giảm từ 16,7% xuống 15,8%; nhóm hàng thủy sản giảm từ 7,3% xuống 6,7%; vàng và các sản phẩm vàng giảm từ 6,4% xuống 5,4%; nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản không biến động nhiều, từ 29% lên 29,1%.
    Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch tám tháng năm 2010 ước tính đạt 9,1 tỷ USD, tăng 25,7% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là EU đạt 6,9 tỷ USD, tăng 12,5%; ASEAN đạt 6,8 tỷ USD, tăng 19,7%; Nhật Bản đạt 4,8 tỷ USD, tăng 24,4%; Trung Quốc đạt 4,1 tỷ USD, tăng 46,8%; Hàn Quốc đạt 1,7 tỷ USD, tăng 31,5%.
    Nhập khẩu hàng hóa
    Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 9/2010 ước tính giảm 1,4% so với tháng trước và tăng 8,2%so với cùng kỳ năm 2009. Tính chung chín tháng, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 60 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 34,4 tỷ USD, tăng 11,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 25,7 tỷ USD, tăng 42,4%.
    Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu chín tháng năm 2010 của một số mặt hàng chủ yếu phục vụ cho sản xuất vẫn giữ mức tăng cao so với cùng kỳ năm 2009 như: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 11,6%; xăng dầu tăng 4%; sắt thép tăng 11,2%; vải tăng 26%; điện tử máy tính và linh kiện tăng 30,6%; chất dẻo tăng 36% (lượng tăng 8,6%); nguyên phụ liệu dệt may, giày dép tăng 38,3%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu tăng 19,4%. Nhập khẩu ôtô nguyên chiếc giảm 12,5% so với cùng kỳ năm 2009 (lượng giảm 24,9%).
    Trong tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu, tỷ trọng nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng giảm từ 9,3% chín tháng năm 2009 xuống 8,4% chín tháng năm 2010; nhóm tư liệu sản xuất tăng từ 90,5% lên 91,1%, trong đó máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải và dụng cụ, phụ tùng giảm từ 30% xuống 29,5%, nguyên nhiên vật liệu tăng từ 60,5% lên 61,5%; nhóm vàng và các sản phẩm vàng tăng từ 0,2% lên 0,6%.
    Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu tám tháng năm 2010 từ Trung Quốc tăng 29%; từ ASEAN tăng 27,7%; từ Hàn Quốc tăng 40,3%; từ Nhật Bản tăng 23,2%; từ EU tăng 17,3%; từ Đài Loan tăng 10,4%.
    Nhập siêu hàng hoá tháng 9/2010 ước tính 1,05 tỷ USD. Nhập siêu hàng hóa chín tháng là 8,6 tỷ USD, tăng 19,8% so với cùng kỳ năm 2009 và bằng 16,7% tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu, trong đó chủ yếu nhập siêu từ thị trường Trung Quốc với trên 8,4 tỷ USD. Nếu không tính xuất khẩu vàng và sản phẩm của vàng thì nhập siêu chín tháng năm nay là 11,4 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước và bằng 23,3% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu.
    Kết quả ngăn ngừa lạm phát cao trở lại
    Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2010 tăng 1,31% so với tháng trước. Đây là mức tăng cao nhất trong sáu tháng qua kể từ tháng 3/2010 với mức tăng trên 1%. Nguyên nhân chủ yếu tác động đến chỉ số giá tiêu dùng tháng Chín tăng cao là do thực hiện lộ trình tăng học phí từ năm học 2010-2011, yếu tố này đóng góp 0,68% vào mức tăng chung của chỉ số giá tiêu dùng cả nước.
    Chỉ số giá tháng Chín năm 2010 của nhóm giáo dục tăng cao nhất với 12,02%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,08%; giao thông tăng 0,91%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,79% (lương thực tăng 2,32%; thực phẩm tăng 0,39%); văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,48%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,44%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,35%; hai nhóm may mặc, mũ nón, giày dép và thiết bị và đồ dùng gia đình đều tăng 0,34%. Riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,07%. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2010 so với tháng 12/2009 tăng 6,46%; so với cùng kỳ năm trước tăng 8,92%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân chín tháng năm nay tăng 8,64% so với bình quân chín tháng năm 2009.
    KẾT QUẢ ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI, PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC, Y TẾ, VĂN HOÁ VÀ CÁC LĨNH VỰC XÃ HỘI KHÁC
    Dân số, lao động, việc làm
    Dân số trung bình cả nước năm 2010 ước tính là 86,97 triệu người, trong đó nữ là 43,98 triệu người, chiếm 50,6%; nam là 42,99 triệu người, chiếm 49,4%; dân số thành thị là 26,02 triệu người, chiếm 29,9%; dân số nông thôn là 60,95 triệu người, chiếm 70,1%.
    Theo kết quả điều tra lao động và việc làm, tại thời điểm 01/4/2010 cả nước có 77,3% người từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động. Tỷ trọng lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật (Hiện nay Tổng cục Thống kê sử dụng khái niệm "Lao động đã qua đào tạo" là những người đã được cơ quan có thẩm quyền cấp bằng hoặc chứng chỉ nghề, trong khi "Chiến lược Dân số" lại tính cả những người tuy chưa qua trường lớp đào tạo nào nhưng tự trưởng thành thông qua tự học hoặc kèm cặp tay nghề) là 14,6%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi là 4,31%, trong đó khu vực thành thị là 1,95%; khu vực nông thôn là 5,24%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 2,88%, trong đó khu vực thành thị là 4,43%; khu vực nông thôn là 2,27%.
    Đời sống dân cư
    Tính chung chín tháng năm 2010, cả nước có 688,4 nghìn lượt hộ với 2653,9 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói, tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung; Tây Nguyên. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành và địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 36,4 nghìn tấn lương thực và gần 12 tỷ đồng. Tổng số tiền và hiện vật hỗ trợ các đối tượng chính sách vào dịp Tết nguyên đán Canh Dần 2010 khoảng 885 tỷ đồng. Theo báo cáo của 31 tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương, đã có trên 26 nghìn căn nhà xây mới được bàn giao. Đời sống của cán bộ công nhân viên chức và người làm công ăn lương cũng được cải thiện nhờ việc tăng mức lương tối thiểu từ 650 nghìn đồng/tháng lên 730 nghìn đồng/tháng.
    Đặc biệt chương trình tín dụng đối với học sinh, sinh viên tiếp tục được triển khai hiệu quả, góp phần hỗ trợ các gia đình nghèo, gia đình khó khăn có con em đang theo học tại các trường. Tính đến tháng 7/2010 đã có 1,9 triệu học sinh, sinh viên được vay vốn với tổng dư nợ là 23,7 nghìn tỷ đồng, trong đó 786,7 nghìn sinh viên đại học được vay với dư nợ 10,4 nghìn tỷđồng; 584,2 nghìn sinh viên cao đẳng được vay với dư nợ gần 7,4 nghìn tỷ đồng.
    Giáo dục, đào tạo
    Theo báo cáo của các địa phương, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông cả nước năm học 2009-2010 là 92,6%; tốt nghiệp bổ túc trung học là 66,4%, tăng so với các tỷ lệ tương ứng 83,8% và 39,9% của năm học 2008-2009. Tính đến tháng 9/2010, cả nước có 52/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
    Năm học 2009-2010, cả nước có 294 trường phổ thông dân tộc nội trú (tăng 9 trường so với năm học trước) với khoảng 70 nghìn học sinh được hưởng học bổng chính sách; 1736 trường phổ thông dân tộc bán trú với 138,5nghìn học sinh đang theo học.
    Theo số liệu sơ bộ đầu năm học 2010-2011, cả nước có 622 nghìn trẻ em gửi nhà trẻ, tăng 7,2% so với năm học trước; 3020 nghìn trẻ em học mẫu giáo, tăng 3,8%; 7030 nghìn học sinh tiểu học, tăng 1,8%; 5280 nghìn học sinh trung học cơ sở, tăng 1,3% và 2900 nghìn học sinh trung học phổ thông, tăng 1%.
    Tổng số thí sinh dự thi đại học năm học 2010-2011của cả ba đợt là 1589 nghìn người, tăng 7,2% so với năm học trước; số học sinh tuyển mới cao đẳng, đại học hệ chính quy đạt 547 nghìn học sinh. Trong khối các trường đại học, cao đẳng thuộc hệ chính quy tuyển sinh năm nay, có 331 trường tổ chức thi và 133 trường không tổ chức thi. Số học sinh học nghề được tuyển mới tính đến tháng 9/2010 ước tính đạt 611,6 nghìn lượt người.
    Y tế và chăm sóc sức khỏe
    Trong chín tháng năm 2010, cả nước có 59,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (44 trường hợp tử vong), giảm 4,3% so với cùng kỳ năm trước; 28,7 nghìn trường hợp mắc sốt rét (7 trường hợp tử vong), giảm 5%; 4,7 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút, giảm 6,2%; 578 trường hợp viêm não vi rút (17 trường hợp tử vong), giảm 17,4%; 769 trường hợp mắc bệnh thương hàn, giảm 27,9% và 162 trường hợp viêm màng não do mô cầu, giảm 30,2%.
    Số trường hợp nhiễm HIV/AIDS được phát hiện tại các địa phương tính từ ca phát hiện đầu tiên đến tháng chín năm nay là 227,7 nghìn trường hợp, trong đó 90,4 nghìn người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 48,2 nghìn người đã tử vong do AIDS.
    Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm mặc dù được các cấp, các ngành chức năng quan tâm nhưng hiệu quả chưa cao. Tình trạng ngộ độc thực phẩm vẫn xảy ra ở một số địa phương. Trong chín tháng năm 2010, trên địa bàn cả nước xảy ra 109 vụ ngộ độc thực phẩm làm 4,1 nghìn trường hợp bị ngộ độc, trong đó 37 người tử vong.
    Hoạt động văn hóa, thể thao
    Hướng về đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, nhiều công trình, dự án văn hóa được thực hiện bảo đảm tiến độ. Cùng với các hoạt động văn hóa sôi động, hoạt động thể dục, thể thao quần chúng cũng diễn ra sôi nổi tại nhiều tỉnh/thành phố trên cả nước. Nhiều đoàn thể thao quần chúng nước ta tham gia thi đấu ở nước ngoài đạt được thành tích rất đáng khích lệ với nhiều huy chương các loại.
    Trong hoạt động thể thao thành tích cao, từ đầu năm ngành Thể thao cũng đã tổ chức thành công 36 giải thể thao trong chương trình Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VI, 105 giải thể thao quốc gia, tham dự 90 giải thi đấu ở nước ngoài và đăng cai tổ chức 20 giải thể thao quốc tế. Tại các giải thi đấu quốc tế, đội tuyển Việt Nam đã giành được 286 huy chương các loại, bao gồm 116 huy chương vàng, 91 huy chương bạc và 79 huy chương đồng.
    Tai nạn giao thông
    Trong tháng 8/2010 trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1139 vụ tai nạn giao thông, làm chết 949 người và làm bị thương 825 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 12,7%, số người chết giảm 2% và số người bị thương tăng 40,6%. Tính chung tám tháng năm 2010, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 9109 vụ tai nạn giao thông, làm chết 7504 người và làm bị thương 6730 người. So với cùng kỳ năm 2009, số vụ tai nạn giao thông tăng 10,4%, số người chết giảm 2,4% và số người bị thương tăng 31,2%. Bình quân 1 ngày trong tám tháng năm 2010, cả nước xảy ra 38 vụ tai nạn giao thông, làm chết 31 người và làm bị thương 28 người.
    Thiệt hại do thiên tai gây ra
    Thiên tai xảy ra trong chín tháng năm 2010 đã làm 110 người chết và mất tích; hơn 1,5 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; gần 82 nghìn ngôi nhà bị ngập nước, hư hỏng; trên 18 nghìn ha lúa và hoa màu bị mất trắng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong chín tháng năm 2010 ước tính 1,8 nghìn tỷ đồng.
    Khái quát lại, kinh tế-xã hội nước ta chín tháng năm 2010 tuy gặp một số khó khăn nhưng nhìn chung phát triển ổn định và đạt được kết quả tích cực. Sản xuất công nghiệp, nông nghiệp duy trì ở mức tăng khá. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tuy chưa đạt được mức tăng như những năm trước nhưng đang được cải thiện cả về quy mô, cơ cấu vốn đăng ký và mức giải ngân thực tế. Một số chính sách kiểm soát hoạt động nhập khẩu đã bắt đầu phát huy tác dụng. Các chính sách an sinh xã hội được quan tâm thường xuyên, đời sống dân cư tiếp tục được cải thiện.
    Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thế giới những tháng tiếp theo còn nhiều biến động bất thường, thị trường giá cả trong và ngoài nước đang xuất hiện một số yếu tố bất lợi, để nền kinh tế tăng trưởng cao hơn và có hiệu quả kinh tế, các cấp, các ngành, các địa phương cần tập trung làm tốt một số vấn đề trọng tâm sau đây:
    Một là, tăng cường nâng cao năng lực công nghệ và năng lực quản lý của các doanh nghiệp trong nước để bảo đảm cạnh tranh hiệu quả với hàng hóa nhập khẩu và các đối thủ cạnh tranh toàn cầu, tiến tới không bị chi phối của doanh nghiệp nước ngoài. Bên cạnh đó, tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp, tạo động lực chủ yếu góp phần thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế.
    Hai là, đẩy nhanh quá trình phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, tạo điều kiện cần thiết cũng như bước đi quan trọng trong định hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Trước mắt cần đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ cho các lĩnh vực sản xuất như: Ô tô, xe máy, hàng may mặc, hàng điện tử, da giày, v.v…nhằm giảm giá thành sản phẩm. Để làm tốt vấn đề này, cần sớm có cơ chế và chính sách ưu đãicụ thể cho việc phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, từ ưu đãi phát triển thị trường đến ưu đãi về khoa học-công nghệ, hạ tầng cơ sở, đào tạo nguồn nhân lực và ưu đãi về thuế.
    Ba là, thực hiện đánh giá thường xuyên hiệu quả của các hoạt động đầu tư và sản xuất của các thành phần kinh tế để có những điều chỉnh hợp lý, tạo nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng mạnh và bền vững hơn. Kiểm soát chặt chẽ việc tạm ứng vốn nhằm tránh tình trạng tăng vốn tạm ứng không đi kèm khối lượng để tăng tỷ lệ vốn giải ngân. Tăng cường nâng cao năng lực quản lý đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư của khu vực nhà nước, theo đó phải rà soát lại các dự án đang thực hiện hoặc nằm trong quy hoạch để loại bỏ những dự án không đáp ứng yêu cầu. Đổi mới cách thức khuyến khích đầu tư xã hội, bảo đảm cân đối hơn giữa đầu tư cho xuất khẩu và đầu tư cho tiêu dùng nội địa; đồng thời cải thiện hơn nữa hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài.
    Bốn là, tiếp tục điều hành tốt thị trường tài chính và thị trường vốn để duy trì sự bình ổn. Kiểm soát hệ thống phân phối hàng hóa, không để tăng giá bất hợp lý, kiên quyết nghiêm trị hành vi nâng giá tùy tiện. Đảm bảo cân đối cung cầu những mặt hàng trọng yếu như xăng dầu, phân bón, sắt thép, giấy in, xi măng, gạo, dược phẩm, v.v. Các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm và tăng cường kiểm soát, giám sát thông tin, kiểm soát các thị trường chứng khoán, tín dụng, bất động sản, công ty tài chính, tín dụng, bảo hiểm, v.v.
    Năm là, chủ động xâm nhập thị trường xuất khẩu để tiếp tục đón đầu những cơ hội mới. Xây dựng kế hoạch bao gồm cả cơ chế, chính sách đến tổ chức sản xuất hàng hóa phù hợp với sức mua cả ở trong nước và nước ngoài. Chú trọng xây dựng thương hiệu quốc gia, đặc biệt là đối với những mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh như: Gạo, cà phê, hồ tiêu, cao su, v.v.
    Sáu là, tiếp tục thực hiện chiến lược thu mua, dự trữ, chế biến các sản phẩm nông, lâm, thủy sản chủ yếu. Chủ động phòng chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi; theo dõi sát diễn biến của dịch bệnh tai xanh trên lợn để kịp thời có phương án khống chế dịch hiệu quả. Đẩy mạnh chương trình nông thôn mới; phát triển nông nghiệp toàn diện, hiệu quả và bền vững. Ứng dụng rộng rãi khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất và chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm.

    ​
  7. vntienlen

    vntienlen Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Dec 24, 2009
    Likes Received:
    3
    Điểm số nhìn làm giề cho nó mỏi e ơi... kệ mịa nó đê... chọn chiến thuật và mã chơi đê..... Lên 520 àh? lên lên gần tới đó ai mua vào nữa? chạy hỉ???? đơn giản thía....
  8. DungVtx

    DungVtx Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Dec 23, 2005
    Likes Received:
    877
    [:D][:D][:D] răng trắng đẹp ko
  9. canhcutbeo

    canhcutbeo Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Mar 24, 2009
    Likes Received:
    0
    Em đứt roài :((
  10. abolatoi

    abolatoi Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Jan 6, 2010
    Likes Received:
    0
    Tiền trả nợ anh còn éo có nghĩa là đánh lên

Share This Page