1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Một câu hỏi rất lớn và bức xúc lúc này: Tại sao các ngân hàng đều công bố LN rất tốt Quý I trong bối

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi lehero, 26/04/2011.

Có 27565 người đang online, trong đó có 304 thành viên. 10:01 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 776 lượt đọc và 18 bài trả lời
  1. saomai789

    saomai789 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    22/08/2009
    Đã được thích:
    39
    Ôi những con đĩa. Chả trách DN cứ còm cõi
  2. tienkhom-Hanoi

    tienkhom-Hanoi Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    10/04/2011
    Đã được thích:
    0
    Hiện nay ngành "buôn tiền" là oke nhất đóa. ;)). Chả thế mà các công ty đua nhau in cp để có tiền đi buôn. Hết thời buôn BĐS, CK giờ tới thời buôn tiền. :))
  3. lehero

    lehero Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    21/02/2008
    Đã được thích:
    14
    Kinh tế gặp khó, ngân hàng vẫn lãi to

    [​IMG] [​IMG] Trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp đang vật lộn với khó khăn do giá cả đầu vào tăng cao, lãi suất ngân hàng “ngất ngưởng”, các ngân hàng vẫn tiếp tục đưa ra kế hoạch đạt lợi nhuận năm nay cao hơn năm ngoái.

    Những con số trong mơ
    Kết thúc năm 2010, nhiều ngân hàng vẫn đạt kế hoạch đã đề ra với mức lợi nhuận khổng lồ dù nền kinh tế Việt Nam vẫn có nhiều khó khăn. Hàng loạt ngân hàng thương mại (NHTM) đã công bố kết quả kinh doanh năm 2010 với mức tăng trưởng lợi nhuận khá cao từ 20 - 30% so với năm trước đó, nhất là những NHTM lớn.
    Chẳng hạn NHTM Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) đạt lợi nhuận trước thuế 2.426 tỉ đồng, tăng 28% so với năm 2009. NHTM Xuất nhập khẩu Việt Nam đạt lợi nhuận trước thuế 2.383 tỉ đồng, tăng 55% so với năm 2009; NHTM Việt Nam Thịnh Vượng (VIB) cũng đạt lợi nhuận trước thuế tăng hơn 72% so với năm 2009 và cao hơn 11,2% kế hoạch 1.057 tỷ đồng đề ra…
    Con số lợi nhuận và tỉ lệ tăng trưởng này luôn là điều mơ ước cho bất kỳ doanh nghiệp nào. Theo ước tính, tỉ lệ lợi nhuận ròng/vốn chủ sở hữu (ROE) của các doanh nghiệp đang niêm yết trên sàn chứng khoán năm 2010 đã giảm khá mạnh, thậm chí ở nhiều doanh nghiệp tỉ lệ này chỉ còn dưới 5%.
    Thế nhưng tỉ lệ ROE của các NHTM vẫn đứng ở mức cao từ 20-30%. Báo cáo của các NHTM cho thấy lợi nhuận đạt được chủ yếu vẫn đến từ hoạt động truyền thống là cho vay. Kế đến là lợi nhuận từ các hoạt động khác (bao gồm cả kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh vàng).
    Năm 2010, hoạt động từ đầu tư chứng khoán của các ngân hàng đều bị thua lỗ, tương tự như hoạt động tự doanh của nhiều công ty chứng khoán do thị trường khá ảm đạm. Trong khi đó, dù không thể hiện rõ nhưng nhiều NHTM lớn đã thu được mức lợi nhuận khổng lồ từ việc đầu tư trái phiếu Chính phủ và cho vay lại trên thị trường liên ngân hàng.
    Ví dụ khi NHNN bơm tiền qua thị trường mở và lãi suất tái cấp vốn chỉ 7% thì một số NHTM lớn nhanh tay thế chấp trái phiếu Chính phủ để vay vốn rồi cho ngân hàng nhỏ vay lại với lãi suất 10%-20%/năm. Đó là chưa kể các nguồn vốn giá rẻ như vay ngoại tệ lãi suất thấp, thanh toán xuất nhập khẩu, tiền thu chi ngân sách, tiền lương... đều được ưu tiên cho các ngân hàng có tên tuổi.
    Tiếp tục tăng trưởng tốt
    Thừa thắng xông lên, các NHTM tiếp tục đề ra kế hoạch tăng trưởng kinh doanh ấn tượng trong năm 2011 bất chấp tình hình khó khăn của thị trường tài chính tiền tệ. Sacombank đặt kế hoạch năm 2011 đạt lợi nhuận trước thuế 2.700 tỉ đồng, tăng 12% so với năm 2010.
    Với Eximbank, dù con số cuối cùng đang đợi đại hội cổ đông thông qua nhưng ngân hàng này dự kiến lợi nhuận sẽ tăng 26% so với năm 2011, đạt tối thiểu 3.000 tỉ đồng; NHTM Quân đội vẫn theo định hướng chung là tăng trưởng cho các chỉ tiêu từ 30-40% so với năm 2010 (năm 2010 ngân hàng này đạt lợi nhuận trước thuế 2.100 tỉ đồng):…
    Theo TS. Lê Thẩm Dương, Trưởng Khoa Quản trị kinh doanh Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM, trong điều kiện kinh tế khó khăn chung thì ROE của các NHTM cũng giảm đi so với trước đó, nhưng vẫn khá cao so với các doanh nghiệp thuộc ngành nghề khác. “Lợi thế của các NHTM cơ bản là do ngành ngân hàng vẫn độc quyền trong việc cung cấp nguồn vốn cho doanh nghiệp và nền kinh tế.
    Thị trường chứng khoán và những nguồn phi chính thức khác hiện chỉ mới đáp ứng được khoảng 3% nguồn vốn cho doanh nghiệp, phần còn lại chủ yếu vẫn từ NHTM. Bất kỳ hoạt động nào nếu là độc quyền thì vẫn chiếm ưu thế và đều có lợi nhuận cao”, TS. Lê Thẩm Dương khẳng định.
    Hướng lợi từ chính sách
    Ở một góc độ khác, ông Huỳnh Thế Du, Giảng viên Chương trình Kinh tế Fullbright nhận xét, các NHTM đã được hưởng lợi nhờ vào một số chính sách vĩ mô. Từ đó đẩy gánh nặng trở lại cho nền kinh tế và các doanh nghiệp khác. Đó là qui định trần lãi suất huy động giúp NHTM có điều kiện mua rẻ, bán đắt.
    Ví dụ hiện nay qui định trần lãi suất huy động ở mức 14%/năm nhưng đầu ra lại thả nổi. Chỉ một số ít khách hàng khi gửi số tiền lớn mới có thể thỏa thuận được với NHTM mức lãi suất cao hơn. Trong khi đó, với việc khan hiếm nguồn vốn, các NHTM cho doanh nghiệp vay với mức lãi suất cao hơn nhiều, lên đến 19-20%/năm.
    Đồng quan điểm trên, TS. Lê Thẩm Dương cũng cho rằng, việc áp dụng biện pháp hành chính cho lãi suất đầu vào nhưng không áp dụng cho đầu ra càng khiến các NHTM có điều kiện nâng cao tỉ suất biên lợi nhuận cho hoạt động tín dụng của mình (chênh lệch giữa lãi suất đầu vào và đầu ra).
    Bên cạnh đó, cơ chế trần tỉ giá USD cũng tạo điều kiện cho các NHTM kiếm được lợi nhuận với mức phí tùy ý quyết định khi doanh nghiệp cần giao dịch. Người bán chỉ được bán với giá qui định nhưng người mua phải chịu thêm phí cho ngân hàng (tương đương ở mức cao như tỉ giá của thị trường tự do). Nói chung mọi phí tổn đều do doanh nghiệp gánh chịu.
    TS. Lê Thẩm Dương nhấn mạnh: Trong chính sách siết chặt tín dụng với mức tăng trưởng dưới 20% cho năm 2011, các NHTM lớn sẽ tiếp tục có lợi thế còn các NHTM nhỏ sẽ gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt những NHTM đã thu được lợi nhuận lớn với mức dư nợ cho vay bất động sản và chứng khoán khá nhiều trong năm qua sẽ phải điều chỉnh kế hoạch kinh doanh và chỉ tiêu lợi nhuận trong năm 2011.
    Theo chỉ thị của NHNN, năm nay các NHTM phải khống chế mức tăng trưởng tín dụng ở mức dưới 20%. Dự kiến tín dụng cả năm của cả hệ thống sẽ tăng khoảng 460.000 tỷ đồng. Tăng trưởng tín dụng không cao đồng nghĩa với việc các NHTM phải siết chặt việc cho vay vốn, nhưng cho vay số lượng ít với giá cao.
    Do đó lợi nhuận của các NHTM sẽ ít bị ảnh hưởng. Bởi vậy, theo TS. Lê Thẩm Dương, câu chuyện chia sẻ khó khăn của các NHTM với doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam đang được đặt ra là đúng. Các cơ quan quản lý nhà nước phải làm thế nào để các chính sách kinh tế vĩ mô phát huy hiệu quả công bằng cho tất cả mọi thành phần trong nền kinh tế, hơn là tạo lợi thế riêng biệt cho ngành ngân hàng.
    Về phía các ngân hàng, thiết nghĩ họ cũng cần phải sẻ chia khó khăn với các doanh nghiệp. Chỉ khi đó, cả doanh nghiệp và ngân hàng mới cùng phát triển bền vững được.
    Trung Trực​
    DDDN​

  4. quytv42

    quytv42 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    07/05/2007
    Đã được thích:
    0
    Đơn giản vì hay kề dao vào cổ người khác thu tiền!
  5. anhhungxadieu15

    anhhungxadieu15 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    21/02/2011
    Đã được thích:
    38
    dcm thằng giàu
  6. close2u_hn

    close2u_hn Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    16/10/2006
    Đã được thích:
    0
    NH nào cũng ôm 1 đống US$, vàng, khi nâng xong tỷ giá là chốt lời, hỏi sao ko lãi khủng. Các CS của NHNN hiện nay nuôi béo mấy NHTM, bóp chết các DNSXKD, những đơn vị trực tiếp làm ra giá trị cho nền kinh tế, làm hàng xuất khẩu, tạo ra công ăn việc làm
  7. lehero

    lehero Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    21/02/2008
    Đã được thích:
    14
    http://ndhmoney.vn/web/guest/dau-tu...35?_journal_content_INSTANCE_1oY8_version=1.0

    Hướng đi của dòng vốn tín dụng

    Trả lời cho câu hỏi “Dòng vốn tín dụng Việt Nam thời gian qua chảy vào đâu?” thật sự không dễ.
    [​IMG]

    Bởi lẽ vấn đề này, ngoại trừ bản thân các ngân hàng có thể biết chính xác dòng tiền ra từ ngân hàng của họ, còn lại chỉ có thể là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) dựa trên số liệu tổng hợp của cả hệ thống, có thể biết được xu hướng này.

    Tuy nhiên, số liệu mà NHNN có được chưa chắc đã chính xác do các tổ chức tín dụng đã “xử lý kỹ thuật” trước khi báo cáo cho cơ quan quản lý. Bài viết này mang lại một vài lý giải có thể giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn thực tế về hướng đi của dòng vốn tín dụng ngân hàng Việt Nam, từ đó có chính sách hợp lý trong việc kiềm chế lạm phát, bởi “Lạm phát luôn luôn và bao giờ cũng là hiện tượng tiền tệ” (Milton Friedman).

    Ai đã giúp các ngân hàng tăng vốn?

    Theo thống kê, trong giai đoạn 2008-2010, tổng số vốn điều lệ tăng thêm của 37 ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Việt Nam khoảng 97.000 tỉ đồng. Đây là con số quá lớn trong một thời gian rất ngắn. Ai có thể trả lời con số khổng lồ này các cổ đông đã lấy từ đâu để góp vốn vào các ngân hàng? Ngày 7-6-2007, NHNN đã ban hành Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế cấp giấy phép thành lập và hoạt động NHTMCP, trong đó có quy định “không được sử dụng tiền vay dưới bất kỳ hình thức nào để góp vốn thành lập ngân hàng”.

    Quy định này cũng được kế thừa trong Thông tư số 09/2010/TT-NHNN (thay thế cho Quyết định 24/2007/QĐ-NHNN) khi quy định: “Các tổ chức, cá nhân không được dùng vốn ủy thác, vốn vay của các tổ chức, cá nhân khác để góp vốn và hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của nguồn vốn góp”. Có quy định nhưng NHNN không có cách nào kiểm tra, xác thực mà giao cho các cổ đông “hoàn toàn chịu trách nhiệm”. Đó là lý do khiến điều khoản này được xem là một trong những quy định mang tính “kêu gọi lòng tự giác nhất” mà NHNN đã từng ban hành.

    Từ 2008 đến nay, mức lãi suất tiết kiệm tiền đồng hiếm khi xuống dưới 10%/năm (trừ một thời gian của năm 2009) trong khi giai đoạn này không nhiều ngân hàng trả cổ tức trên 10%. Bên cạnh đó, có đến hai phần ba cổ phiếu của các NHTMCP giao dịch dưới mệnh giá, thậm chí không có giao dịch. Như vậy, các cổ đông góp vốn vào các ngân hàng vì mục đích gì? Nếu chỉ nhìn bên ngoài mà không biết bản chất, câu trả lời thật sự bế tắc!

    Thực tế, rất nhiều cổ đông nhỏ đã từ bỏ vai trò làm chủ của mình ở các ngân hàng, ngay cả đối với ngân hàng họ đang công tác. Trên website của mình, một ngân hàng vừa hoàn thành việc tăng vốn lên 3.100 tỉ đồng từ mức 1.000 tỉ đồng của năm trước cho biết chỉ có 66 cổ đông (trong tổng số trên 1.300 cổ đông) tham gia góp vốn, còn lại là các nhà đầu tư mới.

    Tuy vậy, tất cả các ngân hàng đã vượt qua mốc 1.000 tỉ đồng của năm 2008 và chắc chắn cũng sẽ cán đích thắng lợi mốc 3.000 tỉ đồng của năm nay, chưa nói nhiều ngân hàng tỏ ra khó khăn và chỉ kịp tăng đủ vốn pháp định vào những ngày cuối cùng của năm 2010 đã ngay lập tức trình đại hội đồng cổ đông xin tăng vốn lên 4.000-5.000 tỉ đồng trong năm nay. Liệu điều đó có bình thường?

    Nguồn tiền huy động của nhiều ngân hàng thực tế đã không đến được với nền kinh tế, để phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra sản phẩm và giá trị tăng thêm cho xã hội. Trái lại, ngân hàng A mang tiền sang gửi tại ngân hàng B và sử dụng làm tài sản bảo đảm cho cổ đông của mình vay vốn để góp vào vốn điều lệ của mình. Thậm chí, không cần phải đi đường vòng như vậy, các ngân hàng có thể giải ngân trực tiếp cho khách hàng C và đồng tiền này sẽ được chuyển cho cổ đông D để góp vào vốn điều lệ của chính ngân hàng.

    Đó là câu trả lời cho một phần câu hỏi vì sao dư nợ tín dụng của hệ thống không ngừng tăng lên, vốn điều lệ của hệ thống vẫn từng bước đáp ứng các yêu cầu của cơ quan quản lý (dù những quy định này khi mới ban hành, nhiều người cho rằng quá sức của nhiều ngân hàng), năng lực tài chính đã được “nâng cao” nhưng thanh khoản vẫn cứ thiếu hụt triền miên, cuộc đua lãi suất cứ chực bùng lên và NHNN vẫn phải vất vả chặn đường này, bịt đường kia.

    Tín dụng vẫn không ngừng vào bất động sản

    Cơn sốt bất động sản cuối năm 2007 đầu 2008 đã có nhiều phân tích về nguyên nhân, tựu trung lại đều đồng ý rằng tác nhân chính là do tín dụng của hệ thống ngân hàng đã tăng quá cao (năm 2007 tăng gần 54%). Doanh nghiệp đổ xô xây chung cư, người người đi buôn nhà đất.

    Từ đó đến nay, dù thị trường chưa trở lại thời sốt nóng nhưng thực tế giá nhà đất không giảm là bao và giá của nhiều phân khúc thị trường vẫn không ngừng tăng lên. Nhà phố ở các quận nội thành TPHCM và đất nền ở các vùng ven vẫn liên tục thiết lập các mặt bằng giá mới. So với thời điểm năm 2007, tốc độ sinh sôi của các cao ốc không hề giảm trong hai năm gần đây. Điều này chứng tỏ dòng tiền vẫn tiếp tục đổ vào thị trường này.

    Sau khi Chỉ thị 01/CT-NHNN được ban hành, NHNN cho biết hiện dư nợ phi sản xuất có ngân hàng lên đến 59% tổng dư nợ. Trong số này chắc chắn dư nợ bất động sản và tiêu dùng (mà phần lớn cũng là mua bất động sản) chiếm đa số bởi hai năm qua không nhiều ngân hàng còn giải ngân cho khách hàng mua chứng khoán. Đó là lý do thị trường bất động sản vẫn ấm, dù được cho là nguội lạnh ở phân khúc thị trường căn hộ cao cấp.

    Với mức lãi suất giải ngân hiện nay, dao động thực tế trong khoảng 18-22%, được xem là quá sức chịu đựng của các ngành sản xuất kinh doanh. Tuy vậy, mức tăng trưởng tín dụng quí 1-2011 vẫn ở mức cao, lên đến 4,81%. Nhiều ngân hàng dù mạng lưới không lớn, dư nợ không cao vậy mà mức giải ngân hàng tháng lên đến cả ngàn tỉ đồng. Một phần rất lớn trong số này được cho là của các ông bà chủ, và thực tế các “đại gia ngân hàng” này không ai không làm bất động sản.

    Giật mình với ICOR

    Bên cạnh dòng vốn chạy lòng vòng và vào bất động sản, tín dụng cho sản xuất kinh doanh vẫn là ưu tiên của hệ thống ngân hàng. Tuy vậy, hiệu suất sử dụng vốn của các doanh nghiệp Việt Nam hiện quá thấp. Ngày 7-3-2008, báo điện tử Người đại biểu nhân dân dẫn thông tin từ Viện Khoa học tài chính, Bộ Tài chính cho rằng hệ số ICOR năm này bình quân cả nước là 7-8, còn khu vực nhà nước là 12. Đây đã là con số quá cao so với mức trung bình 3-4 của khu vực.

    Thế nhưng, Asia Times online ngày 12-4-2011 có bài viết về Việt Nam (Vietnam changes course) dẫn một báo cáo cho rằng ICOR bình quân của Việt Nam giai đoạn 2001-2009 là 8,78 và của riêng khu vực nhà nước là 17,55. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp nhà nước bình quân phải đầu tư 17,55 đồng mới tạo ra được một đồng tăng thêm. Một sự lãng phí quá lớn.

    Tính đến cuối tháng 12-2010, dư nợ của năm ngân hàng thương mại nhà nước (Agribank, MHB, Vietinbank, BIDV và Vietcombank) là 1.097.302 tỉ đồng, chiếm 58% dư nợ của cả hệ thống ngân hàng thương mại trong nước; riêng dư nợ của Agribank đã chiếm 53% dư nợ của 37 NHTMCP còn lại. Những con số này đã nói lên tất cả, rằng tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam có nguồn gốc từ đâu.

    Các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn có thói quen ưu ái các doanh nghiệp quốc doanh, cho vay theo chỉ định, cho vay nông nghiệp nông thôn, cho vay chương trình đánh bắt xa bờ hay chương trình 1 triệu tấn đường… mà kết quả thế nào ai cũng rõ. Năm 2011 này, với mức tăng trưởng dư nợ được giới hạn dưới 20% cho tất cả các ngân hàng thì không chỉ là lạm phát, mà nguy cơ tác động hất ra (crowding out) đối với các thành phần kinh tế dân doanh là không thể tránh khỏi.




    Theo Hoàng Bách - TBKTSG
  8. lehero

    lehero Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    21/02/2008
    Đã được thích:
    14
    Câu trả lời vẫn là các bác NH tham ăn quá. hihi.
    http://nguoiduatin.vn/giai-ma-con-sot-ngam-lai-suat-a4156.html

    Giải mã cơn “sốt ngầm” lãi suất

    03-05-2011 | 16:00 (Nguoiduatin.vn) - Hiện nay Việt Nam đồng được các ngân hàng huy động cao nhất ở mức 14%/năm, nhưng thực tế, các ngân hàng thương mại đã phải huy động chui lên 15%/năm, thậm chí có nơi lên tới 17%/năm.

    Điều này dẫn đến lãi suất cho vay của ngân hàng bị đẩy lên một cách ồ ạt. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh vốn đang được nhà nước khuyến khích nhưng hiện nay đang gặp phải một trở ngại lớn đó là lãi suất quá cao. PV đã có cuộc trao đổi với ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia xung quanh vấn đề này.
    [​IMG]​
    Ông Lê Xuân Nghĩa​
    Lãi suất cho vay vừa được quy định trần ở mức 14%/năm. Nhiều người cho rằng đây là động thái để hạ lãi suất cho vay. Nhưng đến thời điểm này, lãi suất cho vay vẫn duy trì ở mức cao (trên 20%/năm). Theo ông, cần có những biện pháp gì để có thể sớm hạ lãi suất cho vay?
    Trần lãi suất tiền gửi thực ra là không có thực trên thực tế, mặc dù cũng có người cho rằng có vẫn còn hơn không. Có trần lãi suất tiền gửi cũng làm cho các ngân hàng thương mại muốn tăng trần lãi suất lên cũng ngại vì sợ bị kiểm tra.
    Nhưng cái chính là người ta không thể duy trì một mức lãi suất tiền gửi thấp như thế được vì còn phụ thuộc vào người gửi tiền chứ đâu chỉ phụ thuộc vào ngân hàng. Quan trọng hơn điều này làm cho việc phá rào trở nên nghiễm nhiên, làm cho kỷ cương và tính minh bạch bị giảm sút. Đặc biệt, các ngân hàng thương mại buộc phải có hai sổ sách để có thể hạch toán theo quy định và hạch toán theo thực tế. Đây là điều tối kỵ đối với các định chế tài chính.
    Nên quy định trần lãi suất cho vay thay vì là quy định trần lãi suất huy động. ông nghĩ sao về điều này?
    Tôi không đồng ý với việc quy định trần lãi suất. Nói chung nên bỏ trần lãi suất tiền gửi và kiên nhẫn chờ đợi một thời gian nữa cho lạm phát giảm xuống và chờ đợi các biện pháp khác của Chính phủ như cắt giảm chi tiêu công, thắt chặt tiền tệ phát huy tác động.
    Những biện pháp ấy phải có độ trễ mới vào cuộc sống được. Như vậy nó sẽ phát huy tác dụng vào khoảng tháng 5 trở đi, lúc đó lạm phát bắt đầu giảm thì mới có cơ hội để điều chỉnh lãi suất.
    Trong số 5 ngân hàng cổ phần có quy mô vốn lớn nhất tại Việt Nam hiện nay, ngân hàng thấp nhất cũng có lợi nhuận khoảng 10%. Còn lại phổ biến mức lãi 20-50%. Cá biệt có ngân hàng có mức tăng trưởng lợi nhuận đạt trên 70%. Mặc dù lãi suất tái cấp vốn vừa được nâng thêm 2% nhưng cũng vẫn là chênh lệch quá lớn nếu so sánh lãi suất tái cấp vốn (11%/năm) và lãi suất cho vay (18-20%/năm). Các ngân hàng có nên giảm lợi nhuận để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong thời điểm khó khăn này?
    Lợi nhuận của các ngân hàng không chỉ đến từ hoạt động tín dụng với phần thu từ chênh lệch giữa lãi suất huy động và cho vay. Lợi nhuận của các ngân hàng trong năm 2010 thấp hơn năm 2009, bình quân lãi ròng trên vốn tự có chỉ đạt khoảng 10,4%. Do vậy, khó có thể nói rằng ngân hàng huy động thấp nhưng cho các doanh nghiệp vay với lãi suất cao, nguồn lợi của ngân hàng có được là do nhiều hoạt động khác mang lại.
    [​IMG]​
    Không chỉ doanh nghiệp mà ngân hàng cũng khó khăn​
    Giá xăng, giá điện, tỷ giá và lãi suất đang là những yếu tố tạo sức ép cho các doanh nghiệp. ông đánh giá như thế nào về những khó khăn của các doanh nghiệp trong thời gian này?
    Đây là thời gian khó khăn của doanh nghiệp. Lãi suất cao như thế làm đầu tư suy giảm mạnh nhưng đây cũng là mục đích của chống lạm phát. Tăng lãi suất để kiềm chế đầu tư và tiêu dùng. Nhưng nếu lãi suất cao kéo dài thì sẽ xảy ra nhiều hiệu ứng.
    Thứ nhất, người dân sẽ đưa vào kinh doanh các dự án có mức độ mạo hiểm rất lớn, mới mong có được lãi suất cao mới chịu được lãi suất này. Như vậy nguy cơ nợ xấu trong tương lai là rất cao.
    Thêm nữa việc phân bổ nguồn lực trở nên không bình đẳng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp tư nhân sẽ không dám vay. Trong khi đó vốn sẽ chảy vào các khu vực doanh nghiệp nhà nước vì các doanh nghiệp này vay không phải thế chấp tài sản, tổng tài sản của họ là rất lớn nên sẽ chịu được rủi ro, lại có nhà nước làm hậu thuẫn nên vay cũng không cần ngần ngại gì nhiều.
    Mặc dù lãi suất cao nhưng vốn lại chảy về khu vực có rủi ro về nợ xấu rất lớn. Điều đó có thể dẫn đến rủi ro cho các ngân hàng vì nợ xấu tăng lên trong tương lai.
    Đã có lần ông phát biểu rằng: "Lãi suất ở Việt Nam cao nhất thế giới". Vì sao ở một đất nước đang phát triển như chúng ta lại có nền lãi suất cao đến vậy?
    Lãi suất cao như vậy chứng tỏ hai vấn đề: Mặc dù kinh tế Việt Nam phát triển nhưng lạm phát cũng như điều hành kinh tế của chúng ta trong thời gian qua còn có những vấn đề. Lạm phát có tính chất tâm lý rất lớn, người ta muốn nếu giữ tiền Việt Nam đồng thì lãi suất vừa phải bù đắp được sự mất giá của đồng tiền, vừa bù đắp được rủi ro của đồng tiền ấy.
    Vì thế lãi suất được đẩy lên rất cao. Bên cạnh đó, lãi suất cao là do tác động của một số yếu tố khác như thị trường chứng khoán đình trệ, thị trường bất động sản cũng có nhiều rủi ro, giá cả mà nhất là giá thực phẩm tăng cao làm cho thu nhập thực tế của người dân giảm sút và khả năng tiết kiệm của người dân cũng giảm. Tất cả những nguyên nhân đó làm cho lãi suất của Việt Nam hiện đang ở mức cao nhất thế giới.
    Lại Quỳnh​
  9. lehero

    lehero Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    21/02/2008
    Đã được thích:
    14
    http://vneconomy.vn/20110504035254499P0C6/loi-nhuan-ngan-hang-quy-12011-cac-ong-lon-thang-tien.htm

    Lợi nhuận ngân hàng quý 1/2011: Các “ông lớn” thẳng tiến

    [​IMG] E-mail [​IMG] Bản để in [​IMG] Cỡ chữ [​IMG] Chia sẻ: [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] Ý kiến (0)

    ▪ THÙY ANH
    04/05/2011 16:00 (GMT+7)

    [​IMG] Tín dụng vẫn là kênh mang lại nguồn thu chủ yếu trong cơ cấu lợi nhuận các ngân hàng thương mại - Ảnh: Việt Tuấn.
    ​
    Cỗ máy lợi nhuận ở nhóm các ngân hàng cổ phần hàng đầu thẳng tiến, trong bối cảnh kinh doanh có nhiều khó khăn.

    Kết thúc quý 1/2011, hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần lớn (ngoại trừ các thành viên quốc doanh vừa cổ phần hóa) cho thấy bước khởi đầu suôn sẻ ở các con số lợi nhuận. Sự suôn sẻ được đặt trong tiến độ thực hiện kế hoạch chung cả năm, trong bối cảnh kinh doanh có nhiều khó khăn và “khoảng trống” của các kỳ nghỉ lễ kéo dài trong kỳ.

    Trong các báo cáo vừa công bố, bất ngờ lớn nhất tập trung ở Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), khi lợi nhuận trước thuế quý 1/2011 gấp đôi quý 1/2010, 850 tỷ đồng so với 415,3 tỷ đồng (vốn điều lệ quý 1/2010 là 8.800 tỷ đồng, quý 1/2011 là 10.560 tỷ đồng).

    Dẫn đầu trong khối vẫn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á châu (ACB) về con số tuyệt đối, khi đạt tổng lợi nhuận trước thuế 863,3 tỷ đồng. Con số này cũng tăng tới 49% so với quý 1/2010. Mức vốn điều lệ của ACB hiện là 9.376 tỷ đồng.

    Tuy nhiên, về con số tuyệt đối, vị trí dẫn đầu có thể được thay thế bởi nhân tố Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank). Hiện Techcombank chưa có số liệu công bố cụ thể, nhưng dự tính lợi nhuận trước thuế quý 1/2011 có thể quanh mức 1.000 tỷ đồng, trong mục tiêu 4.000 tỷ đồng lợi nhuận năm nay. Vốn điều lệ của ngân hàng này hiện là 6.932 tỷ đồng.

    Không quá đột biến, nhưng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB) tiếp tục cho thấy sự ổn định và hiệu quả trong hoạt động. Quý 1/2011, mức lợi nhuận trước thuế mà MB đạt được là 714 tỷ đồng với mức vốn điều lệ hiện tại là 7.300 tỷ đồng.

    Xét theo quy mô vốn điều lệ, Techcombank, ACB, MB tiếp tục là những thành viên có hiệu quả cao trong nhóm, trong khi Eximbank đang có sự chuyển biến rõ rệt.

    Bên cạnh đó, một số thành viên lớn khác cũng cho thấy bước khởi đầu khả quan trong tiến độ thực hiện mục tiêu chung cả năm. Tại Ngân hàng Đông Á (DongA Bank), qua quý 1/2011, lợi nhuận trước thuế đã đạt 340,4 tỷ đồng, hoàn thành 26,19% kế hoạch năm.

    Nhưng với Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), tổng lợi nhuận trước thuế quý 1/2011 mới đạt 586 tỷ đồng, tăng nhẹ 75 tỷ đồng so với quý 1/2010 và mới chỉ thực hiện được khoảng 22% kế hoạch năm, trong khi vốn điều lệ có tới 9.179 tỷ đồng.

    Như vậy, hiện hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô lớn đã lần lượt công bố kết quả kinh doanh quý 1/2011. Kết quả trên là khá bất ngờ, khi bối cảnh kinh doanh có nhiều khó khăn với lạm phát tăng cao, căng thẳng lãi suất và tỷ giá, tín dụng bị định hướng thu hẹp tăng trưởng, kinh doanh vàng bị thắt chặt…

    Một điểm chung dễ thấy trong các báo cáo đã công bố là sự khó khăn nổi bật trong hoạt động kinh doanh vàng và ngoại hối. Cả ACB, Eximbank, Sacombank đều ghi nhận các khoản lỗ ở hoạt động này, trong khi quý 1/2010 đều có những mức lãi đáng kể.

    Ngược lại, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ lại ghi nhận sự gia tăng ấn tượng, với những mức tăng từ 50% - 150% so với quý 1/2010. Đây cũng là xu hướng đã thể hiện trong những năm gần đây, khi các nhà băng tăng cường mở rộng nguồn thu từ dịch vụ và giảm bớt sự lệ thuộc vào tín dụng.

    Dĩ nhiên, tín dụng vẫn là kênh mang lại nguồn thu chủ yếu trong cơ cấu lợi nhuận các ngân hàng thương mại. Khi trần lãi suất cho vay đã cởi bỏ, tỷ lệ lãi biên có điều kiện để cải thiện sau khi liên tục thu hẹp trong các năm 2009, 2010. Mặt khác, việc đẩy mạnh tín dụng ngay từ đầu năm dễ nhận thấy ở các thành viên. Tổng thể, tăng trưởng tín dụng của hệ thống quý 1/2011 cũng đã ở khoảng 5%, cao hơn nhiều so với các mức cùng kỳ năm 2010 (3,34%) và 2009 (2,67%).

    Đề cập đến vấn đề lợi nhuận, lãnh đạo các ngân hàng thương mại đều từ chối đưa ra bình luận. Lý do, các con số là trách nhiệm phải công bố, nhưng nó trở nên nhạy cảm trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn, hoạt động vay vốn và sản xuất của các doanh nghiệp nói chung có nhiều trở ngại.

    Trao đổi bên lề, quan điểm chung của người trong cuộc là cần có cái nhìn khách quan hơn về lợi nhuận của họ, bởi phía sau đó là quy mô vốn rất lớn, lực lượng nhân sự và mạng lưới rộng, cũng như trước áp lực của các cổ đông. Và khách quan, theo quan điểm đó, là cần nhìn nhận ở các chỉ số tài chính cơ bản và so sánh với các lĩnh vực kinh doanh khác…

    Ngược lại, một lãnh đạo ngân hàng cho rằng, kết quả kinh doanh quý 1/2011 là sự nỗ lực khi đặt trong bối cảnh khó khăn của nền kinh tế, đặc biệt là có nhiều thay đổi trong chính sách điều hành.

    “Điều quan trọng nhất đến lúc này nghiệm lại vẫn là yêu cầu dự báo tốt sự vận động của nền kinh tế và các thay đổi của chính sách để chủ động kinh doanh. Có vẻ khó, nhưng nếu là người trong cuộc thì hoàn toàn có thể dự báo khá chính xác được những thay đổi đó. Chỉ ngại nhất là các thông điệp đưa ra một chiều, thay đổi chính sách lại đột ngột đi theo chiều khác”, vị lãnh đạo này chia sẻ.

Chia sẻ trang này