1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Năm mới bàn luận triết lý của đạo Phật (topic này ai đóng góp thì đóng góp chứ đừng spam nha)

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi nano9, 03/02/2008.

1314 người đang online, trong đó có 282 thành viên. 10:39 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1846 lượt đọc và 27 bài trả lời
  1. nano9

    nano9 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    25/06/2006
    Đã được thích:
    333
    Năm mới bàn luận triết lý của đạo Phật (topic này ai đóng góp thì đóng góp chứ đừng spam nha)

    Triết lý về tiền bạc - Phần 1

    Có người nói: "Đồng tiền là ông chủ ác độc nhưng lại là người đầy tớ tử tế". Vậy phải hiểu triết lý về tiền bạc ra sao? Hạnh phúc thật sự của con người có phải nằm ở việc có nhiều hay ít tiền hay không?


    Trong cuộc sống, ai cũng phải có tiền. Nhưng ai có được đồng tiền trong tay, dù ít dù nhiều cũng nên biết đến triết lý về đồng tiền để sống cho đúng đạo lý.

    Trên thực tế, có tiền là con người có thể mua được vật chất (cơm ăn, áo mặc, xe cộ, nhà cửa...), dịch vụ (chăm sóc sức khỏe, làm đẹp hoặc dịch vụ tư vấn...). Nhưng có nhiều tiền không đồng nghĩa với nhiều hạnh phúc.

    Hạnh phúc là cái gì vô hình, do quan điểm sống, triết lý sống mà có, do nội tâm bình thản và trái tim đầy thương yêu. Nghĩa là chúng ta có tiền nhưng không có đạo lý để sống thì chưa chắc chúng ta đã có hạnh phúc.

    Để đo hạnh phúc của một con người, cần nhìn vào tận sâu thẳm tâm hồn của họ mới biết được. Một người thấy cơn gió thoảng qua, làm rung rinh ngọn lá mà thấy vui, một người nhìn thấy mấy đứa trẻ nhỏ, trời mưa ầm ầm, mà tung tăng chạy nhảy, tắm mưa mà thấy trong lòng trào dâng tình cảm thương yêu thì người đó là một người hạnh phúc, là một người biết sống.

    Mỗi sáng thức dậy, ta thấy ánh nắng ban mai xuyên qua kẽ lá, tiếng chim hót vang lừng mà trong lòng ta thấy thanh nhẹ, yên ả... Đó chính là hạnh phúc. Mà là thứ hạnh phúc từ trong tâm tưởng, không tiền nào có thể mua được.

    Điều quan trọng đối với mỗi con người là vẻ đẹp tâm hồn, được mọi người yêu thương, quí trọng, khi ta cần thì được mọi người sẵn sàng giang tay cứu giúp... Đó mới là vẻ đẹp thực sự của con người mà không tiền nào có thể mua được.

    Đó là một trong những ý chính trong phần 1, bài giảng "Triết lý về tiền bạc" của Thượng tọa Thích Chân Quang.
  2. nano9

    nano9 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    25/06/2006
    Đã được thích:
    333
    Triết lý về tiền bạc - Phần 2

    Cần phải có một triết lý sử dụng đồng tiền

    Một người được nhận một điều gì quí giá như tiền bạc hay trí tuệ thì con người phải có trách nhiệm với điều đó và phải biết sử dụng hữu ích.

    Người nào có tiền thì phải sử dụng cho đúng. Các cách sử dụng đúng đồng tiền là: Thứ nhất là để dành. Thứ hai là đầu tư làm ăn, thứ ba là mua sắm những thứ cần thiết cho cuộc sống. Thứ tư là chi trả tiền cho những người bỏ công sức ra làm giúp mình một công việc gì và cuối cùng là để làm phước (tặng, biếu, làm phước...).

    Một người có quá nhiều tiền thì có thể mắc một số "bệnh" nên tránh sau: 1. Có thái độ coi thường đồng tiền, tiêu pha hoang phí. 2. Người keo kiệt, bủn xỉn, không muốn chia sẻ một đồng xu nào cho người khác. 3. Tiêu tiền ích kỷ, chỉ mua sắm cho bản thân mình mà không muốn chia sẻ với người khác. 4. "Bệnh" khoe khoang.

    "Bệnh" của người ít tiền: 1. Lúc nào cũng muốn có tiền, lúc nào cũng loay hoay để nghĩ cách kiếm tiền khiến cho tâm hồn không thanh thản. 2. Đôi khi người nghèo nghĩ đến những cách kiếm tiền phi pháp, trái phép. 3. Nịnh người giàu vì họ cho rằng giá trị của đồng tiền lớn quá. 4. Mặc cảm, thụ động, ngại tiếp xúc với mọi người và không làm phước. 5. "Bệnh" không cần tiền, coi tiền như "rơm rác".

    Vậy chúng ta phải hiểu được những "bệnh" của cả người giàu và người nghèo để tìm cách "trị bệnh". Điều quan trọng nhất là phải có một triết lý sống trong việc sử dụng đồng tiền, để nuôi sống bản thân và gia đình, để giúp người nghèo, ủng hộ tam bảo, tái đầu tư và dành dụm.



    Được nano9 sửa chữa / chuyển vào 09:36 ngày 03/02/2008
  3. nano9

    nano9 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    25/06/2006
    Đã được thích:
    333
    Luật Nhân quả - Sự giấu mặt của Luật Nhân quả (Karma is invisible).

    Nói đến đạo Phật là nói đến luật Nhân Quả Nghiệp báo, một nguyên lý mà con người phải chịu lấy trách nhiệm hành động của mình. Không phải thần linh nào khác đã qui định thưởng phạt kiếp sống của con người, chính con người thật sự là Thượng đế tối cao của họ, họ muốn làm chủ đời sống hay muốn mất quyền làm chủ, họ muốn khổ hay muốn vui, hoàn toàn bởi họ, không do một ai khác.

    Đối với đạo Phật, chúng sinh có ba mục đích cần nhắm đến: Một là sống trong luân hồi bớt khổ đau, có phước báo cõi trời cõi người, Hai là thoát khỏi luân hồi, chấm dứt sanh tử, có được Niết Bàn an vui, Ba là giáo hóa cho chúng sinh cùng được thành tựu trí tuệ giải thoát, gọi là hành đạo Bồ Tát.

    Tuy nhiên, muốn thành tựu mục đích thì phải biết Nhân Quả, biết nhân nào sẽ thành tựu được mục đích này. (Luật về Nhân quả - Thích Chân Quang, NXB Tôn giáo, 1988)

    Theo cách quan niệm của nhà Phật, có 3 quy luật tồn tại trên thế gian: luật pháp do con người đặt ra, luật công bằng do các vị thần thánh đặt ra, và quy luật tối thượng là luật nhân quả (karma).

    Luật do con người đặt ra vốn có nhiều kẽ hở. Người ta chỉ cố gắng xây dựng nó dần dần để có thể đảm bảo được sự công bằng ở mức tối đa có thể.

    Luật do các vị thần thánh đặt ra chính xác hơn, đảm bảo cân bằng hơn. Nhưng nó vẫn còn có những điểm chưa kín kẽ, bởi vì trong quá trình thực thi luật, đôi khi các vị thần thánh dễ bị "mềm lòng" (có thể vì quá thương mà bỏ qua tội cho những kẻ đã từng gây ác...).

    Luật nhân quả tồn tại khách quan trong tự nhiên, vận hành tự nhiên, không phụ thuộc vào ai cả, được thực thi bất chấp mọi sự cố tình phủ nhận. Vậy nên, nó chính xác tuyệt đối.

    Bài giảng Sự giấu mặt của Luật Nhân quả đặt ra một số vấn đề:

    Tại sao luật nhân quả lại phải giấu mặt theo cách nhìn của một số người? Thực sự thì luật nhân quả có giấu mặt không? Nhận diện nó ra sao?

    Giữa người biết luật nhân quả và kẻ chưa biết mà cùng làm điều tốt, ai có phước về sau hơn? Tại sao?

    Con người phải ứng xử như thế nào trước quy luật nhân quả?

    Bài giảng này dành cho đông đảo quần chúng phật tử. Giảng sư đã không đi sâu vào những vấn đề lí luận, mà luôn tìm cách biện giải sao cho dễ hiểu nhất, với những phép ví dụ hết sức bình dân.
  4. nano9

    nano9 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    25/06/2006
    Đã được thích:
    333
    Đạo lý "Gia đình bền vững".

    "Nước mắt chảy xuôi" nhưng phải "nhìn lên"

    Không chỉ có người Á Đông mới có đạo đức đẹp, xuất phát từ chiếc nôi gia đình, đó là đạo lý "Cha mẹ yêu thương con cái, còn con cái hiếu kính với cha mẹ", mà đạo lý này cũng tồn tại trong rất nhiều nền văn hóa ở khắp nơi trên thế giới. Đó là một điều tự nhiên ngay từ khi con người sinh ra.

    Nhưng cũng có một điều tự nhiên nữa, như ông bà ta đã than thở: "Nước mắt thì chảy xuôi" nghĩa là cha mẹ thương chúng ta, còn chúng ta sẽ yêu thương con của mình mà ít để ý đến cha mẹ. Đó là một qui luật nghiệt ngã nhưng con người vẫn cưỡng lại được qui luật tự nhiên đó mà hiếu kính cha mẹ mình.

    Cho nên, chúng ta có thể nói thêm: "Nước mắt chảy xuôi" nhưng chúng ta hãy "nhìn lên": Cha mẹ thương ta, còn ta bị dòng đời cuốn đi mà chỉ chăm, thương con cái của mình mà ít nhớ tới công lao của cha mẹ. Nhưng hãy nhìn lên, nhớ về cha mẹ mình và thương kính cha mẹ mình. Chúng ta phải tâm nguyện, ghi khắc trong lòng và tập luyện và thực hành hàng ngày thì mới đạt được đạo lý này.

    Gia đình là một pháo đài phòng chống tội ác

    Ngày nay, ta luôn nói gia đình phải là pháo đài phòng chống tội ác. Muốn được như vậy thì gia đình phải là một tổ ấm hạnh phúc. Một gia đình muốn trở thành một tổ ấm hạnh phúc thì bền vững, và phải đi theo đạo lý của Á Đông là "Cha mẹ yêu thương con cái, còn con cái hiếu kính với cha mẹ".

    Trên con đường học hỏi những điều hay của Tây phương, chúng ta phải biết chắt lọc những gì hay để học, những gì dở phải lập tức loại trừ, không nên bắt chước. Phải có lập trường, quan điểm sống rõ ràng để bảo vệ dân tộc ta trước sự xâm nhập của những loại văn hóa độc hại. Đó là trách nhiệm của mỗi người trong xã hội.

    Tất nhiên, gia đình không chỉ là pháo đài thụ động, ngồi im không cho tội ác xâm nhập vào mà mỗi người trong gia đình phải là một chiến sĩ đi ra ngoài để tiêu diệt những cái ác.

    Thành viên gia đình trong thời đại mới

    Trong cuộc sống, con người phải sống rất cẩn thận, chi li, kỹ lưỡng, tinh tế trong từng cách cư xử với người bên cạnh mình. Từ một cử chỉ rất nhỏ như duỗi cái chân cũng sợ mích lòng người bên cạnh, với tay lấy ly nước cũng nên sợ làm phiền người bên cạnh.

    Nghĩa là chúng ta cần sống cẩn thận, chuẩn mực, chi li trong phạm vi nhỏ của mình nhưng trái tim chúng ta phải trải rộng khắp thế giới, thương yêu hết cả nhân loại. Đôi tay chúng ta rất nhỏ, nhưng cái nhìn phải rất rộng. Cái nhìn đi trước thì đôi tay sẽ hành động theo sau. Tâm hồn thì phải rộng lớn, nhưng phải hành động thì phải rất chi tiết.

    Nhà nước chúng ta có bổn phận đi tiên phong trong việc xây dựng đạo đức cho con người nếu muốn đất nước của chúng ta vượt lên trên thế giới.

    Ngược lại, con người trong thời đại mới phải là một con người chân chính - thương yêu tất cả mọi người; phải là một người quân tử - sống đàng hoàng, chững chạc, đã nói là phải giữ lời; phải là một công dân tốt của đất nước, yêu thương và bảo vệ đất nước, dù có phải hi sinh cả tính mạng.

    Và cuối cùng, phải là một thành viên của thế giới này để chung tay góp phần xây dựng trái đất này được yên vui, hòa bình, hạnh phúc tốt đẹp chứ không phải chỉ dừng lại ở đất nước mình.

    Những nguyên tắc làm nên một gia đình hạnh phúc


    Hình ảnh gia đình hạnh phúc (Ảnh minh họa: timnhanh.com)

    1. Cha mẹ yêu thương con cái.

    2. Cha mẹ phải sống gương mẫu, nghĩa là giữ gìn đạo đức, làm điều thiện, sống có uy tín, siêng năng, và vượt qua những tình cảm lạ. Đó là những tiền đề để xây dựng một cuộc sống gia đình hạnh phúc.

    3. Cha mẹ phải biết dạy con cái biết yêu thương, làm điều hay, lẽ phải, khiêm tốn, can đảm, khôn ngoan, không nhu nhược.

    4. Con cái phải hiếu kính với cha mẹ. Khi nhỏ thì vâng lời, khiêm nhu, lễ phép với cha mẹ. Khi lớn lên, khôn ngoan rồi, có gì không đồng ý với cha mẹ thì phải lựa lời trình bày với cha mẹ sao cho lễ độ, và khi cha mẹ không còn làm việc được nữa thì phải trọn lòng phụng dưỡng cha mẹ.

    5. Khi lớn lên, nếu không ở chung với cha mẹ thì vẫn giữ mối liên hệ bền chặt với gia đình và tạo tình quyến thuộc đậm đà.

    6. Yêu thương cả đất nước này. Vì chính tình cảm lớn lại nuôi dưỡng tình cảm nhỏ gia đình. Và tình cảm nhỏ gia đình lại giữ cho tình cảm lớn yêu đất nước. Hai thứ tình cảm này có mối quan hệ hỗ tương âm thầm bí mật kỳ lạ như vậy.
  5. nano9

    nano9 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    25/06/2006
    Đã được thích:
    333
    Ý nghĩa của sự tiến bộ xã hội

    Con người không nên dồn hết cuộc đời của mình vào tiền bạc và kỹ thuật mà nên mở rộng tình thương với những người chung quanh, để tâm hồn mình vượt lên trên tầm vũ trụ.
    Xã hội mỗi ngày mỗi tiến bộ, con người cũng nhiều tiện nghi hơn. Đó là về mặt kỹ thuật, nhưng về mặt đạo lý, triết học thì con người đã đứng lại, có khi còn lùi so với cổ nhân. Tại sao lại có sự kỳ lạ như vậy?

    Ngày xưa, con người sống phải yêu thương nhau, thấy người khác hoạn nạn thì cứu giúp Tư cách của người xưa là phải lấy Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí - Tín làm đầu.

    Vậy ngày nay, liệu con người có nên chỉ chạy theo những tiến bộ của kỹ thuật, công nghệ mà không cần giữ những đạo lý đã có từ ngày xưa hay không?
  6. nano9

    nano9 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    25/06/2006
    Đã được thích:
    333
    Nền tảng kinh tế học theo cách nhìn của Phật Giáo

    I. Xác định giới hạn

    Con người không bao giờ ngưng tìm kiếm trong thiên nhiên để mong thâu thập được nhiều thứ hơn nữa nhằm chất đầy cái nhà kho mãi mãi thiếu thốn của mình. Từ thuở chào đời, hình như định mệnh buộc nó phải đối mặt với một thế giới cứ muốn cắt giảm năng lực của mình, khi nó nhận ra hai bàn tay mình thì quá ngắn, hai chân mình lại quá chậm để có thể bắt kịp cái dòng chảy xiết của sinh tồn. Để hưởng thụ cuộc sống, nó phải nuôi dưỡng cơ thể. Đói và khát không ngừng thôi thúc nó phải chuyển động. Thế mà cơn đói chưa bao giờ được thỏa, và nỗi khát cũng chưa từng lắng dịu. Các nguồn tài nguyên có vẻ bất tận trong tầm nhìn, nhưng lại khan hiếm trong tầm với. Điều nó phải học hỏi để làm là phân phối các nguồn tài nguyên ấy một cách hợp lý.

    Trước khi học cách làm này, nó phải biết học cái gì. Nó được thuyết phục để tin tưởng thế giới này do ai tạo ra, và được tạo ra thế nào. Mặt khác, đời sống con người lại tưởng như vô nghĩa. Sống và chết một cách ngẫu nhiên, phi lý, và vô mục đích. Nếu Thánh kinh không có sách Sáng thế, có lẽ người ta không thể biết được diện mạo thế giới sẽ như thế nào, tốt hơn hay xấu hơn, khi họ nghĩ về hôm nay. Tuy nhiên, một vấn đề như thế, những người phật tử để qua một bên.

    Ngày xưa một vị tăng trẻ tên Màlunkya đã hỏi thách đức Thế tôn, muốn xem Ngài biết hay không biết thế giới này là thường hay vô thường, hữu hạn hay vô hạn; thân thể và linh hồn có phải đồng nhất hay không; v.v? Thay vì giải thích thế giới được tạo ra thế nào, và tạo ra để làm gì, Đức Phật đã khuyến cáo vị tu sĩ trẻ đừng phí thì giờ của mình cho những câu hỏi ở ngoài tầm nhận thức con người, mà nên tập trung nổ lực để nhận thức những điều kiện thực tiễn của chính mình. Ngài đưa ra một thí dụ: Một người bị bắn trúng một mũi tên độc. Ông ta không có thì giờ để hỏi mũi tên ấy từ đâu đến, được làm bằng loại gỗ gì, và ai đã bắn nó. Việc quan trọng thúc bách nhất ông ta phải làm trước hết là nhổ mũi tên độc ra và chữa trị vết thương. Sống còn là ưu tiên một, điều khác tính sau.

    Trong một bản kinh, khi giải thích cho một tu sĩ bà la môn nghe về ý nghĩa thật sự, và cách thức tế lễ, một đại tế quan trọng của đạo bà la môn bấy giờ, Đức Phật dẫn dụ một câu chuyện trong quá khứ. Có lần một vị vua muốn tổ chức một lễ đại tế để cầu phúc lợi cho vương quốc mình. Vua hỏi ý kiến một vị tu sĩ cao nhất. Vị này đã giảng dạy cho vua phải làm gì trước tiên. Vương quốc ấy bấy giờ đang khốn khổ vì nghèo đói và bất ổn, trộm cướp và giặc dã hoành hành. Nếu làm cho dân chúng có công ăn việc làm thì sự trộm cướp và nỗi loạn sẽ giảm thiểu.

    Như chúng ta thấy, tăng trưởng kinh tế là nền tảng cho ổn định và thanh bình của xã hội, vì vậy sự phát triển của nó bao hàm việc mở rộng sự hành đạo. Khía cạnh này trong giáo lý đức Phật rất thường bị bỏ qua, mà hầu như hoàn toàn chỉ chú trọng đến hành xử đạo đức. Sự hoàn thiện đạo đức dĩ nhiên là mục đích cao qúi của sự tu tập trong Phật giáo, nhưng bị bỏ đói thì không ai tài nào hành thiền được. Điều này được ám chỉ đến trong một câu nói của đức Phật: ?omọi chúng sinh đều do thực phẩm mà tồn tại?. Theo quan điểm hiện đại, lời dạy này có thể được xem là bối cảnh kinh tế của Phật giáo.
    II. Sản xuất cái gì: Giáo lý về dinh dưỡng

    Vậy thì, hẵn phải có kinh tế học Phật giáo. Nó không những dạy con người cách thức kiếm sống theo chánh pháp, nghĩa là hợp pháp và lương thiện, mà còn dạy cách xử dụng lợi nhuận thế nào để có lợi ích cho bản thân và người khác. Vì vậy nó không được bỏ qua vấn đề sản xuất và tiêu thụ.

    Con người, thường biết đến như là một hợp thể tinh vi và phức tạp này của vật chất và tinh thần, là động lực đầu tiên và nguyên nhân cứu cánh của mọi hoạt động của con người. Thực tế, con người cần thực phẩm vật chất để duy trì thân thể vật lý của nó, và cần thực phẩm tinh thần cho sự phát triển tâm linh. Dù tiến hóa cao đến đâu trong suốt dòng lịch sử, con người có vẻ vẫn phải bắt đầu đời sống từ phôi thai, mà ngay trong khoảnh khắc đầu tiên thụ thai nó chỉ là một giọt vật chất. Vấn đề phải chăng đời sống con người bắt đầu từ phôi thai là vấn đề tranh luận của tôn giáo và đạo đức, kinh tế học không quan tâm. Nhưng với chủ đích ở đây, chúng ta sẽ đề cập đến phôi thai như là người tiêu thụ độc lập.

    Về căn bản, con người cần lương thực vật chất cho đời sống vật chất của mình. Nhu cầu này bắt đầu từ khoảnh khắc mới có tri giác cho đến khi lâm chung.Vào thời kỳ đầu tiên của cuộc đời, con người chưa có khả năng sản xuất, vì vậy nó phải sống nhờ vào nền kinh tế cấp dưỡng. Nói theo kinh tế học, nó là kẻ đi vay. Cái gì nó đã vay hôm qua, hôm nay nó phải trả. Và cái gì hôm nay nó làm, ngày mai sẽ được hoàn báo. Đó là quy luật hoạt động, và sự hoàn báo ấy đặt cơ sở trên giáo lý về nghiệp.

    Bây giờ, vần đề đặt ra là: con người cần cái gì để nó có thể tồn tại và phát triển? Trước hết, với tư cách là một sinh vật, nó chỉ cần lương thực vật chất. Khi tiến hóa thành một động vật, nó cần thêm một loại lương thực nữa: lương thực tiếp xúc. Đến một trình độ tồn tại cao hơn, là một con người, nó cần 4 loại lương thực cả thảy: lương thực vật chất, lương thực tiếp xúc, lương thực tinh thần, và lương thực nhận thức. Điều này được nói đến trong một bản kinh: ?ođây là 4 loại thức ăn dùng để duy trì các chúng sanh nào đã sanh khởi, hoặc để hỗ trợ các chúng sanh nào đang tìm chỗ sanh ra. 4 loại gì ? đoàn thực, thô hoặc tế; thứ hai là xúc thực, thứ ba là tư thực, và thứ tư là thức thực.?
    III. Sản xuất cho ai: các giai tầng tồn tại

    Trong mỗi giai đoạn phát triển, nhận thức khởi lên ngay khi có sự tương tác giữa ngoại cảnh và giác quan. Nhưng ở trình độ thấp, nhận thức xuất hiện còn yếu đến độ khó nhận biết được thế giới. Ở trình độ này, nhận thức chỉ là một ý chí tồn tại mù quáng.

    Khi các giác quan đạt đến độ chín chắn, hình ảnh thế giới được phản chiếu rõ ràng và rành mạch hơn, và nhận thức về nó có luận lý hơn, hệ thống hơn. Ở một cấp độ cao hơn trong tiến trình nầy, nhận thức phát triển thành tự ý thức, nhận biết sự tồn tại của thế giới bên ngoài cũng như sự tồn tại của chính mình. Nhận thức như là loại thức ăn thứ tư cần thiết cho giai đoạn tiến hóa này.

    Sự phát triển tinh thần tùy thuộc vào sự tích lũy các kinh nghiệm. Nếu việc xử lý sự tích lũy này bị hỏng, thì sự hoạt động của các giác quan không tạo ra một hiệu quả tốt nào cho trí óc. Điều này có nghĩa, các dữ kiện như là thức ăn tinh thần đã không được cung cấp đầy đủ, hoặc cấu trúc giác quan đã từ chối loại thức ăn này. Ta có thể gọi loại lương thực thứ ba này là lương thực cho tư tưởng. Còn lương thực để duy trì và phát triển văn minh là nhận thức.

    Theo truyền thống Phật giáo, như được thuật lại trong kinh Aggaññasutta, thuở đầu tiên, con người thu thập các nguồn thiên nhiên dùng làm thực phẩm và áo quần, ?osống nhờ một loại lúa chín tự nhiên không cần nấu?. Chúng ta có thể tưởng tượng ra rằng nguồn thiên nhiên được đề cập đến ở đây mà những người tiền sử thu thập là thứ không thể tích trữ, ?othứ gì họ thu lượm được trong buổi chiều cho bữa ăn chiều sẽ mọc lại và chín vào buổi sáng; thứ gì họ thu lượm được trong buổi sáng cho bữa ăn sáng sẽ mọc lại và chín vào buổi chiều.? Phải đến một giai đoạn tiến hóa nhất định nào đó về sau con người mới bắt đầu nẩy lên trong đầu óc mình cái ý tưởng: ?oTại sao ta phải thu lượm lúa vào buổi chiều cho bữa ăn chiều và vào buổi sáng cho buổi săn sáng?? Ý tưởng tích lũy dẫn đến sự đầu cơ. Dần dần sự đấu tranh giữa các đối thủ trong cộng đồng khởi lên, và xã hội nguyên thủy của loài người bắt đầu một khúc quanh mới bị lôi cuốn vào xung đột xã hội.

    Theo lẽ thông thường, người ta cho sự tích lũy trong thời tiền sử là bị thúc đẩy bởi tính làm biếng của con người. Khi trí óc phát triển đủ để quyết định phải thu thập cái gì và thu thập cách nào có lợi cho tác nhân của nó, bấy giờ con người phải đối diện với sự hạn chế về thời gian. Nó phải phân phối thời gian của mình một cách tối ưu giữa lao động và nhàn rỗi. Nó phải học cách chọn lựa. Trên phương diện này chúng ta đưa cả sự tiêu dùng và nghỉ ngơi vào thời gian nhàn rỗi. Đến một mức độ tiến hóa cao hơn, thời gian nhàn rỗi được dành trọn cho việc hưởng thụ 4 loại thức ăn. Bánh mì, và những thứ tương tự, được tiêu thụ để duy trì cơ thể sinh học và trạng thái ổn định của nội tạng. Nhìn và nghe được dùng làm xúc thực để tích lũy kinh nghiệm nhờ đó tăng cường khả năng phán đoán và chọn lựa giữa cái tốt và cái xấu. Suy nghĩ và ước muốn được nuôi dưỡng bằng tư thực, loại lương thực thứ ba, mà nhờ phẩm tính của nó hoạt động của con người cất cánh hướng đến mục đích tối hậu. Hơn nữa, tương lai của con người tùy thuộc vào những gì nó đang làm trong hiện tại. Nói theo kinh tế học, con người phải học cách phân phối các tài nguyên qua thời gian.

    Niềm vui thích nghe và nhìn khi nhàn rỗi, được thiên nhiên thụ động in dấu lại, không còn đủ khả năng thỏa mãn nhu cầu tích lũy các kinh nghiệm để dùng làm nguồn năng lượng cho việc thúc đẩy cấu trúc tinh thần hoạt động. Các vật liệu dùng làm xúc thực phải được sản xuất thành các món hàng hóa. Dầu vậy, thực phẩm vật chất cần thiết để duy trì cơ thể sinh học không thể bị cắt giảm. Vì thế, con người hoặc phải tăng gấp đôi thời gian làm việc, hoặc phải cải thiện kỷ năng sản xuất. Con người thời tiền sử, được nói đến trong bản kinh dẫn trên, đã tăng gấp đôi sản phẩm của nó, nhưng không một ám chỉ gì cho thấy nó đã xoay xở cách nào để làm được như vậy.
  7. nano9

    nano9 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    25/06/2006
    Đã được thích:
    333
    Nền tảng kinh tế học theo cách nhìn của Phật Giáo - Phần 2

    IV. Phương thức sản xuất

    Mặc dầu bị huyền thoại hóa dưới hình thức truyện cổ tích được bản kinh kể lại bằng loại phương ngữ, một số mô hình kinh tế thực sự có thể đã được cấu trúc dựa vào tác nhân thời tiền sử. Kẻ đối tác của nó trong một hệ thống kinh tế khác là Robinson Crusoe, người khởi đầu cuộc sống của mình trên một hải đảo hoang vu, ở đó trong những ngày đầu của mình, anh chàng chỉ có độc nhất sự lao động của chính bản thân nhờ xử dụng hai bàn tay và những thứ thiên nhiên giới hạn xung quanh anh ta cung cấp. Hàng hóa được sản xuất bằng hỗn hợp lao động và các yếu tố thiên nhiên cung cấp dĩ nhiên là không thể tích trữ được. Trong toàn bộ thời gian bị hạn chế vào ban ngày, ngay cả được phân chia một cách hợp lý và cân xứng giữa làm việc và nghỉ ngơi, anh ta cũng buộc phải cắt bớt quỹ thời gian chi tiêu cho việc thu thập lương thực để chi cho việc dựng lên một túp lều. Trong vô thức, đầu óc anh ta đã thiết lập giới tuyến của khả tính sản xuất mà nó phân phối một cách tối ưu các nguồn tài nguyên khan hiếm của mình.

    Ẩn dụ Robinson Crusoe có khả năng giúp chúng ta diễn dịch ra cách gia tăng năng suất của người tiền sử: tăng gấp đôi lượng lúa gạo thu lượm được đủ tiêu dùng cho hai ngày thay vì chỉ một ngày. Xét hàm số sản xuất, nếu những thứ khác luôn được giữ nguyên: đất và lao động trong bối cảnh hiện tại không đổi, thì một sự thay đổi trong kỷ thuật sẽ làm thay đổi sản phẩm.

    Liên hệ đến điều này, dựa vào lý thuyết Phật giáo về 4 loại thức ăn, thì nhu cầu về hàng hóa tiêu dùng thuộc loại thực phẩm vật lý, giả như ở trong một nền kinh tế dài hạn, khi đạt tới đơn vị cuối cùng của tính hữu dụng tới hạn của nó, sẽ luôn được giữ nguyên suốt một thời kỳ rồi rớt xuống cùng với sự hủy diệt của đời sống con người vốn lệ thuộc quy luật thế giới vật chất. Ba loại thức ăn khác, cơ bản trước hết được xem chỉ là thức ăn bổ túc cho thực phẩm vật lý, sẽ giảm thiểu khi cơ thể, cái mà nó hỗ trợ, hủy hoại.

    Trong câu chuyện về người tiền sử nêu lên ở trên, nó kể rằng khi người ta giành giật nhau thu gom lúa gạo để tích trữ cho tiêu dùng trong tương lai, thì lúa gạo chín tự nhiên không cần nấu biến mất, và một loại lúa gạo mới đòi hỏi con người phải làm lụng để sản xuất thay thế nó. So với hoàn cảnh của Robinson Crusoe như các nhà kinh tế ưa dùng, trong đó mọi thứ gì nó có thể có được trong tay đều là những yếu tố do thiên nhiên cung cấp, không một dụng cụ gì có sẵn ngoài sự lao động của chính bản thân để sản xuất những thứ cần thiết nhằm thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu, anh ta buộc phải chọn lựa hoặc tiêu thụ đến hết mọi thứ kiếm được trong ngày nay, hoặc giảm bớt một phần để dành cho ngày mai; trong trường hợp người tiền sử, họ không để dành bằng cách cắt giảm tiêu dùng hôm nay cho tiêu dùng ngày mai, mà bằng cách tăng thêm lượng sản phẩm nhờ vào việc cải thiện hiệu năng sản xuất.

    Trong hoàn cảnh hiện nay, theo quan điểm Phật giáo như đã phát biểu trong bản kinh dẫn trên, ta có thể thừa nhận rằng ngay từ đầu con người thấy sự gia tăng trong sản phẩm là lựa chọn tốt nhất của mình, trước khi tưởng tượng ra được bất cứ một kiểu mẫu kinh tế nào khi đối mặt với giới hạn của môi trường và sự khan hiếm của các phương tiện ngoại tại để thỏa mãn nhu cầu của mình.

    Vấn đề tất yếu theo sau là, sự tiêu thụ vật chất có tính hữu ích tới hạn của nó, nhưng nhu cầu con người thích hợp với sự tiến hóa cao hơn nhiều thì không giới hạn, vì vậy, con người phải sắp xếp giảm bớt thời gian làm việc cho sự gia tăng hàng hóa vật chất để có thể dành nhiều thì gian hơn cho sự nuôi dưỡng kiến trúc tinh thần và địa tầng tâm thức. Theo hệ quả luận lý, không phải chỉ sự giàu có nơi số lượng vật chất, mà trong một mức độ nào đó được đánh giá là sự tăng trưởng kinh tế, nhưng chính phẩm chất của sự tiêu thụ trong lãnh vực tinh thần, được cung cấp bằng thực phẩm dành cho kiến trúc tinh thần và địa tầng tâm thức, là cái biểu thị sự tiến bộ xã hội và sự nâng cao tiêu chuẩn cuộc sống. Tuy nhiên điều này không có nghĩa, sản xuất vật chất nên được bỏ lơ, trái lại, nó phải làm điểm tựa cho sự tiêu thụ trong lĩnh vực tinh thần. Vì vậy, tăng trưởng vật chất phải tương xứng với phát triển tinh thần.

    Thật ra, trong việc xử lý vấn đề khan hiếm, quả thật không đúng chút nào khi cho rằng, như một số nhà kinh tế từng tuyên bố, cách giải quyết của Phật giáo là ?othay đổi bản chất và mức độ các ham muốn?? Nghĩa là giảm bớt ham muốn và nhu cầu của họ.

    Khỏi cần bàn luận, nhất định khoa học kinh tế ấy được lập mô hình theo khung sườn đầu óc phương Tây.

    Mặc dù những thành tựu vật chất như được nhìn thấy hiện nay ở phương Tây từ thời chủ nghĩa thực dân cho đến cuộc chiến chống khủng bố ngày nay, văn minh phương Tây có vẻ chứng tỏ ưu thế của mình đối với cách hành xử kinh tế của phương Đông, tiến bộ kỹ thuật của nó đã cải thiện tiêu chuẩn cuộc sống. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa dân chúng được hạnh phúc hơn. Thay vào đó, sự thành tựu đầy kinh ngạc về khoa học và kỹ thuật đang đẩy nhân loại đến bờ vực hủy diệt hàng loạt.
  8. nano9

    nano9 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    25/06/2006
    Đã được thích:
    333
    Nền tảng kinh tế học theo cách nhìn của Phật Giáo - Phần 3

    V. Sản xuất và tiêu thụ

    Một bản kinh kể rằng trong thời xa xưa, hoặc trong thời kỳ dân chúng đạt đến sự phát triển cao nhất theo truyền thuyết, chỉ có 3 loại nhu cầu: ham muốn, đói khát và tuổi già. Thời gian trôi qua, khi xã hội con người bị xung đột một cách khốc liệt, thêm nhiều loại nhu cầu khác xuất hiện. Theo kinh Esukàrì sutta, vào thời đức Phật, của cải được phân loại theo 4 phạm trù, y theo đó xác định giai cấp xã hội. Theo đó, của cải của một người là toàn bộ những gì anh ta sở hữu. Nó là phương tiện người ấy kiếm sống. Khái niệm của cải này gợi lên những ý niệm về sản xuất và tiêu thụ theo cách hiểu của kinh tế học hiện đại, trong một chừng mực nào đó. Tuy nhiên đức Phật đã đề xuất lấy Pháp tối thượng làm của cải tối hậu mà nhân loại được khuyến khích tìm kiếm. Pháp tối thượng nói đến đây gồm 7 yếu tố hay thành phần của của cải: chúng là niềm tin, đạo đức, tàm, quý, học thức, bố thí và minh triết, trong đó yếu tố thứ sáu, tức bố thí hay thí xả, đạt được nhờ hào phóng bỏ của ra để làm từ thiện, hàm ý sở hữu của cải vật chất. Bởi vì một người, một người giàu có chẳng hạn, chỉ có thể cho người khác cái gì mà nó có. Vì thế, các thành phần này của sự giàu có phải được xem là các nhân tố sản xuất ra hàng hóa có phẩm chất cao nhất. Tuy nhiên, hầu hết những tác giả viết về kinh tế có lẽ không dễ tán thành một định nghĩa khá lý tưởng như thế về giàu có, bởi vì theo giả định của họ, giàu có được định nghĩa là gồm hai thứ tài sản thực (nhà cửa, xe cộ, máy truyền hình, và những thứ lâu bền khác) và tài sản tài chánh (tiền mặt, tài khoản tiết kiệm, cổ phần, trái phiếu, chế độ bảo hiểm và lương hưu) mà chủ hộ sở hữu.

    Như chúng ta thấy, thông thường người ta phân biệt giữa hàng hóa vật chất đáp ứng các thỏa mãn đời thường của con người, và hàng hóa cao hơn dùng làm phương tiện nhằm đạt được các thỏa mãn lý tưởng .Vì kinh tế học chỉ xử lý những chuyện trong thế giới này, thì hệ quả hợp lý theo sau là họ chỉ quan tâm đến sự tiêu thụ vật chất.

    Thật ra đức Phật chưa bao giờ phủ nhận nhu cầu về hàng hóa vật chất được tiêu thụ cho những đòi hỏi duy trì đời sống sinh học của con người là cái làm nền tảng cho sự phát triển cao hơn. Trong kinh ?oKhông mắc nợ?, Ngài thừa nhận 4 thứ sung túc: lạc thú do có của, lạc thú do sử dụng của cải hữu ích, lạc thú do không mắc nợ, và lạc thú do không có lầm lỗi.

    Trong đoạn này, các điều kiện sung túc không được cải thiện và tăng thêm chút nào nếu chỉ dựa vào việc thu hoạch và tích lũy một lượng của cải, cho dù đạt được một cách chính đáng bằng sự nổ lực và lao động của mình. Của cải chỉ có ích lợi nếu nó mang lại cho con người sự vui thích và hạnh phúc qua việc tiêu thụ vật chất lẫn phát triển tinh thần.

    Trong một Kinh khác, có lần một người đi đến đức Phật xin Ngài dạy cho giáo lý mà khi tuân thủ nó, những kẻ vốn là ?onhững gia chủ, đang hưởng thụ dục lạc thế gian, đang ràng buộc với vợ con?? có thể sống hạnh phục, thanh bình và thịnh vượng trong đời sống hiện tại cũng như trong tương lai. Bấy giờ, Đức Thế tôn đưa ra 4 điều kiện trước tiên dẫn đến an lạc trong hiện tại. Chúng là sự chăm chỉ, sự phòng hộ, bạn tốt, và kiếm sống chân chính.

    Tóm lại, cách hành xử kinh tế đã được chỉ dạy như vậy. Sự chăm chỉ hay siêng năng được nhấn mạnh. Nổ lực, năng động, chăm chỉ, siêng năng (viriya, uṭṭhāna, padhāna, v.v?), đôi khi được hiểu như là dùng để diễn tả cùng một trạng thái của tâm hay ý thức, mặc dầu các hoạt động tâm lý của chúng có hơi khác biệt. Tuy nhiên, một cách tổng quát, chúng thường diễn tả yếu tố quan trọng nhất trong sự tu tập, đó là sự chuyên cần (appāmada). Đức Phật dạy: ?oTỉnh giác là con đường đưa đến bất tử. Lười biếng là con đường dẫn đến tử vong.?

    Sự lơ là, bất cẩn, chây lười, nhác nhớm: Đây là những sức ỳ của tâm hay ý thức. Nó dấy lên trong lòng người ta cái trạng thái miễn cưỡng làm việc. Các nhà kinh tế cũng có thể gọi nó là sự nhàn rỗi đối lại với lao động. Theo các nhà kinh tế định nghĩa, nhàn rỗi là một phạm trù hàng hóa tiêu dùng có thể được đo lường bằng đơn vị thời gian. Khi được phối hợp với hàng hóa tiêu thụ nó hình thành một bó hàng cho khách tiêu dùng lựa chọn, vì theo định nghĩa này, nhàn rỗi chỉ cho bất kỳ thời gian nào đã chi tiêu mà không làm việc trong thị trường lao động. Vì thế, khi một công nhân cố gắng tăng thêm thu nhập, anh ta phải gia tăng chi tiêu lao động, nghĩa là anh ta phải cắt bớt thời gian chi tiêu cho nhàn rỗi. Như vậy, lao động là phí tổn cơ hội được trả giá bằng nhàn rỗi.

    Với sự giúp đỡ của tiến bộ kỹ thuật, công nhân ngày nay có thể nâng cao hiệu suất lao động để kiếm được một mức lương cao hơn mà không phải cắt bớt thời gian dành cho nhàn rỗi. Tiêu chuẩn đời sống của anh ta được gia tăng, thu nhập đạt đến tối đa. Anh ta vừa giàu có lại vừa rảnh rang thụ hưởng lạc thú cuộc đời. Đó là đặc điểm của nền văn minh hiện đại mà người ta phong cho cái tên là nền văn minh tiêu thụ vật chất được hình thành trên mẫu hình kinh tế phương Tây.

    Con người ham muốn dục lạc không bao giờ chán chê. Theo một định luật, tổng giá trị hữu ích của một món hàng tiêu thụ được tính bằng số lượng của nó, nhưng đối với người tiêu dùng, phẩm chất của món hàng, từ đó, tính chủ quan của nó, không thể bị bỏ quên. Thời gian tiêu thụ cũng là một nhân tố tác động đến sự thay đổi tổng giá trị hữu ích. Một đơn vị thời gian tăng thêm sẽ làm giảm bớt sự ưa thích hưởng thụ.

    Đức Phật thừa nhận 4 nhu cầu: thực phẩm, quần áo, nhà cửa, thuốc men. Chúng thuộc các yếu tố vật chất và được xếp vào loại dinh dưỡng vật lý. Sự tăng trưởng kinh tế chỉ dựa độc nhất vào số lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra nhằm thỏa mãn sức tiêu thụ vật chất. Như vậy bất kỳ một loại kích thích nào động viên tiêu thụ cũng làm tăng lượng cầu.

    Việc tập trung vào sản xuất và tiêu thụ vật chất này, thiếu các loại dinh duỡng khác mà chúng ta gọi là các loại thức ăn tinh thần cần thiết cho giá trị tối hậu của nhân loại, đã tạo nên tình trạng mất cân bằng giữa tăng trưởng cơ thể và tinh thần. Ngày nay, với đà tiến bộ ngoạn mục của khoa học, và với sự thành tựu có vẻ thần kỳ của kỷ thuật, người ta hiểu biết nhiều về cách thức vật chất hoạt động, nhưng sự hiểu biết của họ về cấu trúc tinh thần được cấu tạo thế nào và loại thức ăn nào phải được dùng cho nó thì còn hạn hẹp một cách đáng buồn. Ngoại tình, hiếp dâm, buôn lậu ma túy, bạo lực, vô số các bất ổn xã hội; tất cả triệu chứng này của căn bịnh béo phì xã hội thật ra là kết quả của tình trạng mất cân bằng trong sự phát triển kinh tế.

    Nhìn chung, tăng trưởng kinh tế trên thế giới ngày nay đã nâng cao tiêu chuẩn sống của nhân loại lên một mức đáng kể. Tuy nhiên, sản xuất quá độ và tiêu thụ quá độ dứt khoát kéo theo sự bất bình đẳng trong việc phân phối của cải trên cán cân thế giới. Nhân đây, chúng ta nên tham khảo một số lời dạy của đức Phật liên quan đến vấn đề đang thảo luận này.

    Trong một bản kinh, đức Phật chỉ dạy một gia chủ trẻ xử dụng hợp lý lợi tức kiếm được bằng cách phân ra thành 4 phần: một phần dành cho các nhu cầu bản thân, 2 phần dành chi cho việc kinh doanh. Phần thứ tư để dành phòng những lúc cần đến. Bản dịch tương đương trong bộ A hàm tiếng Hán kể nhiều chi tiết hơn, nó thêm hai phần phụ nữa: một để xây đền miếu, và phần sáu để xây Tăng viện. Thật thú vị khi chú ý đến bản Hán dịch bộ A hàm trong đó vai trò đền miếu thờ thần và Tăng viện ở Ấn độ cổ có thể so sánh với các định chế kinh tế và xã hội ngày nay. Vào thời đức Phật, hầu hết Tăng viện nguyên là những khu giải trí hoặc công viên do các ông vua, hoàng hậu, những giới quí tộc hoặc giàu có sở hữu dâng tặng. Về sau người ta cúng cho các đoàn thể tôn giáo hoặc giáo phái để họ tu tập và giảng đạo. Việc hiến cúng một phần thu nhập của mình cho các mục đích tôn giáo như đức Phật dạy cho vị gia chủ phải được xem là một đóng góp cho các hoạt động văn hóa và giáo dục, một loại đầu tư vào vốn con người.
    VI. Kết luận

    Nhiều tác giả viết về kinh tế học Phật giáo phê bình Adam Smith về định lý ?obàn tay vô hình? của ông, theo đó nếu một cá nhân hành xử trên cơ sở lợi ích riêng của mình thì lợi ích xã hội sẽ được nâng cao.

    Sự thật không thể chối cải là tính vị kỷ này đang là động cơ thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế mà hầu hết các nước ngoài Âu châu và chư hầu của nó thèm muốn. Như Smith đã xác quyết, nếu lợi ích bản thân của cá nhân không được thúc đẩy, không một phát triển kinh tế nào có thể thực hiện được. Để có một cái nhìn sát hơn vào bức tranh, chúng ta hãy đặt hoàn cảnh này vào câu nói của Keynes: ?oNó không tính phí tổn của tranh chấp, mà chỉ nhìn vào các lợi ích của kết quả cuối cùng được giả định là vĩnh cửu. Mục đích của đời sống là ngắt lấy những chiếc lá từ những cành cao xa nhất, phương thức để thành tựu mục đích này thật chẳng khác nào để cho những con hươu có cổ dài nhất mặc tình bỏ đói những con có cổ ngắn hơn.?

    Như vậy, các nguyên nhân gốc rễ cho tăng trưởng kinh tế, tốt hơn hoặc xấu hơn như ngày nay chứng kiến, được bện chặt với lòng tham lam, thù ghét và ảo tưởng. Xóa bỏ 3 độc tố này là mục đích tối hậu của đời sống người phật tử. Tuy nhiên tính vị kỷ liên kết với các căn nhân bất thiện như đã thấy rõ trong việc tối đa hóa lợi nhuận, nếu xét theo thái độ tâm lý học Phật giáo, là lực thúc đẩy mọi hành động của con người. Căn cứ trên giáo lý về dinh dưỡng, khi cơ thể sinh học còn tồn tại ngay cả sau khi bậc thánh đã đạt đến trạng thái diệt hết các căn nhân bất thiện, 4 loại thức ăn vẫn còn cần thiết cho đến khi bậc Thánh nhập vào Niết-bàn, vì cơ thể được cấu thành bởi 5 uẩn đi đến chỗ tan rã hoàn toàn. Trong phối cảnh này, một hệ thống kinh tế nào đó vẫn còn tồn tại để cung ứng các nhu cầu cho vị ấy. Đối với những ai chọn đi theo con đường dẫn đến giải thoát tối hậu, đến thành tựu Niết bàn, đức Phật dạy cách xả bỏ tuyệt đối các dục lạc thế gian. Đối với những ai còn bị ràng buộc trong ngũ dục, Ngài thuyết cho họ giáo lý về cuộc sống bình thường để họ có thể sống bình yên và hạnh phúc ngay trong đời hiện tại cũng như trong tưong lai. Giáo lý cho đời sống sau thật đơn giản: Bố thí và trì giới. Để có thể tu tập bố thí, anh ta phải có một số của cải nào đó.

    Như vậy, hành xử kinh tế của một Phật tử tại gia là một hành động có mục đích nhắm đến việc thu thập của cải cụ thể cho tiêu thụ vật chất và tích lũy phước đức cho đời sống mai sau. Liên quan đến hành động có mục đích này, nền tảng cho sự gia tăng của cải của một Phật tử tại gia được dạy là phải bao gồm mười hạn mục: đất đai, vốn liếng, con cái, tôi tớ, gia súc, niềm tin, đạo đức, học tập, bố thí, và trí tuệ. Vì vậy, các điều kiện tăng trưởng kinh tế phải là một sự cân bằng giữa tiêu thụ vật chất và phát triển tinh thần.

    Tuy nhiên, kinh tế học Phật giáo, nếu có, chỉ có thể thực hiện được với điều kiện, mục đích trong đời sống này của một cá nhân phải được xác lập, và việc làm của nó phải được hướng dẫn bởi đạo đức, bất kể lý thuyết về vị kỷ hay động cơ lợi nhuận có thành vấn đề hay không. Trong phương diện này, lời đức Phật dạy về chánh mạng hy vọng đóng góp nhiều nguyên tắc chỉ đạo cho các nghiên cứu kinh tế.

    Việt dịch Thích Nguyên Giác
  9. NguyenHuongThom

    NguyenHuongThom Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    06/12/2006
    Đã được thích:
    0
    Những vần thơ có ích cho tất cả mọi người nhân dịp Xuân về -Tết đến gửi tặng tất cả mọi người trên forum TTVN!

    Khi đi đến Chùa,nhà Thờ hoặc ở đâu ,nếu nghe được tiếng Chuông thì các bạn tĩnh tâm và thực hiện như sau:

    Nghe chuông phiền não tan mây khói
    Ý lặng, thân an, miệng mỉm cười
    Hơi thở nương chuông về chánh niệm
    Vườn Xuân hoa Tuệ nở xinh tươi



    Khi nào thấy mệt mỏi ,căng thẳng,hay cả lúc thư giãn bạn cũng nên tập thở theo cách sau:

    Tập thở theo tư tưởng "Vượt bầu khí quyển"-chữa bệnh -THAM -SÂN -SI

    1-Trước hết tắm rửa ,thay quần áo sạch sẽ
    2-Giữ tâm ý thanh tịnh ,chọn chỗ vắng thoáng ngồi thoả mái theo thế kiết già hay bán già
    3-hở vào hơi nhẹ ,niệm Phật hoặc trì chú theo điều thiện ,đưa Tâm về chánh niệm
    4-Hít thở nhẹ nhàng theo cách -CHẬM-SÂU -LÂU-NHẸ:
    Hít hơi vào chầm chậm
    Hơi dưới rún thật sâu
    Giữ hơi lậi lâu lâu
    Thở hơi ra nhè nhẹ
    Ngưng hơi ngoài khe khẽ
    Rồi mới hít hơi vào

    5-LƯU Ý:
    Khi hít vào hãy tưởng tượng trên đầu có 1 miệng phễu đốn nhận khí lành vào Bách hội ,rồi từ đó đưa khí lành đến với toàn thân thể .
    Khi thở ra tưởng tượng các lỗ chân lông khắp cơ thể đều thải được khí ,bụi bẩn... tất cả các khí bannảy kết thành vầng mây lững lờ trôi vào không gian,từ từ biến thành luồng mây trắng bay nhẹ lên vượt toả khắp giải Ngân Hà ,hoà nhập vào Pháp giới bao la.
    Tư tưởng theo hơi thở đó vân du khắp nơi ,thật thoả mái,thảnh thơi.
    Khi nào thấy tâm lạc hướng thì lại bắt đầu 1 hơi thở mới theo đúng trình tự trên !

    (Hoà Thượng Thích Nhất Hạnh)

    Chúc mừng Năm Mới -Thân Tâm An Lạc -A Di ĐÀ PHẬT!

  10. NguyenHuongThom

    NguyenHuongThom Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    06/12/2006
    Đã được thích:
    0
    "Đạo là châu báu của người lành
    Là nơi nương dựa của kẻ không lành "

    (LÃO TỬ)


    " NƯỚC BIỂN MÊNH MÔNG KHÔNG ĐONG ĐẦY TÌNH MẸ
    MÂY TRỜI LỒNG LỘNG KHÔNG PHỦ KÍN CÔNG CHA "


    Các bác vào đây để "ăn tết "cùng Làng Mai nhé:
    http://langmai.org/HTML_files/Tet_2008/index.htm

Chia sẻ trang này