1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Nhiều tin bài trên báo, trên VTV dòng tiền nóng rất nhiều quĩ nhắm tới Thị trường việt nam khắp f319

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi tuananhdao, 07/11/2010.

Có 6796 người đang online, trong đó có 281 thành viên. 10:22 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 853 lượt đọc và 13 bài trả lời
  1. tuananhdao

    tuananhdao Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/03/2007
    Đã được thích:
    3
    Khà khà anh em tây mú điên cuồng còn anh em nội mai hưởng ứng múc tất tay =D>=D>=D>
  2. tuananhdao

    tuananhdao Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/03/2007
    Đã được thích:
    3
    Thứ 3, 01/06/2010, 09:27
    Nửa cuối năm 2010: TTCK sẽ bật mạnh
    Đó là nhận định của ông Lawrence Wolfe, Giám đốc Phát triển kinh doanh, CTCK Đông Á tại hội thảo về TTCK do Công ty tổ chức cuối tuần qua.



    p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal { margin: 0in 0in 0.0001pt; font-size: 14pt; font-family: "Times New Roman"; }div.Section1 { page: Section1; } Ông Lawrence Wolfe cho rằng, khủng khoảng nợ công ở châu Âu tác động trực tiếp đến nền kinh tế và TTCK Việt Nam là không đáng kể. Làm rõ hơn những nhận định này, ĐTCK đã có cuộc trao đổi với ông Lawrence Wolfe bên lề hội thảo.
    Trong thời gian vừa qua, TTCK Việt Nam chịu nhiều tác động từ diễn biến của TTCK thế giới, mà nguyên nhân quan trọng nhất là tác động từ thông tin liên quan đến khủng hoảng nợ công tại châu Âu, cụ thể là Hy Lạp, Tây Ban Nha và Iceland. Ông đánh giá như thế nào về tác động của cuộc khủng hoảng này đến kinh tế và TTCK Việt Nam?
    Cần phải khẳng định ngay rằng, khủng hoảng nợ công trong khu vực đồng tiền chung EUR (eurozone) không ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam. Theo thống kê, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ châu Âu là khoảng 13%, trong đó từ Hy Lạp, Tây Ban Nha và Iceland chỉ chiếm khoảng 0,02% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Khu vực có nguồn vốn đầu tư lớn nhất vào Việt Nam là châu Á và Mỹ.
    Xuất khẩu của Việt Nam sang 3 nước châu Âu trên cũng rất khiêm tốn, chỉ khoảng 1,79% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong khi đó, theo ước tính của Ngân hàng HSBC, EUR vẫn được dự đoán là mạnh lên so với USD và thực tế cho thấy, dòng vốn từ khu vực châu Âu sang châu Á có xu hướng tăng hơn là giảm. Điều này có nghĩa là, tác động từ khủng hoảng nợ công của 3 nước nêu trên tới Việt Nam là rất khiêm tốn. Điều lớn nhất, theo tôi, có thể là ảnh hưởng tâm lý.
    Ông đánh giá thế nào về tình hình thực tế nền kinh tế Việt Nam?
    Tôi đánh giá nền kinh tế Việt Nam năm 2010 tốt hơn so với năm 2009 và tốt hơn rất nhiều so với năm 2008. Dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) về tăng trưởng kinh tế toàn cầu đã tăng từ mức 3,9% lên 4,2%, trong khi dự báo mới nhất về tăng trưởng GDP của Việt Nam cũng ở mức 6% đến 7,2%. Trong khi đó, thâm hụt thương mại các tháng gần đây khá ổn định, tổng thâm hụt thương mại 4 tháng đầu năm khoảng 4,6 tỷ USD, với nhập khẩu chủ yếu là hàng hóa, nguyên vật liệu phục vụ xuất khẩu. Tôi cho rằng, với việc phục hồi kinh tế trên thế giới, xuất khẩu của Việt Nam năm 2010 sẽ tăng khoảng 10% so với năm 2009.
    Về tỷ giá, trong tháng 2, VND đã giảm giá 3,3% so với USD. Không có lý do gì để VND giảm tiếp, trừ khi phục vụ mục tiêu kích thích xuất khẩu. Mức tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 và tháng 5 ở mức rất thấp. Kỳ vọng CPI năm 2010, theo báo cáo của Barclays và Deutsch Bank, cũng chỉ ở mức xấp xỉ 9%. Với những yếu tố này, tôi cho rằng, không có bất kỳ lý do nào từ phía nền kinh tế trong nước có thể tác động xấu đến TTCK.
    Theo ông, TTCK Việt Nam liệu có cơ hội bật mạnh trong nửa cuối năm 2010?
    Thống kê cho thấy, quý I/2009, tăng trưởng chỉ tiêu thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) của các DN đạt mức khá cao, dù đó là điểm đáy của khó khăn. Do đó, mức tăng thu nhập của các DN năm 2010 được dự báo khá khả quan.
    Trong khi đó, so sánh diễn biến VN-Index và HNX-Index thời gian qua với diễn biến TTCK thế giới, thì suốt 14 tháng phục hồi của TTCK nói chung, TTCK Việt Nam tăng rất nhẹ so với các nước khác. Nhưng kể từ khi xảy ra cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu, TTCK Việt Nam lại điều chỉnh giảm sâu hơn so với diễn biến chung. Chỉ số P/E bình quân (tính theo thu nhập năm 2009) hiện ở mức 13,7 lần, P/E dự kiến cho năm 2010 (theo tính toán của HSBC) là 11,4 lần…, cho thấy TTCK Việt Nam đang ở mức hấp dẫn và cạnh tranh hơn so với nhiều TTCK trong khu vực và trên thế giới. Tôi đồng ý với quan điểm của ông Mark Mobius (Quỹ Templeton) rằng, Việt Nam đang là một trong những TTCK rẻ nhất thế giới.
    Hai yếu tố trên, kết hợp với việc thanh khoản hệ thống ngân hàng đang ngày một cải thiện, tăng trưởng tín dụng tăng dần và lãi suất hạ nhiệt thời gian vừa là tín hiệu tích cực cho việc tăng nguồn cung tiền vào TTCK, từ đó giúp thị trường tăng điểm (thống kê trong 4 năm qua, lãi suất có quan hệ tỷ lệ nghịch với diễn biến của TTCK). Thêm vào đó, động thái mua ròng liên tục của khối NĐT nước ngoài cũng cho thấy, sức cầu đang tăng lên, khả năng TTCK Việt Nam tăng mạnh thời gian tới là hoàn toàn có thể.
    Ông đã từng dự báo, năm 2010, VN-Index có thể chạm mức 700 - 750 điểm. Với diễn biến TTCK hiện tại, ông nghĩ như thế nào về khả năng VN-Index chạm ngưỡng trên trong năm nay?
    Đầu năm, chúng tôi đã dự đoán VN-Index có khả năng đạt 700 - 750 điểm trong năm 2010, trên cơ sở đánh giá các yếu tố cơ bản và phân tích kỹ thuật theo lý thuyết sóng Fibonacci Retracement. Với việc TTCK điều giảm như vừa qua, chúng tôi cho rằng, TTCK sẽ bật mạnh trong 2 quý cuối năm nay, nhưng khả năng chạm ngưỡng trên thấp hơn, tức TTCK có thể phải mất nhiều thời gian hơn để tăng lên mức này.
    Theo Bùi Sưởng​
    Đầu tư chứng khoán​
  3. tuananhdao

    tuananhdao Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/03/2007
    Đã được thích:
    3
    Chủ nhật, 07/11/2010, 08:15
    “Giải mã” nghịch lý tỉ giá
    Mặt lợi của việc không điều chỉnh tỉ giá và thả lãi suất là làm cho người dân yên tâm về sự ổn định tương đối dài hơi bởi có sự can thiệp của Nhà nước.





    TS Cao Sĩ Kiêm, nguyên thống đốc Ngân hàng Nhà nước, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tiền tệ quốc gia, cho rằng phải điều hành rất quyết liệt mới giữ lạm phát năm nay ở một con số



    USD đang xuống giá trên thế giới, nhập siêu giảm... thì giá đồng tiền lại tăng mạnh ở nước ta. Ông lý giải ra sao về nghịch lý này?


    Nghịch lý này có lý của nó. Đó là phản ánh nền kinh tế và đồng tiền của chúng ta. Tỉ giá tăng có 3 nguyên nhân: Thứ nhất, cung cầu USD căng thẳng hơn trước, mất cân đối cung cầu sẽ đẩy giá USD lên.


    Cung cầu vẫn không bảo đảm là do bội chi ngân sách, nhập siêu vẫn ở mức cao trong khi không thu về được USD trôi nổi trên thị trường. Thứ hai, do tác động của nhiều yếu tố như chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cao làm người dân nghĩ tới chuyện đồng tiền mất giá; giá vàng cao, thị trường bất động sản trầm lắng, thị trường chứng khoán lình xình... nên dẫn tới tâm lý tích trữ USD.


    Thứ ba, người có USD không bán ra, người sắp phải thanh toán bằng USD thì mua vào trước do sợ rủi ro tỉ giá càng đẩy giá lên. Các doanh nghiệp đã có LC, đến hạn phải trả mà không mua được USD trong ngân hàng thì chấp nhận mua giá cao để thanh toán. Nếu không sẽ thiệt hại lớn hơn nhiều vì bị mất uy tín, bị phạt hợp đồng... Đây là những đặc thù ở nước ta mà nước khác hầu như không có.


    Ông nghĩ sao trước ý kiến cho rằng nghịch lý này còn xuất phát từ chính sách tiền tệ và lãi suất?


    Đúng là còn có sự méo mó của chính sách tiền tệ và lãi suất. Tỉ giá ở nước ta cũng phản ánh thực tế các yếu tố tâm lý, cung cầu, điều hành chính sách tiền tệ... Tỉ giá lên sẽ khiến giá nhập nguyên liệu, vật tư, thiết bị... phục vụ sản xuất, tiêu dùng cùng lên, dẫn tới giá thành bị đội lên.


    Giá thành cao sẽ kích lạm phát tăng và nếu lạm phát tăng lãi suất cũng phải lên theo. Đó là một phản ứng dây chuyền, tác động với nhau.


    Phải chăng cũng có sự lúng túng trong việc thực hiện các mục tiêu ưu tiên, khi thì vì tăng trưởng song lúc khác lại là kiểm soát lạm phát?


    Không phải hoàn toàn do sự lúng túng trong việc đặt ưu tiên nào lên trên. Khi chúng ta đã chủ trương ổn định kinh tế vĩ mô thì phải tập trung kiềm chế bằng được lạm phát, thắt chặt tín dụng lại.


    Khi ưu tiên tăng trưởng thì nới lỏng chính sách tiền tệ, nới tín dụng. Đây là hai ưu tiên với những chỉ đạo khác nhau nhưng lại nhất quán trong chủ trương thực hiện. Tuy nhiên, nếu thực hiện không đồng bộ sẽ dẫn tới chuệch choạc, lúng túng.


    Ví dụ, mới đây ngành ngân hàng muốn hạ lãi suất xuống nhưng ngành tài chính lại muốn bán trái phiếu Chính phủ với lãi suất cao. Sự “đá nhau” như vậy sẽ khó cho điều hành.






    Theo ông, việc giữ nguyên tỉ giá và thả nổi lãi suất thỏa thuận sẽ tác động thế nào?


    Sẽ có hai tác động. Trước hết là tác động tâm lý sẽ khiến người ta an tâm là đã có Nhà nước can thiệp, bán ngoại tệ ra để ổn định tỉ giá từ nay đến hết Tết Nguyên đán, dẫn tới hạn chế việc găm giữ ngoại tệ. Song việc bỏ chủ trương giữ và giảm lãi suất thì lãi suất sẽ tăng lên.



    Phải kiên quyết quản lý giá


    Các ngân hàng sẽ đua nhau tăng lãi suất thỏa thuận và như vậy rất có thể sẽ hình thành một mặt bằng lãi suất mới. Điều này sẽ đẩy chi phí, giá thành, CPI... lên.


    Là thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tiền tệ quốc gia, ông dự báo thế nào về lãi suất thời gian tới?


    Lãi suất sẽ lên sát với cung cầu hiện nay. Lãi suất thực tế thời gian qua là 14%-15%/năm nhưng chúng ta đã kéo xuống 11%. Thời gian tới, lãi suất thỏa thuận có thể lên tới mức lãi suất thực tế trước đây.


    Lãi suất như vậy ảnh hưởng thế nào tới tăng trưởng và lạm phát?


    Sẽ ảnh hưởng ngay tới lạm phát, làm CPI tăng. Lạm phát tăng cũng sẽ khiến sản xuất gặp khó khăn hơn vì lãi suất cao, giá đầu vào tăng làm khả năng sinh lời giảm xuống. Doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, việc làm khó khăn hơn... sẽ tác động tới tăng trưởng.


    Ông đánh giá thế nào về tác động hai mặt của việc không điều chỉnh tỉ giá và thả lãi suất?


    Mặt lợi là làm cho người dân yên tâm về sự ổn định tương đối dài hơi bởi có sự can thiệp của Nhà nước. Mặt trái là có thể hình thành một mặt bằng lãi suất mới, làm gia tăng chi phí, giá thành sản xuất. Tác động có thể xấu nếu quản lý, điều hành không quyết liệt.

    Theo Phạm Dương​
    Người Lao động
  4. tuananhdao

    tuananhdao Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/03/2007
    Đã được thích:
    3
    Thứ 2, 08/11/2010, 09:52

    Khép chặt cánh cửa vay vốn tiền đồng

    Các tín hiệu về định hướng tín dụng cuối năm được phát đi từ NHNN cho thấy cánh cửa vay vốn cuối năm đang ngày càng hẹp lại, đặc biệt với khối phi sản xuất.



    Không chỉ nâng lãi suất đầu vào lên 12%/năm đồng nghĩa với việc tăng thêm lãi suất cho vay VND, các tín hiệu về định hướng tín dụng cuối năm được phát đi từ NHNN cho thấy cánh cửa vay vốn cuối năm đang ngày càng hẹp lại, đặc biệt với khối phi sản xuất. Phản ứng tăng lãi
    Hiệu ứng tăng lãi suất VND trên thị trường ngay sau quyết định tăng các mức lãi suất VND thêm 1% của NHNN nhanh chóng được hàng loạt các NHTM đưa ra và chắc chắn sẽ là mặt bằng lãi suất mới trên thị trường kể từ ngày hôm nay (8.11).

    Ngay từ ngày 6.11, ba NHTM đầu tiên gồm MaritimeBank, DongABank và WesternBank đã tiến hành áp dụng biểu lãi suất mới cho tất cả các kỳ hạn huy động VND với mức lãi suất cao nhất tới12%/năm, cao hơn mức đỉnh 11%/năm vừa được thiết lập lại cách điều chỉnh của NHNN ít ngày.
    Ngoài biểu lãi suất tới 12%/năm nói trên, nhằm kích thích người gửi tiền, Western Bank thậm chí còn tặng thêm các loại quà tặng khác nhau có giá trị từ 0,7%/năm đến 3%/năm tính trên số tiền gửi. Lãi suất huy động thực tế trên thị trường vì thế có khả năng còn vượt mức 12%/năm.
    Các NHTM thuộc nhóm nhà nước cũng nhanh chóng tiến hành điều chỉnh biểu lãi suất kể cả huy động và cho vay. Trong số này, BIDV thông báo kể từ ngày 8.11 sẽ áp dụng biểu lãi suất huy động cho các kỳ hạn quanh mức 12%/năm.

    Một lãnh đạo của BIDV cho biết, dựa vào mốc 12%/năm này, các chi nhánh sẽ căn cứ vào tình hình lãi suất và cung cầu lãi suất thực tế trên địa bàn để quyết định mức lãi suất huy động cụ thể.
    Sự linh hoạt này nhằm tạo ra một biểu lãi suất phù hợp với mặt bằng chung tại từng địa bàn cũng như hài hòa mục đích huy động được vốn và đáp ứng nhu cầu cho vay sản xuất, xuất khẩu.
    Ngoài BIDV, cho đến chiều tối ngày 7.11, Vietcombank và Vietinbank vẫn chưa có động thái điều chỉnh lãi suất cụ thể. OceanBank là NHTM mới nhất công bố điều chỉnh lãi suất, trong đó áp dụng đồng loạt một mức lãi suất 12%/năm cho toàn bộ các kỳ hạn từ 1 tháng đến 36 tháng.

    Diễn biến này cũng gặp thấy ở hàng loạt kỳ hạn gửi tiền trong biểu lãi suất huy động của MaritimeBank, DongABank hay WesternBank và cho thấy, dù tăng thêm 1%/năm so với hai tuần cuối tháng 11, biểu lãi suất huy động VND mới ở một vài NHTM vẫn không có được sự lành mạnh và yếu tố cạnh tranh cần thiết giữa các kỳ hạn.
    Khó khăn vay vốn
    Một diễn biến dễ nhận thấy, khi tăng lãi suất đầu vào, chắc chắn lãi suất cho vay VND của các NHTM sẽ lại tăng trở lại với mức tăng trong trường hợp thấp nhất cũng tới 1%/năm so với trước đây. Kỳ vọng lãi vay giảm thêm chính thức không còn cơ sở. BIDV là NHTM đầu tiên công bố lãi vay VND mới trong đó ấn định lãi vay ngắn hạn tài trợ xuất khẩu ở mức 12,75%/năm.

    Riêng đối với các DN có doanh số xuất khẩu lớn, thu được nhiều ngoại tệ và cam kết bán lại cho NH, lãi cho vay có thể thấp hơn mức trên. Lãi suất cho vay ngắn hạn thông thường cũng được BIDV ấn định xoay quanh mức 14%/năm và mức lãi vay cụ thể sẽ được ấn định tại từng địa bàn theo nhu cầu thực tế và hiệu quả kinh doanh của DN.
    Riêng lãi suất cho vay trung, dài hạn được BIDV tính theo công thức, lãi suất tiết kiệm 12 tháng cộng mức 3,5%/năm. Với trần lãi suất huy động 12%/năm, lãi vay cao nhất của BIDV theo đó sẽ lên mức 15,5%/năm.

    Trước đó, theo tính toán của người đứng đầu Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia – ông Lê Đức Thúy - khi lãi suất huy động nằm ở khoảng 12-13%/năm và không có thêm bất kỳ khoản phụ phí nào, lãi suất cho vay nằm ở khoảng 15%-17%/năm sẽ là mức thị trường chấp nhận được. Thực tế, trước khi NHNN tiến hành điều chỉnh các mức lãi suất VND, lãi suất cho vay trên thị trường cũng ở gần sát mức 15-17%/năm.
    Song trong buổi làm việc cuối tuần qua với 5 NHTM nhà nước và 11 NHTM cổ phần, các thông tin được NHNN phát đi cho thấy, tăng trưởng tín dụng sẽ được kiểm soát chặt chẽ trong 2 tháng cuối năm.

    Ngoài yêu cầu cấp bách tập trung vốn cho các lĩnh vực ưu tiên và nhu cầu vốn cung ứng hàng hóa và dịch vụ thiết yếu, NHNN nhấn mạnh yêu cầu các NHTM tập trung đảm bảo thanh khoản.
    Với yêu cầu này, các NHTM chắc chắn sẽ phải xem xét và điều chỉnh lại cơ cấu tín dụng cho phù hợp với tình hình hoạt động của ngân hàng và một trong những điều chỉnh quan trọng là giảm bớt tín dụng đối với lĩnh vực phi sản xuất.
    Cùng với việc mặt bằng lãi vay tăng lên trái ngược với các kỳ vọng, các tín hiệu thắt chặt nói trên càng nhấn mạnh việc vay vốn sẽ là câu chuyện khó khăn trong hai tháng cuối năm.
    Theo Văn Nguyễn
    Báo Lao động

Chia sẻ trang này