1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

SCL - Hành trình 3 chữ số (P1)

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by tranminhdung1997, May 1, 2024.

516 người đang online, trong đó có 117 thành viên. 18:34 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 1)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. Nguoihuongnoi

    Nguoihuongnoi Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Dec 27, 2018
    Likes Received:
    2,546
    Chào ae. Chúc ae đầu tư thắng lợi.! :D
    Kqkd Q4 khá tốt mà ae có vẻ ít nói quá. :)
  2. anderherrera

    anderherrera Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Nov 15, 2017
    Likes Received:
    1,354
    SCL không bán gạch hay panel – SCL bán “tro bay đạt chuẩn kỹ thuật cao với chi phí thấp”, còn gạch/panel chỉ là cách monetize tốt nhất của tro bay đó.

    Công nghệ xử lý tro bay của SCL theo 3 lớp: (1) kỹ thuật – (2) kinh tế – (3) hào kinh tế (moat).

    1️⃣ Tro bay là gì – và vì sao “tro bay chuẩn” hiếm?
    Tro bay (fly ash) là bụi mịn thu được từ quá trình đốt than trong nhà máy nhiệt điện.
    Không phải tro bay nào cũng dùng được.

    Các chỉ tiêu “sống còn”
    • LOI (Loss On Ignition) – hàm lượng carbon chưa cháy
      → quyết định màu sắc, độ bền, khả năng phản ứng

    • Độ mịn (fineness / Blaine)

    • Thành phần hóa học ổn định (SiO₂ – Al₂O₃ – CaO)
    Ngưỡng quan trọng

    • Gạch / panel / vữa: LOI < 3%

    • Xuất Mỹ, thủy điện, HSR: LOI < 1–2%
    Tro bay thô ở Việt Nam thường:

    • LOI 5–15%

    • Không ổn định giữa các lò đốt
      không thể dùng trực tiếp
    2️⃣ Công nghệ xử lý tro bay của SCL gồm những gì?
    Bản chất: Fly ash beneficiation
    Không phải nghiền, mà là tách – tuyển – ổn định

    SCL đã hoàn thiện chuỗi công nghệ khép kín trong hơn 10 năm:

    (1) Thu gom & phân loại sơ cấp
    • Tro bay từ Phả Lại, Vĩnh Tân

    • Tách tro bay – xỉ đáy – tạp chất lớn

    • Kiểm soát theo nguồn lò đốt cụ thể (rất quan trọng)
    (2) Tuyển nổi / tuyển khô – tách carbon
    Đây là lõi công nghệ

    • Sử dụng tuyển nổi ướt / tuyển khô kết hợp

    • Mục tiêu: loại carbon chưa cháy

    • Sau tuyển:
      • LOI từ 7–10% → <1%

      • Màu tro xám sáng, không đen
    Công đoạn này:

    • Rất nhạy cảm với:
      • Nhiệt độ

      • Thành phần than

      • Độ ẩm
    • Không có recipe chung → phải tích lũy know-how
    (3) Sấy – ổn định độ ẩm
    • Độ ẩm được đưa về mức ổn định

    • Quan trọng cho:
      • Phản ứng khí hóa trong AAC

      • Độ mịn và độ bám của vữa
    (4) Phân cấp & blending (trộn ổn định)
    • Trộn tro từ nhiều mẻ → đồng nhất hóa

    • Đảm bảo:
      • Thành phần ổn định theo lô

      • Đạt chuẩn ASTM C618 / EN / JIS
    Đây là bước mà nhiều đối thủ không làm được, vì:

    • Cần kho lớn

    • Cần dữ liệu dài hạn

    • Cần kỷ luật vận hành
    3️⃣ Vì sao công nghệ này tạo ra MOAT?
    ️ Moat 1: Không copy được nhanh
    • Không phải mua máy là xong

    • Cần:
      • Dữ liệu vận hành nhiều năm

      • Hiểu từng nhà máy nhiệt điện

      • Hiểu từng mẻ than
    ⏱️ Thời gian học: 5–10 năm

    ️ Moat 2: Chi phí thấp hơn cát / đá / clinker
    • Tro bay là phế thải

    • SCL:
      • Vừa xử lý môi trường cho nhà máy điện

      • Vừa lấy nguyên liệu giá rẻ
    • Trong khi:
      • Cát: khan hiếm, giá tăng phi mã

      • Clinker: phát thải cao, bị siết CO₂
    Biên lợi nhuận của gạch/panel SCL không bị bóp khi giá nguyên liệu tăng

    ️ Moat 3: Mở khóa cả chuỗi sản phẩm
    Tro bay LOI <1% cho phép:

    • Gạch AAC: không nứt, không đen

    • Panel ALC: bền, chịu lực

    • Vữa khô: mịn, bám

    • Bê tông RCC thủy điện

    • Đường sắt cao tốc (HSR)
    Nếu tro bay không đạt chuẩntoàn bộ chuỗi phía sau sập.

    4️⃣ Vì sao chỉ SCL dám mở nhà máy panel lớn?
    Câu trả lời rất thẳng:

    Panel ALC là bài toán đầu vào, không phải bài toán thị trường.

    • Thị trường: ai cũng thấy cháy hàng

    • Nhưng:
      • Không có tro bay chuẩn, rẻ, dài hạn

      • → mở nhà máy = tự sát biên lợi nhuận
    SCL mở vì biết chắc đầu vào không “chết giữa đường
  3. tranminhdung1997

    tranminhdung1997 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Oct 12, 2018
    Likes Received:
    3,200
    thấy có cổ đông hô Vin định mở nhà máy aac mà sau khi đi nghiên cứu thị trường thì bó tay vì éo có nguồn cát lớn + giá ổn định :v đợi a Mát mở nhà máy rồi mua hàng thì khả thi hơn :)):)):))
    xuangiangkr and anderherrera like this.
  4. anderherrera

    anderherrera Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Nov 15, 2017
    Likes Received:
    1,354
    Gạch của SCL vượt gần 500km từ Hải Dương vào Hà Tĩnh cho dự án nhà máy pin ở Vũng Áng, chứng tỏ sản phẩm cũng cạnh tranh tốt.

    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
  5. jack_aubrey

    jack_aubrey Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Apr 10, 2010
    Likes Received:
    705
    oldinvestor and tranminhdung1997 like this.
  6. tranminhdung1997

    tranminhdung1997 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Oct 12, 2018
    Likes Received:
    3,200
    Việt Nam lần đầu phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính


    Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà vừa ký Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 9/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025-2026.

    Cụ thể, tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm năm 2025 là 243.082.392 tấn CO2 tương đương và năm 2026 là 268.391.454 tấn CO2 tương đương.

    Từ tổng hạn ngạch này, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng thí điểm phân bổ hạn ngạch cho 34 nhà máy nhiệt điện, 25 cơ sở sản xuất sắt thép, 51 cơ sở sản xuất xi măng. Đây là lượng khí nhà kính tối đa mỗi cơ sở được phép phát thải cho năm 2025 và năm 2026.

    Giai đoạn thí điểm thị trường carbon của Việt Nam đến năm 2028 có mục tiêu cốt lõi là giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là các cơ sở phát thải lớn, làm quen với các khái niệm, nguyên tắc và cơ chế vận hành của thị trường các-bon. Vì vậy, hạn ngạch phát thải khí nhà kính sẽ được phân bổ miễn phí 100%. Các cơ sở có thể vay mượn hạn ngạch giữa các giai đoạn, chuyển giao hạn ngạch chưa sử dụng sang giai đoạn sau.

    Các cơ sở cũng có thể sử dụng tín chỉ các-bon từ các dự án thuộc các cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon để bù cho lượng phát thải khí nhà kính vượt quá hạn ngạch phát thải khí nhà kính được phân bổ trong 1 giai đoạn cam kết. Số lượng tín chỉ các-bon để bù trừ phát thải không được vượt quá 30% tổng số hạn ngạch phát thải khí nhà kính được phân bổ cho cơ sở.

    Vào cuối mỗi giai đoạn, các cơ sở phải nộp tiền thanh toán cho lượng phát thải khí nhà kính vượt quá số hạn ngạch phát thải khí nhà kính được phân bổ sau khi áp dụng các hình thức đấu giá, chuyển giao, vay mượn, sử dụng tín chỉ các-bon để bù trừ. Ngoài việc phải nộp tiền thanh toán, lượng phát thải khí nhà kính vượt quá lượng hạn ngạch được phân bổ sẽ bị trừ vào hạn ngạch phân bổ cho giai đoạn sau đó. Mặt khác, Nhà nước khuyến khích các cơ sở tự nguyện nộp trả hạn ngạch phát thải khí nhà kính chưa sử dụng hết góp phần thực hiện mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính của quốc gia.

    Sau giai đoạn 2025-2026, việc tổ chức phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho cơ sở tiếp tục cho giai đoạn 2027-2028 và giai đoạn 2029-2030. Danh mục các cơ sở được phân bổ hạn ngạch phát thải sẽ thay đổi dựa trên đề xuất của các bộ quản lý lĩnh vực.


    Công ty Cổ phần Sông Đà Cao Cường (SCL) là 1 trong 4 doanh nghiệp tiên phong tham gia thí điểm Chương trình Thỏa thuận tự nguyện (VAS) về tiết kiệm năng lượng từ năm 2023, thể hiện cam kết mạnh mẽ trong tối ưu hóa năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính và phát triển công nghiệp xanh.
    Chương trình nằm trong khuôn khổ hợp tác năng lượng Việt Nam – Đan Mạch (DEPP3) giai đoạn 2020-2025.
    oldinvestor and xuangiangkr like this.
  7. tranminhdung1997

    tranminhdung1997 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Oct 12, 2018
    Likes Received:
    3,200
  8. anderherrera

    anderherrera Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Nov 15, 2017
    Likes Received:
    1,354
    TGĐ Chiến nói mục tiêu doanh thu nghìn tỷ năm 2026 hoàn toàn có thể đạt được
    stock1984 likes this.
  9. tranminhdung1997

    tranminhdung1997 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Oct 12, 2018
    Likes Received:
    3,200
    NHÀ MÁY SCL PANEL ĐẬP BÌNH GIANG – BƯỚC TIẾN CHIẾN LƯỢC TRONG PHÁT TRIỂN VẬT LIỆU XÂY DỰNG HIỆN ĐẠI

    Trong bối cảnh thị trường xây dựng ngày càng đòi hỏi cao về tính bền vững, chất lượng và tiến độ, Công ty Cổ phần Sông Đà Cao Cường chính thức triển khai Dự án Nhà máy sản xuất Panel tại khu vực Đập Bình Giang – một dự án trọng điểm mang ý nghĩa chiến lược trong định hướng mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong giai đoạn mới.

    [​IMG]

    Vị trí chiến lược – Hạ tầng đồng bộ

    Nhà máy Panel Đập Bình Giang được đầu tư xây dựng tại khu vực có lợi thế về hạ tầng giao thông, quỹ đất ổn định và khả năng kết nối thuận lợi với các vùng kinh tế trọng điểm. Đây là tiền đề quan trọng giúp SCL tối ưu chi phí logistics, chủ động nguồn cung sản phẩm và rút ngắn thời gian phục vụ thị trường.

    [​IMG]

    Quy mô hiện đại – Công nghệ tiên tiến

    Dự án được đầu tư với quy mô lớn, dây chuyền sản xuất panel hiện đại, áp dụng công nghệ tiên tiến nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn và môi trường theo quy định hiện hành. Khi đi vào vận hành, nhà máy sẽ cung cấp ra thị trường các dòng panel chất lượng cao, phục vụ đa dạng nhu cầu từ nhà xưởng công nghiệp, kho vận, đến các công trình dân dụng và hạ tầng.

    [​IMG]

    Việc đầu tư bài bản ngay từ khâu thiết kế, lựa chọn thiết bị và tổ chức sản xuất thể hiện cam kết lâu dài của SCL trong việc phát triển sản phẩm bền vững, ổn định chất lượng và thân thiện với môi trường.

    Điều chỉnh tổng mức đầu tư – Chủ động cho hiệu quả dài hạn

    Trên cơ sở rà soát toàn diện các hạng mục, biến động giá nguyên vật liệu và yêu cầu nâng cao chất lượng đầu tư, SCL đã chủ động điều chỉnh tổng mức đầu tư của dự án nhằm đảm bảo tính đồng bộ, hiệu quả và khả năng vận hành ổn định trong dài hạn. Đây là bước đi thể hiện tầm nhìn chiến lược và sự thận trọng trong quản trị dự án, hướng tới tối ưu hiệu quả kinh tế và giá trị mang lại.

    Động lực mới cho phát triển kinh tế – xã hội địa phương

    Không chỉ mang ý nghĩa về mặt sản xuất – kinh doanh, Nhà máy Panel Đập Bình Giang còn góp phần tạo thêm việc làm, tăng thu ngân sách và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Dự án được kỳ vọng sẽ trở thành một điểm nhấn công nghiệp mới, đồng hành cùng sự phát triển bền vững của khu vực.

    [​IMG]

    Khẳng định vị thế SCL trên thị trường vật liệu xây dựng

    Việc đầu tư Nhà máy Panel Đập Bình Giang là minh chứng rõ nét cho năng lực tài chính, kinh nghiệm triển khai dự án và khát vọng vươn xa của SCL. Đây không chỉ là một nhà máy mới, mà còn là bước tiến quan trọng trong hành trình khẳng định thương hiệu SCL trên thị trường vật liệu xây dựng hiện đại, chuyên nghiệp và cạnh tranh cao./.

    [​IMG]



    Năm mới chúc ae cổ đông SCL năm nay rực rỡ, nhiều may mắn
  10. tranminhdung1997

    tranminhdung1997 Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Oct 12, 2018
    Likes Received:
    3,200
    https://vov.vn/kinh-te/de-make-in-viet-nam-vuon-tam-quoc-te-post1268707.vov

    Để “make in Việt Nam” vươn tầm quốc tế

    2026 là năm bản lề để Việt Nam bắt đầu thực hiện khát vọng vươn xa và phát triển bền vững. Trên hành trình đó Việt Nam cần có những sản phẩm “make in Việt Nam” ghi dấu ấn với thị trường quốc tế.

    Thiếu cơ chế khuyến khích

    Việt Nam đang đứng trước thời cơ lịch sử để thực hiện hành trình khát vọng vươn xa của đất nước. Trên hành trình đó, cơ hội và thách thức tồn tại song hành, tuy nhiên với tinh thần doanh nghiệp dân tộc, nhiều doanh nghiệp đang nỗ lực từng ngày để đưa các sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam vươn tầm khu vực và quốc tế.

    Gặp chúng tôi trong những ngày cuối năm Ất Tỵ 2025, ông Vũ Văn Chiến, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Sông Đà Cao Cường (chuyên sản xuất vật liệu xây dựng xanh, thân thiện với môi trường) chia sẻ, công ty là đơn vị tiên phong tại Việt Nam trong việc làm chủ công nghệ sản xuất bê tông khí chưng áp, với sản phẩm chính là gạch bê tông khí chưng áp và tấm bê tông ALC (sử dụng rộng rãi trong xây dựng dân dụng, công nghiệp...), đã được xuất khẩu sang thị trường Đông Nam Á như Philippines, Singapore…. Đây hoàn toàn là sản phẩm “make in Việt Nam”, do doanh nghiệp nghiên cứu, thiết kế, làm chủ công nghệ, sản xuất đạt tiêu chuẩn quốc gia và tương đương các tiêu chuẩn quốc tế như Đức, Trung Quốc cùng một số tiêu chuẩn của Nhật Bản, Mỹ.

    Tuy nhiên, việc phát triển sản phẩm “make in Việt Nam” không dễ dàng, đặc biệt trong lĩnh vực đòi hỏi công nghệ cao và vốn lớn, do có có một số vướng mắc như: Thiếu cơ chế khuyến khích mạnh mẽ; chi phí đầu tư cho công nghệ, R&D và đào tạo nhân lực thường rất lớn, không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được.

    “Trong kỷ nguyên mới, doanh nghiệp Việt đang đứng trước thời cơ và thách thức để khẳng định năng lực và đưa sản phẩm của mình vươn tầm quốc tế. Chúng tôi rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc cho vay vốn với lãi suất ưu đãi và có bảo lãnh đầu tư để mở rộng, nâng cao công suất nhà máy; nghiên cứu phát triển (R&D), chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực chất lượng cao. Có chính sách giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế xuất khẩu cho doanh nghiệp có sản phẩm “make in Việt Nam” đã ghi dấu ấn trên thị trường quốc tế. Đặc biệt, ưu tiên sử dụng sản phẩm “make in Việt Nam” trong các dự án lớn, giúp doanh nghiệp có thị trường ổn định để đầu tư dài hạn”, ông Chiến đề nghị.

    [​IMG]
    Dây chuyền sản xuất bê tông khí chưng áp, với sản phẩm chính là gạch bê tông khí chưng áp và tấm bê tông ALC của Công ty Cổ phần Sông Đà Cao Cường
    Hiện sản phẩm “make in Việt Nam” có thể vươn tầm thế giới chưa có nhiều, theo bà Nguyễn Thị Minh Giang, Đồng sáng lập, Tổng Giám đốc Công ty Đào tạo và Tư vấn Newing, hơn 97% doanh nghiệp Việt Nam thuộc nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, hầu hết đều đang gặp hai vấn đề bế tắc: 1 là đi “ngang” (tức là dậm chân tại chỗ), 2 là có cơ hội phát triển nhưng lại thiếu nguồn lực để bứt phá. Vì lẽ đó, các sản phẩm của Việt Nam gặp nhiều thách thức trên hành trình vươn tầm quốc tế.

    Thể chế, chính sách là bệ phóng

    Trên hành trình “make in Việt Nam”, việc tiếp cận thị trường quốc tế là thách thức lớn, đòi hỏi sản phẩm của doanh nghiệp Việt phải đáp ứng tiêu chuẩn cao, có chiến lược dài hạn về thương hiệu và kênh phân phối.

    GS. TS Hoàng Văn Cường, Ủy viên Ủy ban Kinh tế - Tài chính của Quốc hội cho rằng, muốn có những sản phẩm “make in Việt Nam” vươn tầm thế giới, cần có sự hợp lực, liên kết giữa các doanh nghiệp để cùng nâng tầm và đồng hành phát triển, tạo ra sản phẩm chiếm lĩnh thị trường thế giới. Liên kết ở đây không đơn thuần chỉ là liên kết các doanh nghiệp trong nước, mà còn phải liên kết các nhà sản xuất trong nước với các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và các nhà tiêu thụ quốc tế. Hiện nay, để tiếp cận thị trường quốc tế, Nhà nước đã ký rất nhiều các thỏa thuận hợp tác, Hiệp định thương mại, tuy nhiên việc tiếp cận này vẫn đang do chính doanh nghiệp tự thân vận động, thông qua Hội nghị xúc tiến đầu tư, hội chợ thương mại, triển lãm...

    “Chúng ta chưa có những chương trình, chiến lược thực sự về việc xúc tiến, kết nối thị trường để doanh nghiệp đưa sản phẩm ra thế giới, rồi là nhu cầu, tiêu chuẩn của thị trường quốc tế ra sao, các doanh nghiệp Việt cũng chưa nắm bắt được, do thiếu thông tin cụ thể. Những việc đó chưa làm tốt, thì làm sao sản phẩm của Việt Nam vươn tầm thế giới được. Cần có những doanh nghiệp đầu đàn, đóng vai trò dẫn dắt, kết nối, làm chủ chuỗi giá trị; Nhà nước tập trung hỗ trợ vốn, công nghệ, đầu tư cho doanh nghiệp đầu đàn đó để dẫn đường cho các doanh nghiệp khác”, GS Cường nhấn mạnh.

    “Make in Việt Nam” không chỉ là câu chuyện đơn lẻ của một doanh nghiệp, mà là sự kỳ vọng về một mô hình hợp tác mới, nơi các doanh nghiệp có thể liên kết, chia sẻ nguồn lực và cùng tạo ra giá trị chung, bà Phạm Thị Ngọc Thủy, Giám đốc Văn phòng Ban Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tư nhân (Ban IV) chia sẻ: “Điều mà doanh nghiệp mong muốn không phải là cơ chế xin - cho, mà là mô hình hợp tác “công - tư cùng kiến tạo” - nơi Nhà nước và doanh nghiệp cùng tham gia vào quá trình hoạch định và triển khai chiến lược phát triển. Doanh nghiệp kỳ vọng được cùng Nhà nước thiết kế những chương trình, dự án, chính sách chiến lược, có tính khả thi cao, để các cơ hội quốc gia không chỉ nằm trên giấy, mà được cụ thể hóa thành hành động và kết quả thực tế”.

    [​IMG]
    Tổ hợp tên lửa Trường Sơn do Việt Nam tự nghiên cứu sản xuất
    “Make in Việt Nam” là hành trình kiến tạo vị thế mới cho doanh nghiệp Việt vươn ra thị trường quốc tế - là thương hiệu đại diện cho bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam. Để làm được điều đó, thể chế, chính sách phải trở thành bệ phóng để doanh nghiệp dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo và đầu tư, nghiên cứu, phát triển, làm chủ công nghệ để tạo ra sản phẩm có giá trị cao; xã hội cần tin dùng sản phẩm “make in Việt Nam”, để tạo ra thị trường nội địa với sức tiêu dùng lớn, cổ vũ tinh thần cho doanh nghiệp phát triển.

    Một mùa xuân mới đang về trên khắp mọi miền Tổ quốc, mang theo khí thế mới, xung lực mới và khát vọng cao cả về sự phồn vinh, hạnh phúc của một quốc gia, dân tộc. Những sắc thắm của hoa đào, màu xanh của chồi xuân báo hiệu một niềm tin và hy vọng với bước chân mạnh mẽ trên hành trình bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc.
    jack_aubrey likes this.

Share This Page