1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Sốc....

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi miplatini, 11/05/2011.

Có 1562 người đang online, trong đó có 139 thành viên. 21:19 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1599 lượt đọc và 20 bài trả lời
  1. miplatini

    miplatini Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    19/12/2009
    Đã được thích:
    29
  2. miplatini

    miplatini Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    19/12/2009
    Đã được thích:
    29
    Cho vay chứng khoán ồ ạt đang góp phần kìm hãm TTCK năm nay
    Thứ tư, 11/5/2011, 10:57 GMT+7

    Việc cho vay chứng khoán ồ ạt năm 2010 đã ảnh hưởng tới khả năng phục hồi của thị trường chứng khoán (TTCK) năm 2011 do sự cộng hưởng của chi phí tài chính cao và nguồn vốn bị thắt chặt.

    * Bao lâu nên cân đối lại danh mục đầu tư?

    Đây được coi là một trong những yếu tố làm chậm lại sự tăng trưởng của TTCK năm nay, ngay cả khi thị trường đón nhận tin tích cực.

    Nguồn cung từ margin còn rất lớn

    Từ tháng 12/2010 đến nay, thị trường ít nhắc đến tác động của các khoản vay margin (cho vay) bị thu hồi tới diễn biến của các chỉ số. Nguyên nhân chính là giả định các công ty chứng khoán (CTCK) hầu như đã rút hoặc thu nhỏ tối đa nghiệp vụ này.

    Tuy nhiên, theo nghiên cứu, rủi ro từ các khoản vay margin năm 2010 sẽ tiếp tục tạo áp lực nguồn cung lớn trong năm 2011, nhất là khi thị trường có dấu hiệu hồi phục.

    Chẳng hạn trong năm 2010, hàng ngàn tỷ đồng được các CTCK sử dụng vào mục đích margin. Nhiều khoản cho vay không được thể hiện hoàn toàn bản chất trên báo cáo tài chính do hoạt động này thực tế là hoạt động “chui”.

    Riêng chu kỳ hồi phục cuối tháng 11, đầu tháng 12/2010, thanh khoản nhiều phiên liên tục đạt mốc 3.000 - 5.000 tỷ đồng/phiên. Ngay sau đó, thị trường “rơi” tự do, cả về thanh khoản và điểm số. Các mã penny, được các nhà đầu tư (NĐT) vay margin chủ yếu trong năm 2010, mất trung bình từ 30 - 50%, hầu như không còn thanh khoản.

    Như vậy, thực chất, các mã chứng khoán vay margin đã đến giới hạn thu hồi của các CTCK dù còn dưới tên khách hàng hay đã chuyển sang các mã tự doanh. Đối với các công ty sử dụng vốn tự có để cho vay thì an toàn hơn, chờ thị trường tăng trở lại sẽ bán ra. Tuy nhiên, nếu công ty sử dụng nguồn vốn đi vay bên ngoài (chiếm đa số) thì càng để lâu, CTCK càng gặp nhiều vấn đề.

    Đó chính là áp lực chi phí tài chính. Trên thực tế, các công ty vẫn phải trả lãi vay tới gần 20%/năm trong khi không có nguồn thu. Khách hàng bị “kẹp hàng" hầu như không còn khả năng tài chính, cơ bản đã bị thu hồi tài khoản. Sau đó là áp lực bị thu hồi vốn, việc thắt chặt tín dụng trong lĩnh vực phi sản xuất cùng với nguồn vốn khan hiếm tạo áp lực rút vốn của các chủ nợ.

    Nếu trung bình các khoản vay từ 3 - 6 tháng thì quý II sẽ rơi vào giai đoạn thu hồi vốn từ các CTCK. Cách duy nhất để có tiền trả nợ là bán danh mục cầm cố và danh mục tự doanh nếu có cơ hội.

    Thị trường do đó đang tiềm ẩn áp lực nguồn cung rất lớn. Nguồn cung này chưa xuất hiện vì thanh khoản còn thấp, nhưng sẽ nhanh chóng xuất hiện nếu có tín hiệu dòng tiền vào. Vấn đề là lấy đâu ra vài chục ngàn tỷ để hấp thụ nguồn cung này nếu mặt bằng lãi suất chưa giảm và tín dụng vẫn bị thắt chặt.

    Đối với NĐT còn khả năng tài chính để duy trì các khoản margin áp lực cũng không nhỏ. Nếu giá cổ phiếu đi xuống, để duy trì tài khoản, NĐT sẽ tiếp tục phải “bơm tiền" vào hoặc mua vào để giữ giá chứng khoán. Nguồn tiền này đã chảy mạnh trong tháng 1 - 2 nhưng đến nay đang có dấu hiệu suy kiệt khi thanh khoản 2 sàn liên tục duy trì dưới mức 1.000 tỷ đồng/phiên.

    Như vậy, với nhóm nhà đầu cơ năm 2010 và các CTCK hỗ trợ các hoạt động đầu cơ này năm 2010, lãi suất đang tạo ra áp lực vô hình ngày càng lớn. Nếu thị trường còn lình xình kéo dài thì rủi ro của nguồn cung xả hàng với giá sàn sớm muộn sẽ xuất hiện khi các khoản vay để sử dụng margin của các CTCK đáo hạn. Đây là sự khác biệt cơ bản của TTCK năm 2011 so với TTCK năm 2009.

    Chìa khóa vẫn là thanh khoản

    Như đã đề cập ở trên, việc sử dụng ồ ạt dịch vụ tài chính trong năm 2010 khi nhiều mã cổ phiếu cao hơn từ 30 - 100% so với giá trị hiện nay đang trở thành sức ép không nhỏ tới nguồn cung cổ phiếu khi thị trường có tín hiệu hồi phục yếu để thu hồi vốn.

    Điều đó giải thích vì sao thị trường bước sang tháng 5 đón nhận nhiều tin tức trái chiều mặc dù không có đột biến. Hy vọng lớn nhất trong tháng 5 là khả năng lạm phát sẽ giảm mạnh so với mức 3,32% của tháng 4.

    Tuy nhiên, với dự đoán 1,8 - 2% (Bộ Công Thương) đồng nghĩa với thực tế CPI vẫn duy trì ở mức rất cao so với cùng kỳ nhiều năm trước. Với mức lạm phát trên, có thể thấy rằng sự thay đổi định hướng chính sách tiền tệ trong ngắn hạn nên dòng tiền vào TTCK sẽ tiếp tục khó khăn.

    Thêm vào đó, tính từ tháng 1 tới nay, tâm lý NĐT hầu như không thay đổi. Thanh khoản thấp trong những phiên giao dịch cuối cùng của tháng 4 bất chấp VN-Index có sự khởi sắc cho thấy nhìn chung NĐT vẫn dè dặt với thị trường trong khi nguồn cung vẫn khá dồi dào.

    Cuối cùng, do chính sách tiền tệ đang tác động mạnh tới dòng tiền vào thị trường đã ảnh hưởng đến thanh khoản tháng 5. Và trong thời điểm hiện nay, chỉ số giảm mạnh đi kèm với thanh khoản tăng cao (trên 2.000 tỷ đồng/phiên) lý tưởng hơn nhiều so với chỉ số tăng và thanh khoản kiệt quệ.

    Từ đó có thể nói rằng, nếu thanh khoản còn dưới mức 1.500 tỷ đồng/phiên (hai sàn) thì chưa có cơ sở để kỳ vọng vào khả năng hồi phục bền vững của thị trường.

    Thị trường dự đoán sẽ tiếp tục thử thách kiên nhẫn của NĐT trong tháng 5 với biên độ dao động hẹp của hai chỉ số chính.(Nguồn: DNSG, 11/5)
  3. nhimcon2010

    nhimcon2010 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    04/06/2010
    Đã được thích:
    2.671
    Thế ah... Còn ít nhất 10 lý do tương tự !
  4. miplatini

    miplatini Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    19/12/2009
    Đã được thích:
    29
    lại còn thế này nữa:


    SCIC vẫn tự tin thoái vốn tại một loạt doanh nghiệp
    Thứ tư, 11/5/2011, 11:35 GMT+7

    Bất chấp TTCK diễn biến không thuận lợi, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) vẫn thực hiện bán đấu giá cổ phần tại một loạt doanh nghiệp.

    * SCIC sẽ không thoái vốn tại VNM

    Thoái vốn tại 287 doanh nghiệp

    Mới đây, SCIC thông báo thoái vốn tại CTCP Xuất nhập khẩu lâm thủy sản Bến Tre (FBT). Số lượng chào bán là 4,924 triệu cổ phiếu, tương đương 32,828% vốn điều lệ FBT. Giá chào bán SCIC kỳ vọng không thấp hơn 10.600 đồng/CP và đây sẽ là mức giá sàn tại thời điểm thực hiện giao dịch bán (ngày ký kết hợp đồng chuyển nhượng). Để được mua cổ phiếu này, đối tác phải có cam kết không chuyển nhượng toàn bộ số cổ phiếu mua được tối thiểu trong vòng 3 năm kể từ ngày nhận chuyển nhượng; có cam kết hỗ trợ thu hồi công nợ cho SCIC trước ngày 31/12/2011; có phương án nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đảm bảo việc làm, cải thiện thu nhập, đời sống cho người lao động.

    Ngay sau khi SCIC thông báo về đợt thoái vốn này, CTCP Hùng Vương (HVG) ra thông báo Nghị quyết HĐQT mua lại cổ phiếu FBT từ SCIC, với số lượng dự kiến đăng ký mua là 2,8 triệu đơn vị. Năm 2010, FBT bị lỗ 225,12 tỷ đồng. Hiện FBT có vốn điều lệ 150 tỷ đồng, thặng dư vốn cổ phần 233 tỷ đồng.

    Ông Phan Văn Trí, Tổng giám đốc FBT cho biết, sau khi ổn định cổ đông chiến lược, doanh nghiệp sẽ sớm công bố chiến lược phát triển mới, với mục tiêu năm 2011 không lỗ và có lãi trong những năm tiếp theo.

    Không chỉ doanh nghiệp niêm yết, SCIC cũng thực hiện thoái vốn tại nhiều doanh nghiệp chưa niêm yết. Trong khoảng thời gian từ 28/4 đến 16/5, SCIC nhận tiền đặt cọc bán đấu giá cổ phiếu tại CTCP Đầu tư và xây dựng công trình đô thị Đà Nẵng. Số lượng cổ phiếu SCIC bán đấu giá là 1,127 triệu cổ phiếu, giá khởi điểm 15.000 đồng/CP. Từ 27/4 đến 17/5, SCIC nhận tiền đặt cọc đấu giá mua cổ phiếu tại CTCP Dược và y tế Bình Thuận. Doanh nghiệp này có vốn điều lệ 13,02 tỷ đồng. SCIC đấu giá toàn bộ 211.250 cổ phiếu sở hữu tại doanh nghiệp, với giá khởi điểm 21.000 đồng/CP.

    Theo kế hoạch năm 2011, SCIC sẽ thực hiện thoái vốn tại 287 doanh nghiệp, dưới hai hình thức: đấu giá (đối với doanh nghiệp chưa niêm yết), khớp lệnh (đối với doanh nghiệp đã niêm yết hoặc đăng ký giao dịch). Các doanh nghiệp thoái vốn đảm bảo tiêu chí không thuộc danh mục ngành nghề Nhà nước cần nắm cổ phần chi phối, có quy mô vốn nhỏ, làm ăn không thực sự hiệu quả.

    Tự tin thoái vốn

    “Mặc dù thị trường không thuận lợi, nhưng SCIC vẫn thực hiện thoái vốn tại các doanh nghiệp là do kế hoạch đã được định trước”, ông Lê Song Lai, Phó tổng giám đốc SCIC nói. Theo ông Lai, năm 2010 cũng là một năm rất khó khăn, nhưng SCIC vẫn bán vốn thành công tại nhiều doanh nghiệp, với mức giá bình quân gấp 2,3 lần mệnh giá. Năm 2010, SCIC đã thực hiện bán vốn nhà nước tại 106 doanh nghiệp (trong đó bán toàn bộ vốn nhà nước tại 97 doanh nghiệp), giá trị theo sổ kế toán là 278 tỷ đồng, thực tế thu về 642 tỷ đồng.

    Tính đến thời điểm 31/12/2010, SCIC đã tiếp nhận vốn nhà nước tại 932 doanh nghiệp, bán vốn thành công tại 442 doanh nghiệp (trong đó bán toàn bộ vốn nhà nước tại 399 doanh nghiệp), giá trị sổ sách là 984 tỷ đồng, thực tế thu về 2.209 tỷ đồng, đạt tỷ lệ trung bình 2,25 lần so với mệnh giá. Hiện tại, tổng số doanh nghiệp thuộc danh mục quản lý của SCIC là 538 doanh nghiệp.

    Năm 2011 có khó khăn hơn, nhưng ông Lai vẫn kỳ vọng sẽ bán được cổ phiếu tại nhiều doanh nghiệp và thu về thặng dư vốn lớn. Lý do là các doanh nghiệp do SCIC thoái vốn có quy mô nhỏ, làm ăn hiệu quả. Nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khá đặc thù, lợi thế tại các địa phương. Tuy nhiên, ông Lai cho biết, trước bối cảnh thị trường suy giảm, khó khăn như hiện nay, SCIC sẽ cùng với các đơn vị tư vấn xem xét định giá cổ phiếu tại các doanh nghiệp đấu giá sao cho sát với giá thị trường, để đảm bảo các cuộc đấu giá thành công.

    Liên quan đến khoản đầu tư tại các doanh nghiệp mà SCIC có tham gia mua cổ phiếu, ông Lai cho biết, Tổng công ty thực hiện trích lập đầy đủ các khoản dự phòng. Nhưng do là cổ đông chiến lược và sáng lập, nên SCIC được mua với giá ưu đãi, vì thế những khoản trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán cũng không nhiều.(Nguồn: ĐTCK, 11/5)
  5. miplatini

    miplatini Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    19/12/2009
    Đã được thích:
    29
    lại còn thế này nữa:

    Cảnh báo giá hàng hóa sắp “nổi sóng”
    Thứ tư, 11/5/2011, 12:13 GMT+7

    Từ cuối tuần trước, giá lúa mì, thiếc và vàng hồi phục; số lượng việc làm của Mỹ tăng cao vượt dự báo của các chuyên gia. Vì vậy, nhu cầu hàng hóa trong những tháng tới được dự báo sẽ đẩy giá cả "nổi sóng".

    Ông Jerrrey Currie, chuyên gia nghiên cứu về thị trường hàng hóa tại Goldman Sachs, nhận xét: “Xét đến mức độ sụt giảm của giá hàng hóa trong tuần trước, thực tế nó mang đến cơ hội để giá tăng cao hơn, đặc biệt trong nửa sau năm 2011.” Cách đây một tháng, chính chuyên gia Currie khuyên nhà đầu tư thận trọng với hàng hóa: “Trong tương lai rất gần, chúng ta cần thận trọng”.

    Giá trị của tất cả 24 loại hàng hóa thuộc khảo sát của S&P GSCI đến ngày 06/05 ở mức 805 tỷ USD từ mức 891 tỷ USD vào ngày 29/4. Tổng giá trị các sản phẩm ETFs được đảm bảo bằng vàng giảm xuống 119 tỷ USD từ 132 tỷ USD.

    Trong khoảng thời gian 5 tháng tính đến hết tháng 4, tăng trưởng của giá hàng hóa cao hơn so với cổ phiếu, trái phiếu và đồng USD đến tháng thứ 5 liên tiếp, chuỗi thời gian dài nhất trong 14 năm bởi dự báo nhu cầu sẽ vượt quá cung.

    64 triệu người châu Á ‘dính’ nghèo vì giá tăng

    Khi nhu cầu tiêu thụ của nhóm người giàu có tại Trung Quốc, Ấn Độ và nhóm nền kinh tế mới nổi lên cao, giá dầu, cà phê, đồng, cacao hay vàng ít nhất có thể tăng gấp đôi. Theo các chuyên gia, ở thời điểm nào đó trong ngắn hạn, giá hàng hóa sẽ đi ngang hoặc có thể giảm thế nhưng trong dài hạn, xu thế tăng sẽ tiếp tục.

    Ông Derek Hol, chuyên gia tại Scotia Capital, nhận định: “Trong dài hạn, chúng ta mới chỉ ở trong những ngày đầu tiên của xu thế giá hàng hóa tăng. Hiện chỉ 15% hộ gia đình tại Ấn Độ có tủ lạnh; Trung Quốc dù đã trở thành thị trường ô tô lớn nhất thế giới nhưng thị trường Mỹ hay Anh vẫn còn rất nhiều tiềm năng. Nhóm nền kinh tế mới nổi sẽ vẫn tăng trưởng mạnh và áp lực lên giá hàng hóa không nhỏ”.

    Cùng quan điểm như trên, báo cáo “Lạm phát giá lương thực toàn cầu và các nước châu Á đang phát triển” của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), cũng cho rằng, từ giờ đến cuối năm, giá cả lương thực toàn cầu và giá dầu tiếp tục tăng cao như trong đầu năm 2011.

    Ông Changyong Rhee, Trưởng ban kinh tế của ADB, cho biết: “Đối với những gia đình nghèo ở các nước châu Á đang phát triển, những người hiện đã dành hơn 60% thu nhập của mình cho lương thực, giá lương thực tăng cao sẽ càng làm giảm khả năng chi trả của họ cho các dịch vụ y tế và giáo dục. Nếu như không được kiểm soát, cuộc khủng hoảng lương thực sẽ xói mòn những thành quả giảm đói nghèo mà châu Á đã đạt được trong thời gian gần đây.”

    Lạm phát lương thực trong nước ở nhiều nền kinh tế trong khu vực châu Á đã đạt mức trung bình 10% trong đầu năm 2011. Do đó, việc tăng giá lương thực 10% ở các nước Châu Á đang phát triển, nơi cư trú của 3,3 tỷ người, có thể đẩy thêm 64 triệu người vào cảnh nghèo khổ với thu nhập dưới mức 1,25 USD một ngày.

    Để ngăn chặn nguy cơ khủng hoảng, theo tiến sỹ Rhee, điều quan trọng là các nước cần kiềm chế việc áp dụng lệnh cấm xuất khẩu đối với các mặt hàng lương thực, đồng thời tăng cường hệ thống an sinh xã hội. Các nỗ lực để ổn định sản xuất cần được chú trọng với việc đầu tư thêm cho cơ sở hạ tầng nông nghiệp để nâng cao sản lượng lương thực và mở rộng hệ thống kho chứa, đảm bảo rằng lương thực sản xuất ra không bị lãng phí.

    Báo cáo cũng chỉ ra rằng cần phải làm dịu bớt các hoạt động đầu cơ trên thị trường lương thực. Báo cáo kiến nghị cần tăng cường sự thống nhất của thị trường và xóa bỏ các biến dạng chính sách đang tạo ra rào cản trong việc lưu chuyển lương thực từ các khu vực dư thừa đến các khu vực thiếu hụt.(Nguồn: Đất Việt, 11/5)
  6. nguyenhuho

    nguyenhuho Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    25/07/2010
    Đã được thích:
    0
    Thằng này nó viết mà nó ngu:
    - Nhà đt thiệt hại rất nhiều cũng vì margin
    - Cty ck ăn của nhà đầu tư nào là phí, lãi vay... Và họ cũng đã trích lập quỹ dự phòng
    - Vì trò chơi đánh bạc đó mà bây giờ giá cp về mo và dưới mo rồi.
    - Còn chuyện ttck lên hay xuống hiện giờ là đang bị ảnh hưởng vĩ mô
    - Nếu tình hình tốt lên thì dòng tiền mới ắt tự tìm đến để vào chứng khoán hoặc dòng tiền tham lam khác khi thấy được giá rẻ so với giá trị thực của cty đang niêm yết.
  7. miplatini

    miplatini Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    19/12/2009
    Đã được thích:
    29
    cảm ơn ATP đã lôi ra ánh sáng...sự thực phũ phàng
  8. miplatini

    miplatini Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    19/12/2009
    Đã được thích:
    29
    lại còn thế này nưa: http://cafef.vn/2011051006081833CA34/vong-xoay-lai-suat-cao-chua-dung.chn
    Vòng xoáy lãi suất cao chưa dừng
    Với những ngân hàng lớn có lượng tiền huy động không kỳ hạn dồi dào, có thời điểm 35.000 – 40.000 tỷ đồng, cũng chỉ có tỷ lệ nhỏ được sử dụng cho vay.

    Việc triển khai nghị quyết 11/2011/NQ-CP đã đạt được những kết quả bước đầu. Thị trường ngoại hối đã ổn định, thị trường vàng mặc dù còn nhiều vấn đề cần giải quyết nhưng cũng đã được kiểm soát tốt hơn.

    Tuy nhiên, thị trường tiền tệ thì vẫn khá căng thẳng, trong đó lãi suất được coi là điểm nóng. Vấn đề lãi suất cao gây những tác động tiêu cực nên nền kinh tế trong đó các doanh nghiệp là những đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ nhất.

    Suy giảm tiền gửi từ các tổ chức kinh tế

    Việc duy trì mặt bằng lãi suất cao để chống lạm phát đã khiến cho tỷ lệ tiền gửi của các tổ chức kinh tế vào các TCTD suy giảm. Trong cơ cấu tín dụng hiện nay của các NHTM thì vốn tự có chỉ chiếm khoảng 10% còn lại là vốn huy động từ xã hội. Nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế, từ dân cư chiếm tỷ lệ khá cao.

    “Qua khảo sát thì thời gian vừa qua tiền gửi của các Tổ chức kinh tế sụt giảm rõ rệt”- T.S Nguyễn Thị Mùi, giám đốc trường đào tạo nhân lực Vietinbank thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tiền tệ Quốc gia cho biết.

    Nguyên nhân cho việc suy giảm lượng tiền gửi của các tổ chức tại các ngân hàng được T.S Mùi lý giải do các ngân hàng tranh giành khách gửi tiền bằng lãi suất và bản thân các doanh nghiệp do vốn vay cao nên rút phần tiền gửi dùng để phục vụ thanh toán tại ngân hàng về làm vốn sản xuất kinh doanh.

    T.S Mùi lấy ví dụ: “Chỉ trong 1 tháng lượng tiền gửi của các tổ chức kinh tế tại Vietinbank giảm 5,74%”.

    Bảng số liệu về tỷ lệ tăng giảm tiền gửi của Vietinbank.

    Chính việc giảm lượng tiền gửi của các TCKT càng tạo thêm sức ép lên huy động. Từ đó các ngân hàng tăng cạnh tranh trên nguồn huy động dân cư, tạo vòng xoáy đưa lãi suất lên cao.

    Áp lực lạm phát yêu cầu lãi suất thực dương

    Hiện nay với mức lạm phát 4 tháng đã gần 10% và CPI tháng 5 được dự báo từ 1,4-2% thì lãi suất trần áp dụng không đủ để bảo toàn vốn cho người gửi. Chính sách tiền tệ muốn chặn được lạm phát phải duy trì lãi suất thực dương do đó huy động vượt 14% là điều dễ hiểu.

    Ông Vũ Tiến Lộc, chủ tịch VCCI, cho biết nhiều ngân hàng thương mãi đã phá rào huy động lên đến 15-19%/năm tùy vào thời điểm và lượng tiền gửi. Nếu giảm lãi suất huy động thì các ngân hàng khó có thể hút được nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư, tạo điều kiện cho việc hình thành tín dụng phi kiểm soát tiềm ẩn nhiều rủi ro.

    Khát vốn cho thanh khoản

    Với thực tế nhiều ngân hàng thời gian vừa qua đã chấp nhận vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất lên đến 21-24%/năm với lãi suất huy động qua đêm cho thấy nhiều ngân hàng thanh khoản rất yếu.Lãi suất cao trên 20% của thị trường liên ngân hàng đã thúc đẩy các ngân hàng huy động ở thị trường 1 với lãi suất 18-19%. So sánh với lãi suất khi vay liên ngân hàng thì các ngân hàng này cảm thấy dễ chịu hơn nhiều.

    Thanh khoản của các ngân hàng yếu do sai lệch cơ cấu kỳ hạn và sai lệch cơ cấu đồng tiền, “sai lệch kép”, khiến các ngân hàng đứng trước những rủi ro tài chính cao. NHNN đã ban hành thông tư 13 và 19 quy định chỉ được phép cho vay trung dài hạn 30% nguồn huy động ngắn hạn nhằm đảm bảo an toàn cho hệ thống NHTM. Tuy nhiên quy định này khiến các ngân hàng nhỏ, thanh khoản yếu càng thêm khó khăn trong hoạt động kinh doanh.


    Với những ngân hàng lớn có lượng tiền huy động không kỳ hạn dồi dào, có thời điểm 35.000 – 40.000 tỷ đồng, cũng chỉ có tỷ lệ % nhất định làm tín dụng. Phần còn lại được các ngân hàng sử dụng cho vay liên ngân hàng, kiếm lợi nhuận. Do đó cũng không thể cho doanh nghiệp vay để hạ lãi suất như nhiều người mong muốn.

    Lợi nhuận từ cho vay phi sản xuất hấp dẫn

    Với các đối tượng đi vay sản xuất thì lãi suất 21-22%/năm là quá cao nhưng với lĩnh vực phi sản xuất như CK, BDS thì NDT vẫn chấp nhận mức lãi suất lên đến 22-25%/năm. Như vậy cầu lãi suất cao không chỉ từ phía NHTM trong việc huy động mà còn từ phía khách hàng.

    NHNN đã ban hành thông tư quy định đến 30/06/2011 tỷ lệ cho vay phi sản xuất xuống dưới 22% và dưới 16% vào 31/12/2011 nhưng thực tế hiện vẫn hơn 20 ngân hàng mà tỷ lệ này ở mức trên 26%. Theo T.S Nguyễn Thị Mùi thì để giảm tỷ lệ trên sổ sách không phải khó nhưng để giảm thực sự thì rất khó.

    Vẫn có khách hàng chấp nhận lãi suất cao khiến cho các ngân hàng vẫn chấp nhận rủi ro để cho vay ra kiếm lời.

    Mong muốn hạ lãi suất được nhiều doanh nghiệp kỳ vọng nhưng có lẽ khó diễn ra trong thời gian tới. Thị trường cần một chính sách hỗ trợ từ NHNN để có thể biến hy vọng thành hiện thực.
  9. miplatini

    miplatini Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    19/12/2009
    Đã được thích:
    29
    lại còn thế này nữa cơ....ôi mệt qúa....http://thitruongtaichinh.vn/?p=54628
    Lạm phát tháng 4 vẫn chưa là “đỉnh”
    T4, 11 Tháng 5, 2011 11:20 Sáng

    Hiện có nhiều ý kiến cho rằng, giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 tăng 3,32% là “đỉnh” của lạm phát trong năm nay. Điều đó là không sai, nhưng chưa hoàn toàn đúng.

    Điều đó là không sai, bởi tốc độ tăng của tháng 4 cao nhất tính từ đầu năm đến nay và khả năng từ nay đến cuối năm sẽ không có tháng nào có tốc độ tăng cao hơn (năm 2010, tháng 5 tăng 0,27%; tháng 6 tăng 0,22%; tháng 7 tăng 0,06%; tháng 8 tăng 0,23%; tháng 9 tăng 1,31%; tháng 10 tăng 1,05%; tháng 11 tăng 1,36%; tháng 12 tăng 1,98%). Khả năng năm nay, CPI sẽ không tăng thấp như từ các tháng 5 đến tháng 8 và cũng không tăng cao như các tháng từ tháng 9 đến tháng 12 của năm trước.

    Nhưng điều đó là không hoàn toàn đúng, bởi đó là sự so sánh tốc độ tăng của tháng sau so với tốc độ tăng của tháng đứng liền trước. Việc tính tốc độ tăng CPI tháng sau so với tháng trước là cách tính riêng có của nước ta, là bước tính trung gian phản ánh “nhịp độ” biến động CPI qua từng tháng, để Chính phủ kịp thời có giải pháp điều hành về cung – cầu hàng hoá, chính sách tài khoá, đề nghị Quốc hội điều chỉnh (tăng hoặc giảm) mục tiêu lạm phát cả năm cho phù hợp với khả năng diễn biến thực tế. Ngoài việc tính tốc độ tăng CPI tháng sau so với tháng trước, Tổng cục Thống kê còn tính các tốc độ tăng giảm CPI với các kỳ gốc so sánh khác nhau.

    Thứ nhất, tốc độ tăng CPI tháng này so với tháng cùng kỳ năm trước. Theo cách tính này, lạm phát tháng 4/2011 chưa phải là đỉnh của năm nay. Theo ước tính của nhiều chuyên gia, CPI tháng 5 so với tháng 4 tăng khoảng 2%. Do tháng 5/2010 chỉ tăng 0,27%, nếu tháng 5/2011 tăng 2% so với tháng 4/2011, thì tháng 5/2011 so với tháng 5/2010 sẽ tăng 19,54%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng 17,51% so với cùng kỳ năm trước của tháng 4/2011.

    Nếu tháng 5/2011 so với tháng 4/2011, tăng 0,8-0,9% như ước tính của Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), thì tháng 5/2011 so với tháng 5/2010 cũng tăng 18,13 – 18,25%, cao hơn tốc độ tăng 17,51% của tháng 4. Như vậy, lạm phát tháng 4 chưa phải là “đỉnh” của lạm phát năm nay.

    Thứ hai, CPI bình quân các tháng tính từ đầu năm của năm nay so với cùng kỳ năm trước. Chỉ tiêu này phản ánh mặt bằng giá năm nay so với năm trước. Theo công bố của Tổng cục Thống kê, bình quân 4 tháng năm nay so với cùng kỳ năm trước tăng 13,95%. Với tốc độ tăng giá so với cùng kỳ năm trước tiếp tục có xu hướng cao lên từ nay tới tháng 8, bình quân 8 tháng năm nay so với cùng kỳ năm trước sẽ cao hơn tốc độ tăng 13,95% của 4 tháng đầu năm.

    Minh Nhung
    Theo Đầu Tư
  10. miplatini

    miplatini Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    19/12/2009
    Đã được thích:
    29
    ôi mệt qúa rồi....chỉ cắt dán thôi mà mệt qúa rồi....

    thôi nhé đừng ai nói tới ck nữa nhé...mệt qúa rồi....

Chia sẻ trang này