1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

SRB - Giao dịch rất đáng ngờ !

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi trumspam, 22/06/2010.

Trạng thái chủ đề:
Đã khóa
3423 người đang online, trong đó có 248 thành viên. 14:14 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 10885 lượt đọc và 230 bài trả lời
  1. chieuhoangjp

    chieuhoangjp Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    07/07/2007
    Đã được thích:
    16
    Haha,kiểm chứng.Lệnh của em hôm qua cũng thế=D>
  2. nguoive.cuoipho

    nguoive.cuoipho Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    17/05/2010
    Đã được thích:
    0
    Chậm chân ngày nào mất ăn ngày đó......
  3. nguoive.cuoipho

    nguoive.cuoipho Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    17/05/2010
    Đã được thích:
    0
    anh em chờ kiểm chứng lời em nói nhé !
  4. nguoive.cuoipho

    nguoive.cuoipho Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    17/05/2010
    Đã được thích:
    0
  5. nguoive.cuoipho

    nguoive.cuoipho Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    17/05/2010
    Đã được thích:
    0
  6. nguoive.cuoipho

    nguoive.cuoipho Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    17/05/2010
    Đã được thích:
    0
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Đường vào U Minh Hạ - Thới Bình, Cà Mau[/FONT]​
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]​
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]​
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Vừa chạy vừa chụp - Trên đường vào U Minh Hạ, Thới Bình, Cà Mau[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Trưa vắng ![/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Đơn côi ![/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Người thành phố chèo đò ![/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Ụn rơm[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Bên dòng sông Trẹm - Thới Bình, Cà Mau[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Cầu ván[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Mắm ! Loài cây nước mặn này có khắp nơi vùng ngập mặn sông nước Miền Tây[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Đắp đê chắn sóng ![/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Lẻ loi ![/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]

    [FONT=Courier New,Courier,mono]Lối xưa[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Máy cule[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Mượt ![/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Quán nghèo bên đường vào U Minh Hạ[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Thành quả ![/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Tắc ráng ! Khu lấn biển - Rạch Giá, Kiên Giang[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Vườn cò trong khuôn viên đài TH Cà Mau[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Chòi tranh[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Nhà nào cũng có cái lu nước [/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Bu gà[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Lò nấu rượu[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Củi hai bên đường vào U Minh Hạ[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]

    [FONT=Courier New,Courier,mono]Kẹt ...sông ![/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Cây cầu có tên rất độc đáo ![/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Cá lóc nướng trui - đặc sản Miền Tây ![/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Macro nè[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Vua tôm Bạc Liêu[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Những người bạn vui tính ![/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Người Miền Tây hồn hậu, chất phác [/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]

    [FONT=Courier New,Courier,mono]Vất vả mưu sinh ![/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Ghe là phương tiện chuyên chở chủ yếu của người dân vùng sông nước Nam Bộ[​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Ghe cũng là nhà, là cả gia tài của người dân nơi đây[​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Mái tranh nghèo ![/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Cất vó[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Sông nước hữu tình[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]

    [FONT=Courier New,Courier,mono]Bác tư năm nay 79 tuổi nhưng vẫn còn khoẻ mạnh mang dáng dấp của một lão nông tri điền, gia đình bác Tư có 16 ha ruộng, vườn (160 công). Nhà bác Tư cách TP Cà Mau khoảng 40Km. Ngoài trồng lúa bác Tư còn nuôi tôm, cá. Mỗi năm cho thu nhập trên 1 tỷ đồng. Còn số này nghe có vẻ khó tin.....[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Bác Tư tiêu biểu cho một nông dân tri thức đúng nghĩa, làm ăn có kế hoạch. Trong nhà bác Tư có 2 cái bảng kế hoạch làm ăn như thế này, chi tiết thu chi từng ngày, từng tuần, từng tháng, từng năm và cả kế hoạch 5 năm, 10 năm ! Chi cái gì, lời lỗ ra sao, đều được hạch toán chi li. Trên cái bảng chi chít chữ tôi chú ý đến đoạn cuối: "Kế hoạch từ năm 2005-2010 doanh thu 8,6 tỷ đồng ! Choáng ! Nông dân Miền Tây mà chỉ cần 1/3 số người được như bác Tư thì Miền Tây đã cất cánh từ lâu ![/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Cò về ! Chiều chiều hàng ngàn, hàng vạn con cò lại bay về vườn nhà bác Tư, một hình ảnh thanh bình làm tôi mê mẩn ![/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Rừng mắm ven biển Bạc Liêu ![/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Nuôi tôm ở Bạc Liêu ! Quạt để tạo ôxy cho tôm[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Cái Kubota cổ lỗ sỉ đời 1800 hồi đó[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Lúa? không phải ! mà là thức ăn cho tôm[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono]Phơi mắm để làm ruốc - Bạc Liêu[/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]

    [FONT=Courier New,Courier,mono]Linh ta linh tinh ![/FONT]
    [FONT=Courier New,Courier,mono][​IMG][/FONT]

    [FONT=Arial,Helvetica,sans-serif]Đề cảm nhận về con người Miền Tây chân chất, tình cảm mời các bạn nghe bài hát Em về Miệt Thứ

    [/FONT][FONT=Arial,Helvetica,sans-serif]http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=M5dgrAjklc[/FONT]
  7. nguoive.cuoipho

    nguoive.cuoipho Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    17/05/2010
    Đã được thích:
    0
    BÀI PHÓNG SỰ TRÊN BÁO THANH NIÊN
    Tôi đi cầu… có bầu - Kỳ 1: Thức đêm đi cầu khấn
    Thời gian gần đây, quanh đan viện Biển Đức Thiên Phước thuộc Q.Thủ Đức (TP.HCM) đang có những xáo trộn khác thường bởi dòng người tứ phương lũ lượt đổ về xin có bầu sinh con. Nói "khác thường" bởi tại đây đã xuất hiện nhiều sự việc phản khoa học, các tin đồn thất thiệt, làm mất thời gian, tiền bạc của nhiều người nhẹ dạ. PV Thanh Niên đã xâm nhập thực tế gần 1 tháng tại địa điểm này để tìm hiểu...
    "Xin gì cũng được" (!?)
    Chuyện bắt đầu từ khoảng cách đây 1 năm; những người khó sinh con đã nghe râm ran tin đồn "dưới phường Tam Bình, Q.Thủ Đức có ông Thiện là người có khả năng chữa bệnh vô sinh và nhiều thứ bệnh khác". (PV Thanh Niên đã xác minh tin đồn này: Người được đồn là cha Tô-ma Thiện ở đan viện Biển Đức Thiên Phước). Theo đó, người có nhu cầu sẽ đến đây, viết những yêu cầu của mình trong một tờ giấy, bỏ trong bao thư sau đó gặp ông. Ông Thiện sẽ cầu nguyện, cho nước thánh, những người khác trong đan viện sẽ bán một số "thuốc", sau đó, người có nhu cầu mang "thuốc" về nhà uống, "sẽ có con, bệnh sẽ khỏi, quan trọng là phải tuyệt đối tin". Tại thời điểm đó, chưa ai kiểm nghiệm được điều này bằng chứng cứ khoa học cụ thể mà chỉ là những lời đồn rỉ tai nhau, mức độ tin cậy không cao. Nhận thấy hiện tượng này có thể gây hệ lụy không hay, ảnh hưởng đến uy tín của đan viện, chính quyền địa phương đã mời cha Thiện và đại diện đan viện thảo luận khuyên ngăn nhưng chưa có nhiều kết quả. Sự việc không dừng lại trong suốt thời gian dài cho đến nay...
    Một ngày tháng 3.2009, trời mưa to gió lớn, trong vai người đi cầu để cho vợ có bầu, PV Thanh Niên hòa vào dòng người đội mưa đến đan viện Biển Đức để cầu nguyện. Lúc đó là 2 giờ chiều. Lối vào đan viện, sát đường Tô Ngọc Vân, đang được đào bới ngổn ngang, chuẩn bị làm đường. Ngay từ ngoài đường, cách đan viện hàng trăm mét đã có nhiều người mời chào "gửi xe đây đi bộ vô, đường trong không đi được". Hỏi "đây là chỗ đến để xin con phải không", họ trả lời "đúng rồi, xin gì cũng được nữa". Lối vào đã bị rào, buộc lòng phải gửi xe ở một nhà dân. Ông chủ nhà đang nhậu, mặt đỏ bừng bừng lao ngay ra, ghi số, xin tiền 3.000 đồng/xe, rất chuyên nghiệp.
    Không được đến bệnh viện!
    Chúng tôi gặp một người đàn ông đến từ Hà Tĩnh, anh kể: "Mình đến đó, lấy hai tờ giấy, viết tên tuổi vợ chồng mình, cầu có con, viết trên giấy, đi lên đó đọc, xong bỏ vô hộp thư đó". Người đàn ông này đã đến Thủ Đức ở trọ gần đan viện 1 tuần nay. Lý do anh biết đan viện này là từ những người cùng hoàn cảnh ở quê anh, nghe nói tại đây có khả năng chữa bệnh vô sinh nên kéo vô. Nói như anh thì "cả làng đi hết" vô đây. Người đàn ông này nói: "Mình cầu ở đây khoảng 5 hôm, sau đó đi nhà thờ sau ni để khám, khám xong về cầu tiếp".
    Hỏi: "Ở đây không muốn cho mình khám bên ngoài phải không?". Anh bảo: "Không cho. Mình cầu đây mà đi ra ngoài khám hay khám ở bệnh viện là không được". Người đàn ông nói tiếp: "Hôm trước, có cặp vợ chồng cầu ở đây, vợ tin mà chồng không tin cũng không được". Dĩ nhiên điều này làm ngạc nhiên không ít người, bởi cầu nguyện là điều không ai cấm cản, nhưng đi cầu để xin có bầu, trong thời gian đó không được đi khám để có những khẳng định cụ thể bằng khoa học thì là điều rất khác thường. Càng khác thường hơn khi hỏi: "Nếu đi khám thì khám ở đâu?". Anh bảo: "Nhà thờ ở bên tê, đi khám mất 10.000 xe ôm, hỏi bọn xe ôm chở sang". Hỏi anh, tại sao cầu nguyện thì là ở đây nhưng lại sang bên kia khám bệnh? Người đàn ông này ậm ừ, đại loại rằng anh cũng nghe người khác bày cho và làm như vậy chứ không biết tại sao.
    Càng thấy thắc mắc hơn, khi đan viện đây là dòng nam còn "nhà thờ ở bên tê" - theo chỉ dẫn của người đàn ông này - lại là dòng nữ, dòng mến thánh giá Khiết Tâm?
    Đêm hôm đó, từ 4 giờ sáng chúng tôi đã trở lại. Lối vô đan viện từ hướng đường Tô Ngọc Vân đã bị đổ đầy cát sỏi, xi măng chuẩn bị làm đường. Xe không thể đi qua. Đứng tần ngần dưới ánh đèn đêm vàng vọt, chợt thấy một cặp trung niên nam nữ từ xa đi bộ lại. Đoán là họ đi cầu có bầu, bèn hỏi: "Đi cầu phải không anh?", "Đúng rồi". Họ là hai vợ chồng, cũng ở Hà Tĩnh vô. Anh chồng tận tình chỉ đường cho tôi đi vô đan viện từ hướng đường Gò Dưa. Đường đất gập ghềnh. Đan viện hiện ra trong cái se lạnh của buổi sáng sớm, tinh khiết. Trong sân cầu, đã có khoảng chục người. Họ, từng người, từng người đi vô phòng nguyện bên trong. Rồi thành kính vừa khẩn cầu, vừa đưa hai tay xoa vô bụng của mình... Hỏi một người phụ nữ mới bước ra từ phòng nguyện, "Cầu như vậy mấy lần?". Chị nói "tùy tâm". Ở sân ngoài, nhiều cặp vợ chồng vừa cầm tờ giấy ghi "nhu cầu" của mình, xoa xuống bụng, sau đó thành kính bỏ tờ giấy vô hòm thư. Ở cái mâm chứa nhiều ngọn nến, nhiều người vừa khẩn cầu, vừa khua tay trên ngọn lửa rồi áp tay, xoa xoa lên bụng của mình. Cũng nghiêm trang, thành kính.
    Tôi trở ra, gặp một chiếc Matiz biển số Đà Nẵng đi theo đường đất vô đây. Người đàn bà bước xuống xe đã trên 50 tuổi, hỏi "Chị đi cầu hả?". "Dạ, tôi ở xa mới đến". Lúc đó trời vẫn tối đen như mực.
    Rời khỏi đan viện, chúng tôi vẫn không thể thoát khỏi thắc mắc: Tại sao đi cầu tại đây vào giờ này, tại sao lại phải sang khám bệnh ở nơi khác? Và trong thời gian đó, vừa phải sinh hoạt vợ chồng, vừa phải uống thuốc và tin tưởng tuyệt đối là sẽ có bầu, nhưng lại không được đi khám hay siêu âm bằng khoa học? (Còn tiếp)
    Phóng sự của Nguyễn Lê Nguyên
    Nguồn :
    http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/200914/20090331002220.aspx

    DƯỚI ĐÂY LÀ BÀI PHẢN HỒI CỦA HỮU ANH
    Tôi là một người dân đang sống tại Thành Phố Nha Trang , năm nay tôi 53 tuổi , Vợ tôi 48 tuổi . Chúng tôi cưới nhau năm 1996 ; sau 13 năm mà không có con cái , chúng tôi đã đi nhiều Bệnh Viện , trong đó có Bệnh Viện Phụ Sản Từ Dũ để điều trị vô sinh - nhưng đã không có kết qủa ; mặc dù đã tiêu tốn rất nhiều thời gian cũng như tiền bạc.!
    Tháng 10 năm 2008 , do 1 sự tình cờ , tôi được mách bảo của người quen tại Nha Trang ; Vợ Chồng tôi đã lặn lội hơn 450 km để đến Sài Gòn , sau đó , chúng tôi tìm đến ĐAN VIỆN BIỂN ĐỨC THIÊN PHƯỚC - THỦ ĐỨC vào lúc 9g sáng ( không như PV Nguyễn Lê Nguyên viết là phải đến ban đêm để cầu khấn!!! ) ; lúc đó ĐAN VIỆN rất đông người ; trong số đó có rất nhiều Phụ Nữ đang mang thai , Vợ Chồng tôi cảm thấy rất phấn chấn , khi biết rằng những Phụ NỮ này có cùng trường hợp hiếm muộn - vô sinh như Vợ Chồng tôi , mà nay đã có kết qủa như lòng nguyện ước! Theo chỉ dẫn của những người đã đến trước , chúng tôi lấy mẫu Giấy Khấn , điền vào đó : Họ , tên , địa chỉ ... cùng điều khấn nguyện của Vợ Chồng tôi ( tất nhiên là chúng tôi xin được có con ) . Tại ĐAN VIỆN trong thời điểm đó , không có nơi nào bán " thuốc " ( như PV viết ) , cũng không có cái gọi là Nước Thánh ( như PV viết ) , mà có đầy đủ những Bình nước tinh khiết để dành cho mọi người giải khát ( không mất một chi phí nào ! ) . Bỏ Giấy Khấn vào Thùng khấn xong - Vợ Chồng tôi đọc kinh cầu xin trước Ảnh tượng Lòng Chúa Thương Xót ; vào bên trong tiếp tục đọc kinh trước Tượng ĐỨC MẸ và bày tỏ lời nguyện xin của chúng tôi . Sau đó , chúng tôi ra về mà không hề gặp được Cha Tôma Thiện ( tất cả mọi người đến Đan Viện cũng thế ).
    Một tháng sau - tháng 11 năm 2008 , Vợ tôi một mình đến ĐAN VIỆN BIỂN ĐỨC THIÊN PHƯỚC - sau đây là tường thuật của Vợ tôi : tôi tên là Phan Thị Lệ Chi , sinh năm 1962 - Địa chỉ 53/14 Lý Thánh Tôn - Nha Trang ; ĐT : 058 3820239 begin_of_the_skype_highlighting 058 3820239 end_of_the_skype_highlighting . Hoàn cảnh Vợ Chồng tôi như đã được trình bày ở trên , tôi là 1 Phụ Nữ ; nên việc lấy Chồng và được làm Mẹ là niềm mơ ước vô cùng lớn lao không phải của chỉ riêng tôi mà là của tất cả các Phụ Nữ khác ! Bằng nhiều nổ lực , chúng tôi đã tìm đến các Cơ Sở Y Học Tư nhân có , Nhà Nước có để điều trị vô sinh - hiếm muộn ( bản thân tôi bị U nang buồng trứng - đã phẩu thuật Nội soi tại BV Phụ Sản Từ Dũ ) , nhưng đều không có kết qủa. Tôi vô cùng mặc cảm và đau buồn ; chúng tôi đã sử dụng đến cạn kiệt nguồn tài chính của mình để ước mong sao điều mong ước được thực hiện.!
    Lần thư 2 dến ĐAN VIỆN ; tôi mới được biết có 1 Cơ Sở Khám & Chẩn Trị Đông Y của các Soeur Dòng Khiết Tâm ( Cơ Sở được cấp phép hoạt động - Cơ Sở Khám Bệnh và Đan Viện Biển Đức là hai nơi riêng biêjt - Hai Dòng Tu cũng thế ). Tôi đến Cơ Sở Khám bệnh của các Soeur , người đến để được khám bệnh rất đông . tôi ước lượng có khoảng trên vài trăm người , nên rất vất vả ; nhưng cuối cùng tôi cũng được khám!Tôi được Soeur bắt mạch , khám vê thể trạng ... đồng thời tôi cũng được nghe tư vấn về những kiến thức cơ bản để chăn sóc sức khỏe cũng như trong đời sống hôn nhân một cách khoa học ... như cách tính chu kỳ rụng trứng...Các loại thuốc tôi mua tại tại Cơ Sở của các Soeur là các loại Đông Dược bào chế trong nước ; trong đó có sản phẩm của Cơ Sở KHANG MINH ( Q.Gò Vấp - TP HCM ) , Cơ Sở THÁI HÒA ĐƯỜNG ( Q.3 - TP HCM ) ... chứ không phải mua hoặc được xin hay cho tại Đan Viện Biển Đức ( như PV viết ) và là thuốc có Giấy Phép sản xuất chứ không phải là " thuốc " ( trong ngoặc kép có chủ ý , hay ác ý của PV ). Sau khi được khám , tôi trở vê ĐAN VIỆN tiếp tục đọc kinh - cầu nguyện trước Ảnh tượng Lòng Chúa Thương Xót và trước Tượng Mẹ MARIA ...Việc người đi - kẻ đến tại ĐAN VIỆN vào các giờ giấc khác nhau là chuyện vô cùng bình thường ! Bởi , người đến đây từ nhiều vùng miền trên Đất Nước - nên việc đến vào lúc sáng hay vào ban đêm là tùy thuộc vào phương tiện di chuyển ! ( không nhất thiết là phải vào ban đêm như PV viết , hầu tăng tính ly kỳ ... bất thường... hầu lái người đọc theo thiển ý mình diễn đạt! )
    Rời ĐAN VIỆN - tôi về lại Nha Trang với tràn đầy niềm tin , vì trước đó , tôi đã chứng kiến rất nhiều Phụ Nữ quay lại đây để đọc kinh Tạ Ơn sau khi đã được mang thai như ý nguyện. Không chỉ là vài người , vài trường hợp - mà rất nhiều người , nhiều trường hợp!
    Việc các Phụ Nữ trong thời gian mang thai không được đến các Cơ Sở Y Học để khám là không hoàn toàn đúng - bất cứ các Cơ Sở Khám Bệnh Đông Y nào cũng có thể khám thai - ngoại trừ thực hiện bằng Phương pháp Siêu âm. Và 1 điều vô cùng lạ lùng và kỳ diệu đó là : trong thời gian mang thai , các Thai Phụ vẫn có hiện tượng kinh nguyệt ( dù rất ít ) !
    Về Nha Trang được thời gian ngắn - ngày 05 tháng 11 năm 2008 ; một dịp tình cờ , Vợ Chồng tôi được gặp Cha Tôma Thiện , trong Phòng Khách của 1 Tu Viện ; căn phòng rộng chừng 25 m2 , tại đó đã có khoảng trên dưới hai muơi cặp Vợ Chồng và một số bệnh nhân khác vào khoảng 8g sáng. Sau khi tĩnh tâm cầu nguyện - Ngài đến trước mặt từng đôi Vợ Chồng và cho biết kết qủa của lời cầu xin ( không phải tất cả đều có kết qủa - những trường hợp chưa có kết qủa Cha Tôma Thiện cũnng báo cho Họ biết ) - Vợ tôi là một trong số những Phụ Nữ may mắn đó. Chúng tôi vô cùng xúc động và không thể diễn tả bằng lời nói! Đến nay - ngày 31 tháng 3 năm 2009 - khi đọc những lời trên Bài Phóng Sự của Báo Thanh Niên kia thì Vợ tôi đã được 3 tháng 26 ngày mang trong mình niềm hạnh phúc !
    Sau đó , cứ mỗi tháng ( lần gần đây là 2 tháng ) , Vợ tôi lại trở vào khám tại Cơ Sở Đông Y của Qúy Soeur Dòng Khiết Tâm để theo dõi thai cũng như sức khỏe ! Tiền thuốc mua trong những lần khán là KHÔNG ĐÁNG KỂ ( so với 1 lần khám , xét nghiệm tại BV Từ Dũ : tiền chúng tôi phải trả được tính không dưới 7 chữ số ) ; vì tất cả đều là Thuốc Đông Y và được bào chế dưới nhãn hiệu " Made in Viet Nam "
    Đối với Phóng sự của PV Nguyễn Lê Nguyên - tôi thấycó nhiều điều chưa thể hiện tư cách và đạo đức của người cầm bút đó là tính trung thực ! Mặt khác , dưới tựa đề là 1 phóng sự , nhưng lại " đá lấn sân " ( thuật ngữ của Bóng Đá ) của 1 Bài bình " loạn " - nội dung bài viết phiếm diện ( tuy mới chỉ là phần đầu - Ông Bà ngày xưa nói : Văn hay không phải đọc nhiều , mới mở đầu bài , đã biết văn hay! )- Trong khi Đan Viện rộng rãi - có các công trình phụ để người đến được sử dụng - cổng vào tự do ( Vợ tôi đã đi Xe ôm vào tận Đan Viện - tháng 3/2009 ) . Sử dụng tù thiếu sự nhất quán và thiếu sự tôn trọng đối với người được đề cập trong bài víêt ( Cha Tôma Thiện ; trước đó vài dòng PV dùng chữ " Ông " , sau đó vài dòng lại dùng chữ " Cha ") Bài viết có qúa nhiều chi tiết sai sự thật ( không ai có thể dễ dàng gặp được Cha Tôma Thiện - PV nên đọc Thông Báo của ĐAN VIỆN ngay cổng ra vào - không có việc Cha Tôma Thiện cho Nước Thánh như PV tường thuật dựa vào việc nghe nói!!! )
    PV Nguyễn Lê Nguyên thực sự có phải là PV của Báo Thanh Niên hay không? Nếu có - bài viết đã được Bao Thanh Niên xem xét một cách kỹ lưỡng về tính trung thực của nó hay chưa?Hay như Vụ PMU18 - Hai Phóng Viên ( 1 của Thanh Niên - 1 của Tuổi Trẻ ) - mà trước đó chỉ một ngày ( Ngày Đại Hội Phật Đản Liên Hiệp Quốc )mà Quý Báo đòi " trả tự do cho hai Nhà Báo Chân chính " với đề tực thật to ngay trang nhất ! - thì ngay buổi trưa hôm ấy 2 PV đã bị Đài VTV1 khẳng định là những kẻ phạm pháp - và ngày hôm sau đã không còn 1 lòi bình nào dù là 1 lời tối thiểu! Đừng để độc gỉa chúng tôi một lần nữa mất lòng tin!
    Niềm tin của mỗi người thuộc về thế giới Tâm linh và lĩnh vực Tôn giáo - Quyền theo hay không theo một Tôn giáo nào là quyền căn bản tối thượng của con người - xin đừng vì ích lợi nhỏ nhoi của cá nhân hay của 1 nhóm người mà xuyên tạc - bôi nhọ làm ảnh hưởng đến Quyền Tự Do của người khác.!
    Ngòi bút không chỉ là vũ khí mà còn là một vật dụng xây dựng - Người Cầm Bút hãy là người xây dựng điều thiện ; xây dựng hòa bình - đừng bao giờ là kẻ sát nhân!
    Hữu Anh

    Vài dòng bức xúc từ bài báo "Tôi đi cầu... có bầu"
    “Cảm Ơn Báo Thanh Niên và Nhà Báo Nguyễn Lê Nguyên.”
    Tôi thật sự cảm ơn quý báo khi đọc bài, vì các vị đã làm nhiệm vụ ngôn sứ thay cho chúng tôi, mặc dù trong thâm tâm các vị lại khác.
    “Tôi Đi Cầu…Có Bầu”. Nếu là các bạn? Các bạn hiểu câu này như thế nào??? Có phải đây là một hành động đại tiện hằng ngày của một con người mà tự nhiên mang Thai không????
    Không đây là tiêu đề của một bài báo viết về chuyện Cầu Nguyện của người Công Giáo và cả những người không tôn giáo. Họ cầu nguyện xin ơn trên ban phước để có được một đứa con.
    Một gia đình mong muốn có một đứa con là mong ước bình thường của con người, nhưng khi những người hiếm muộn mà khoa học đã không còn thể can thiệp được nữa thì họ tìm đến những Đấng Linh Thiêng.
    Tôi cũng đã đến Đan Viện Biển Đức nhưng chưa có dip diện kiến với Cha Tôma Thiện. Nhưng những gì diễn ra tại nơi đây khác hòan toàn những gì mà bài báo mô tả.
    Trong bài báo có đoạn viết “Chuyện bắt đầu từ khoảng cách đây 1 năm; những người khó sinh con đã nghe râm ran tin đồn "dưới phường Tam Bình, Q.Thủ Đức có ông Thiện là người có khả năng chữa bệnh vô sinh và nhiều thứ bệnh khác". (PV Thanh Niên đã xác minh tin đồn này: Người được đồn là cha Tô-ma Thiện ở đan viện Biển Đức Thiên Phước). Theo đó, người có nhu cầu sẽ đến đây, viết những yêu cầu của mình trong một tờ giấy, bỏ trong bao thư sau đó gặp ông. Ông Thiện sẽ cầu nguyện, cho nước thánh, những người khác trong đan viện sẽ bán một số "thuốc", sau đó, người có nhu cầu mang "thuốc" về nhà uống, "sẽ có con, bệnh sẽ khỏi, quan trọng là phải tuyệt đối tin".”
    Chuyện cầu nguyện là chuyện có thật, chuyện được ơn cũng là chuyện có thật, nhưng chuyện bán thuốc uống cho có thai là một sự bịa đặt trắng trợn.
    Khi Tôi đến Đan Viện chính tai Tôi nghe một số anh chị em Lương giáo xin các Thầy (vì lúc đó Cha Tôma đang nằm viện) :” cho con xin kinh cầu nguyện có thai” và cũng chính các Thầy trả lời rằng” Không có kinh nào cầu cho có thai hết, anh chị có muốn gì thì cứ cầu nguyện và sẽ được ơn trên soi xét”.
    Và Sơ Yến ở dòng Khiết Tâm chỉ là một lương y bắt mạch bán thuốc an Thai mà thôi. Tôi chắc trong số báo ngày mai sẽ dựng thêm 1 chuyện bán số thứ tự 100.000 bên Sơ Yến.
    Với việc viết về một Linh Mục mà luôn gọi bằng ông Thiện này ông Thiện nọ. Tôi thiết nghĩ anh cũng được dạy trong trường về các xưng hô với những người đại diện cho một Tôn Giáo, hay là trường không dạy anh ????
    Theo anh cách anh mở bài cho bài báo của anh viết về một Tôn Giáo. Thì người ta gọi cách mở bài đó là gì? Mất Dạy.
    Theo anh hiện nay có bao nhiêu việc đã và đang diễn ra mà khoa học không giải thích nổi????
    Và anh có dám khẳng định rằng trong cuộc đời của anh, chưa một lần nào anh cầu xin Đấng Quyền Năng nào đó một điều gì???
    Anh nên biết rằng Công Giáo chúng Tôi luôn đi đầu trong bài trừ tệ đoan, mê tín. Nếu Cha Tôma lợi dụng hình ảnh Chúa Kitô và Mẹ Maria để trục lợi và truyền bá mê tín. Thì Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã xử lý việc này từ lâu rồi. không cần đến tài điều tra của anh đâu.
    Tôi luôn biết cánh các anh thì có cái tài ***g ghép giữa ngữ cảnh này với ngữ cách khác hoặc đã từng cắt xén lời nói của người khác theo ý mình thì hay lắm. Nhưng bài này trình độ viết chưa cao đâu, anh lộ nhiều chỗ lắm.
    Thật ra nóng nảy lên mới có những lời lẽ nặng nề như vậy, Tôi biết anh sống bằng nghề viết. Mà đã sống bằng nghề viết thì người ta đặt hàng kiểu gì thì viết kiểu đó thôi. Phải không anh???
    Ngày xưa Cụ Đồ Chiểu nói” Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” nhưng nay chắc Cụ buồn lắm vì “ toàn mấy thằng gian vác bút đâm người ta không à”. Chỉ khó cho anh là sau này anh có dũng cảm trả lời Sự Thật cho chính con cái anh hay không thôi.
    Bản thân Tôi giận thì rất giận nhưng Tôi cũng cầu nguyện cho anh sẽ thức tỉnh. Người Công Giáo chúng Tôi khi gặp bất công hay đe doạ gì thì cũng chỉ mang kinh Hoà Bình ra để cầu Nguyện mà thôi. Nay cũng xin gửi đến anh câu kết của Kinh Hoà Bình:
    “Ôi Thần Linh Thánh Ái Xin Mở Rộng Lòng Con
    Xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí
    Ơn an bình“

    Và Tôi tin rằng khi bài báo này được phát hành, nó sẽ mang lại một tác dụng ngược mà tác giả và những ai kia mong muốn. Vì chính những người được ban ơn kia sẽ là những nhân chứng sống và họ sẽ đi rao giảng những gì mà Đấng Tối Cao đã ban cho họ, cho sự việc đã và đang diễn ra tại Đan Viện Biển Đức
    Sự Thật Không Bao Giờ Chết Đi, Cho Dù Những Người Có Dã Tâm Cố Làm Bằng Mọi Cách.
    Quoc Huy

    Phản hồi bài báo "Tôi cầu... có bầu": Một Sự Lăng Nhục Thô bạo Chữ Việt của Báo Thanh Niên.
    Mấy hôm nay bận rộn công chuyện, không mở internet, nên không đọc gì cả, nay ngồi vào máy thì lại quá ư là bực mình vì bài báo của phóng viên Nguyễn Lê Nguyên trên báoThanh Niên, nói về chuyện khấn hứa của những cặp vợ chồng son sẻ ở Đan viện Biển Đức, Tam Bình, Thủ Đức. Tôi không thể không buột miệng chửi to: “Thằng nhà báo vô văn hóa”. Chồng tôi ngồi bên cạnh hỏi “chi vậy?”, Tôi trả lời “Anh đọc đi rồi biết, đi cầu nguyện cho có bầu mà tụi nó chạy cái tựa là “đi cầu … Có bầu”. Chuyện ở bên cạnh, ngay gần Sài Gòn mà tụi nhà báo còn nói láo huống hồ chi ở nơi xa xôi, khỉ ho cò gáy. Chỗ Dòng của mấy cha Thiên An ở Thủ Đức, Tam Bình, em đi cầu nguyện hằng tháng đó, mà tụi nó viết sai sự thật quá trời, chắc là sắp có ý đồ lấy đất đai chi của các cha đây, nó còn chơi chữ cái kiểu “dốt mà tưởng là hay””. Ông xã tôi xem cái tựa đề xong cũng lắc đầu, chép miệng “có chỉ đạo rồi nó mới dám viết thế chứ”, em tức chi cho mệt. Trưa ăn cơm, tôi hỏi mấy đứa con, tụi nó cười bảo chỉ có mẹ mới tức chứ ai đọc xong họ cũng nói là tụi nó “bố láo” và coi như không có chuyện gì xảy ra. Tôi tức, là vì tôi là giáo viên, cái kiểu chơi chữ thô tục như vậy mà lại dám đưa lên mặt báo, lăng nhục cả một niềm tin của những con-người-chân-chính, cái tựa đề nhằm câu khách, vừa nhìn vào, người ta tưởng rằng có cô gái nào đó đi toilet mà lại bị mang Bầu nên vội vàng mua tờ báo để xem cho biết. Khi đọc xong bài báo, người đọc tức cho mình và xấu hổ cho cả một tầng lớp được coi là trí thức; tức vì có cảm giác mình bị tờ báo lừa, xấu hổ vì cái thằng nhà báo chơi chữ quá thô tục cho một việc thánh thiêng, mà nếu là người có chút tự trọng, không ai dám đụng đến.
    Tháng nào tôi cũng đi hành hương hai nơi bằng xe buýt số 19: Đan viện Biển Đức ở gần chợ Tam Hải và Mẹ Fatima ở Bình Triệu, nên biết rất rõ chuyện xảy ra ở đó. Ngày nào cũng như ngày nào, rất đông người đi xe hon đa, xe hơi đến nơi đó để cầu nguyện, không ai giống ai, tôi đi xin khấn cho gia đình bình yên, con dâu và con gái tôi sinh nở bằng yên. Vì các cha, thầy thuộc dòng chuyên cầu nguyện, với sự hãm mình cách nào đó theo luật của đan viện, nên chúng tôi, những người theo đạo, tin rằng lời cầu của các thầy, các cha sẽ được Thiên Chúa của chúng tôi tôn thờ nhậm lời nhiều hơn. Với những người ngoài tôn giáo, có những người họ đi đến đây là vì họ nghe đồn thế này thế kia, và có lẽ họ chỉ là kẻ đi vái tứ phương khi họ không biết kêu cầu cùng ai trong cơn cùng khổ của họ. Chuyện đó, chỉ có người trong cuộc mới cảm nghiệm được. Đối với chúng tôi, chúng tôi tin vào lời hứa của Đức Giêsu khi Ngài nói với các Môn đệ của Ngài “Hãy xin sẽ được, hãy tìm sẽ thấy, hãy gõ sẽ mở cho” và “Đức tin đã chữa anh lành” khi Ngài nói với anh chàng mù thành Giêrikô cùng với nhiều người bệnh khác vào thời của Ngài. Và với niềm tin như vậy chúng tôi cầu khẩn Ngài; và vì nhớ lại lời nhắn nhủ của Ngài “ở đâu có hai ba người hợp lại mà cầu xin, thì Ta sẽ ở giữa họ”, nên chúng tôi đến chung lời kinh nguyện, cùng hát và đọc kinh chung là vì như vậy. Chúng tôi đến Đan viện để xin các cha, thầy ở đó cầu nguyện, hay bất cứ dòng tu nào, hay là nơi hành hương nào là vì Đức Giêsu, Chúa của chúng tôi, cũng đã nói cho chúng tôi biết rằng có những điều xin, cần phải ăn chay, hãm mình mới được thỏa nguyện. Do vậy, chúng tôi, tự bản thân, nhận thấy rằng không làm được điều đó, nên chúng tôi đến Đan Viện, nhà thờ… để nhờ các cha, thầy làm giúp thay mình điều đó. Việc cúng tiền vào hòm, được xem như là lòng thành chung việc hãm mình, cầu nguyện với các cha, thầy, đó có thể là sự hy sinh một tô bún bò buổi sáng, thay vào đó là tô cơm nguội. Không phải là chúng tôi không có khả năng ăn tô bún khác, nhưng đó có thể là sự hy sinh tự nguyện bản thân chúng tôi để hạnh phúc của con cái chúng tôi đầy tràn.
    Tôi nói dài dòng như vậy, để cho các anh bồi bút biết rằng, chúng tôi không “ngu” và “nhẹ dạ” như các anh tưởng (thật sự không phải các anh tưởng mà là các anh giả vờ tưởng). Tôi bảo các anh “vô văn hóa” là vì các anh dùng những lời lẽ đầy mưu mô xảo trá và viết sai sự thật. Vì là Đan viện, tức là dòng ẩn tu, nên các thầy và các cha không tiếp xúc nhiều với giáo dân như các dòng tu khác, chỉ có một số thầy hay cha được bề trên chỉ định mới tiếp xúc với giáo dân, nên phải có nơi để giáo dân đến gặp lúc cần thiết cho việc liên quan đến phần hồn và đức tin của giáo dân. Lúc đầu, ít người đến, các cha, các thầy ra gặp giáo dân để nhận và ghi ý lễ hoặc ý cầu nguyện, như tất cả các nhà thờ khác, nhưng sau đó vì nhiều người được ơn, mách bảo cho nhau, họ kéo tới đông, và chính quyền sở tại không muốn các thầy tiếp xúc, nên từ đó không thấy các thầy hay các cha ra gặp giáo dân nữa. Bên cạnh nhà thờ, có một phòng bán tranh ảnh, tượng, chuỗi Mân Côi và các loại dầu tràm, do các cha, các thầy ở Đan Viện Thiên An Huế sản xuất từ nhiều năm nay. Trước giải phóng, các thầy ở Huế cũng đã bán rồi, loại dầu rất hay cho sản phụ, người già cả và cả trẻ em. Ai không tin, xin đến mua thử về xài, không đúng như tôi nói, tôi sẽ trả tiền lại gấp đôi, một chai nhỏ giá 12 ngàn vnđ (ở Huế thì 10 ngàn). Nói như vậy, để cho các bạn đọc biết rằng, người viết bài này có đi đến đó thật sự, và cũng để cho các bạn biết rõ, cái dầu xức đó là dầu gì, chứ không phải như anh bồi bút nào đấy “ngu si” nhìn mà không thấy rồi cứ đoán mò. Biết đâu anh bồi bút đó chưa đi tới nơi, mà chỉ nghe kể lại rồi ngồi tại chỗ mà báo cáo láo. Thật là bây giờ tôi mới thấy cái câu ngày xưa cha tôi hay nói với chúng tôi đó là câu “Nhà Báo nói láo ăn tiền” mới đúng làm sao. Còn cái chuyện có bầu và khám bệnh, tôi đã gặp và nói chuyện với ba thai phụ ở trong phòng cầu nguyện, và một thai phụ ở Ông Đồn, giáo xứ Tam Thái, khi tình cờ xuống thăm người bạn sau tết. Tôi gặp một người đã có bầu và thắc mắc sao đã có bầu lại còn đi xin cho có con? Tôi nghĩ có lẽ họ giống mình, đi cầu nguyện thôi. Tôi thấy cô ta đi có một mình, mà lại bụng mang dạ chửa, chắc là có chi đau khổ lắm đây. Nghĩ vậy nên tôi làm quen, không ngờ lại biết được, cô ấy là người được Chúa nhậm lời sau 9 năm tuyệt vọng, bây giờ đã mang thai 6 tháng rồi. Tôi hỏi tiếp: vì sao em biết mang thai? - Dạ, em thấy tắt đường kinh và đi khám chỗ Sơ và được biết là em có thai. Em không đi siêu âm sao? Dạ không, em tin Chúa cho em, nên em trao cho Chúa lo. Trai, gái gì cũng được, miễn là có con. -Vậy em có uống thuốc gì không? Dạ có, thuốc bổ, thuốc Nam v.v… Và tôi tin vì thấy, còn vì sao họ có thai, không thuộc quyền của tôi. Với người có niềm tin, tôi tin vào lời của sứ thần khi trả lời cho Đức Maria trong ngày loan báo Mẹ có thai Con Đấng TỐI CAO “Không có điều gì mà Thiên Chúa không làm được”.
    Đọc mấy bài phản hồi, tôi cũng thấy rõ cái sự xem thường mấy tay bồi bút, học trò cũ của tôi ở Mỹ gửi thư về hỏi “cô ơi làm sao mà dịch ra tiếng Mỹ cho mấy đứa bạn mỹ của em hiểu cái tựa đây cô? Cô biết không? Ở bên này mà báo chí viết như vậy là chúng em có quyền kiện ra tòa đó, vì đã xâm phạm và lăng nhục vào niềm tin tôn giáo. Nếu anh ta viết “đi cầu nguyện có bầu” thì đó chỉ là bài phóng sự, có thể là thêm mắm muối, cho thêm phần sống động, thì không sao, thế nhưng anh ta viết “đi cầu… có bầu” thì bài viết đó là bài viết có tính cách mạ lỵ và đụng chạm đến niềm tin thánh thiêng của con người tin, chứ không còn là bài phóng sự nữa. Nhưng cô ơi, em biết bên Việt Nam mình, làm gì có công lý phải không cô? Sao họ không để giờ và sức lực mà nâng cao dân trí và làm giàu cho đất nước mà họ cứ chĩa mũi dùi vào các cha và các sơ vậy cô nhỉ? Ở xa thì em nhớ quê nhà lắm, nhưng mà về ở thì chắc là không rồi”. Đó! cái con bé học trò cũ của tôi, chỉ được ở và học tiếng Việt đến 12 tuổi thôi mà nó cũng còn biết và hiểu tiếng Việt như vậy, huống hồ chi là chúng tôi?
    Vậy mà, có anh nhà báo “bố láo” coi thường bạn đọc chúng tôi. Vậy có nên tẩy chay báo Thanh Niên? Vì đã lừa đảo, và chạy theo lợi nhuận mà bán rẻ đi cái thâm thúy thanh cao của Tiếng Việt? Một lối chơi chữ ngu si, thô tục, làm mất đi sự hào hùng, trong sáng của toàn thể thanh niên Việt Nam trên thế giới, vì tôi hay bất cứ ai, như cô học trò của tôi,cũng không thể nào cười được khi thông dịch cho bất cứ một người nước ngoài nào cái tựa bài báo “đi cầu’’ như vậy.
    Trương Thị Nữ, Sài Gòn, tháng Tư 2009.
    Phản hồi từ bài báo: “Tôi đi cầu…có bầu”
    Tôi, một bệnh nhân đang đươc xơ Yến chữa bệnh, thật sự bức xúc khi đọc những bài phóng sự của nhà báo Nguyễn Lê Nguyên đăng trên Báo Thanh niên từ ngày 31/3- 2/4/2009. Tôi chỉ là một bệnh nhân nghèo, ít học. Tôi không tốt nghiệp một trường Đại học nào như anh Lê Nguyên cả. Bố mẹ tôi cho tôi học đủ để biết đọc, biết viết và nhất là biết phân biệt đúng- sai, biết nhìn mọi sự dưới nhiều góc cạnh của nó chứ không như “những thầy bói mù đi xem voi”.
    Còn anh, anh Lê Nguyên? Tôi nghĩ, ít nhất anh cũng đã tốt nghiệp Khoa Báo chí của một trường Đại học nào đó chứ anh không phải là “tay phóng viên đâm ngang” hoặc vì “quen biết” mà được vào làm trong tòa báo Thanh Niên - Diễn đàn của Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt nam.
    Giữa anh và tôi, chúng ta có một khoảng cách lớn về địa vị xã hôi, về bằng cấp học vấn (tôi không muốn dùng cụm từ “trình độ” vì khối kẻ có bằng cấp cao nhưng có “trình độ” thực sự thì…“hậu xét”). Nhưng hôm nay, tôi mạn phép để nói với anh đôi điều mà anh chưa biết trong cuộc sống cũng như những điều anh đã “quên” sau những năm ở giảng đường Đại hoc. Tôi bắt đầu nhé!

    1. Tôi không bàn nhiều về cái cách anh đặt tựa cho bài báo “Tôi đi cầu…có bầu” vì đã có nhiều người “dạy” cho anh rồi (hẳn là anh đã đọc trên mạng???). Thú thực với anh, đọc cái tựa bài này, tôi thấy nó thô thiển, thô tục làm sao ấy. Nhưng tôi chợt hiểu: Anh đang học bắt chước cách “tiếp thị giật gân” mà các báo “lá cải” ở nhiều nước người ta hay làm. Còn ở Đất nước Việt nam “4000 năm văn hiến” của chúng ta, nhất là trên “Diễn đàn của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt nam” thì nó không phù hợp lắm. Vô tình anh đã làm “xấu” đi nét văn hóa của người Việt nam rồi đấy!

    2. Trong bài báo ngày 1/4/2009, anh viết: “Có vẻ thấy bất ổn mấy tay bảo bệ đóng cánh cửa sắt “rầm”, định khóa cửa vô luôn”. Người đọc sẽ có cảm tưởng đây là “sào huyệt” của những tên xã hội đen, với những tay côn đồ bặm trợn, trong khi đây là phòng khám bệnh “miễn phí”. Anh có ý đồ gì khi gán cho anh bảo vệ nghèo này cụm từ “mấy tay bảo vệ”? Tôi vẫn đến đây khám bệnh nên biết anh bảo vệ này là ai. Trong ngôn từ của anh có cái gì đó “xúc phạm đến phẩm giá” người nghèo đấy, anh Nguyên ạ!
    Ở một đoạn khác: “Một người đàn bà nói vọng ra từ bên trong…, Người đàn bà sắp cho người vô sau ngồi dãy bên trái…, Người đàn bà khác khóa lại…, Các người đàn bà đi dọc các hàng ghế kiểm tra và ổn định chỗ ngồi như những vệ sĩ chuyên nghiệp…”. Tôi không hiểu tại sao anh lại dùng cụm từ: “người đàn bà” thay vì dùng cụm từ “người phụ nữ”. Mặc dù anh viết đúng ngữ pháp và ai cùng hiểu “người đàn bà” là người thuộc “giống cái”. Nhưng, giá mà anh viết “người phụ nữ” thì nghe nó thanh tao và tôn trọng chị em phụ nữ hơn. Thường thì, để tỏ thái độ khinh miệt, người ta mới gọi phụ nữ là “đồ đàn bà”. Anh có gọi mẹ anh, chị anh và vợ anh (nếu có) là “đàn bà” không? Hay là anh trân trọng gọi họ là “những người phụ nữ” của anh? Coi chừng anh lại “xúc phạm đến phẩm giá phụ nữ” nữa đấy!

    3. “Số ghi thẳng vào..da” (1/4/2009).
    Anh có hiểu tại sao Xơ phải ghi số vào tay không? Chắc anh không biết đâu mà cũng có thể anh biết, nhưng “cái biết thật” đó sẽ làm mất đi tính hấp dẫn li kì của bài phóng sự nên anh không dám nói thật. Số là như vầy: Trước đây, chúng tôi đến khám bệnh có lấy thẻ số như ở bệnh viện. Nhưng rồi, những người cò mồi xuất hiện, họ chen vào lấy số và bán cho các bệnh nhân đến sau với giá từ 30.000-100.000 đồng, trong khi Xơ khám bệnh miễn phí. Vì tội nghiệp những bệnh nhân nghèo phải mất tiền oan uổng, Xơ mới viết số trên cánh tay bệnh nhân và giải thích cho chúng tôi biết tại sao Xơ làm như thế. Nhóm cò mồi cũng băt chước theo nên Xơ phải đổi màu bút thuờng xuyên và ghi ký hiệu riêng để họ không bắt chước được. Có lần, tôi chứng kiến hai bệnh nhân có cùng một số vào khám. Xơ nhận ra một người có số giả, Xơ dừng khám và hỏi mãi họ mới chịu tiết lộ là có một ông ghi số cho họ với giá 100.000 đồng. Xơ đề nghị họ ra đòi tiền lại rồi Xơ mới khám cho. Nhờ sự cương quyết của Xơ mà nhũng người cò mồi bớt đường làm ăn, trả lại sự công bằng cho người nghèo. Tôi nghĩ đây không phải là sự xúc phạm thân thể như một vị kết luận (số Báo ngày 2/4/ 2009). Thiết nghĩ, sự xúc phạm đến danh dự, uy tín của một con người chắc còn nặng hơn nhiều? Trước một sự kiện nào đó, ta nên tìm hiểu tại sao và nhìn dưới mọi góc cạnh của nó thì cuộc đời này sẽ bớt đi nhiều sự xấu.

    4. “Ba đêm liên tiếp, chúng tôi đã có mặt ở khu vực phòng khám xơ Yến để ghi âm, ghi hình việc cho số khám bệnh từ lúc nửa đêm… Khoảng 4 giờ sáng, nghe tiếng lạch cạch mở cửa bên trong…”. (Số báo ngày 1/4/2009) Có ai thấy một sự không chính xác, không thống nhất trong bài viết của phóng viên Nguyễn Lê Nguyên không? Anh vừa mới viết: “việc cho số khám bệnh lúc nửa đêm” thì ở đoạn kế tiếp anh xác định khá chính xác việc Xơ mở cửa cho số lúc “4 giờ sáng”. Một đứa con nít cũng hiểu “nửa đêm” là lúc nào, “4 giờ sáng” là lúc nào? Có lẽ do anh quá mỏi mệt vì “ba đêm liên tiếp” mai phục ở đây nên anh không còn minh mẫn để phân biệt sáng - đêm nữa???
    Anh có biết tại sao Xơ phải ghi số sớm cho chúng tôi không? Có những bệnh nhân đến từ xa: Hà Tĩnh, Buôn Ma Thuột , thậm chí từ Bắc vào. Xe đến nơi lúc nửa đêm hay 3, 4 giờ sáng là chuyện bình thường. Thế nên Xơ phải mở cửa sớm cho chúng tôi vào để nghỉ trong sân phòng khám cho an toàn, khỏi nạn trộm cắp hoặc những bất trắc khác và nhất là để chúng tôi giải quyết những “việc cần” một cách sạch sẽ và có văn hóa sau một chặng đường dài hơn là giải quyết bừa bãi, mất vệ sinh.. Đây là việc làm đầy tình người của Xơ. Một việc tốt như vậy mà có những người lại hiểu “méo mó nghề nghiệp” như thế!
    Anh Lê Nguyên, là một nhà báo, hẳn là anh hiểu vai trò, chức năng, quyền lợi và nghĩa vụ của anh. Đừng đánh mất đạo đức của một nhà báo cách mạng! Đừng làm ô danh các thầy cô đã dạy anh khi anh sử dùng từ ngũ không chính xác và thiếu văn hóa! Là tầng lớp thanh niên trẻ trí thức, anh đừng làm chúng tôi thất vọng!
    bocau
  8. nguoive.cuoipho

    nguoive.cuoipho Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    17/05/2010
    Đã được thích:
    0
    Vì sao người Do Thái giỏi làm kinh tế ?

    Cựu chủ tịch FED Alan Greenspan là người Do Thái.
    Karl Marx, Alan Greenspan, Paul Krugman, George Soros, Michael Bloomberg...đều là những người gốc Do Thái rất thành công.
    [​IMG]


    Cả một dân tộc giỏi làm kinh tế

    Chúng ta đều biết người Do Thái (thời cổ gọi là Hebrew) là dân tộc thành công nhất trên nhiều lĩnh vực trí tuệ, nhưng có lẽ ít ai biết họ thực ra còn cực kỳ xuất sắc trên mặt kinh tế, tài chính, thương mại.

    Họ đạt được những thành tựu đó trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn: toàn bộ dân tộc Do Thái buộc phải sống lưu vong phân tán, “ăn nhờ ở đợ” suốt 2000 năm qua trên khắp thế giới, đi tới đâu (trừ ở Mỹ) cũng bị xa lánh hoặc hắt hủi, xua đuổi, tước đoạt, thậm chí hãm hại, tàn sát vô cùng dã man, bị cấm được sở hữu bất cứ tài sản cố định nào như nhà đất, tài nguyên thiên nhiên ....

    Chỉ cần lướt các mạng tìm kiếm là ta có thể sưu tầm được ngay một số thành tựu cực kỳ gây ấn tượng của người Do Thái trên lĩnh vực kinh tế, dù là về mặt lý thuyết hay thực tiễn. Hãy xem một số số liệu sau đây:

    Rất nhiều nhà lý thuyết kinh tế hàng đầu thế giới là người Do Thái, các lý thuyết họ xây dựng nên đã ảnh hưởng vô cùng to lớn nếu không nói là quyết định tới quá trình trình tiến hóa của nhân loại:

    - Karl Marx (Các Mác) người khám phá ra “giá trị thặng dư” và xây dựng học thuyết kinh tế chủ nghĩa cộng sản sẽ thay thế cho chủ nghĩa tư bản, được gọi là một trong hai người Do Thái làm đảo lộn cả thế giới (người kia là Jesus Christ);

    - Alan Greenspan 17 năm liền được 4 đời Tổng thống Mỹ tín nhiệm cử làm Chủ tịch Cơ quan Dự trữ Liên bang (FED, tức Ngân hàng Nhà nước Mỹ) nắm quyền sinh sát lớn nhất trong giới tài chính Mỹ, thống trị lĩnh vực tài chính tiền tệ toàn cầu;

    - Paul Wolfowitz cùng người tiền nhiệm James Wolfensohn, hai cựu chủ tịch Ngân hàng Thế giới, tổ chức tài chính có tác dụng rất lớn đối với các nước đang phát triển;

    - 41% chủ nhân giải Nobel kinh tế thời gian 1901-2007 là người Do Thái (cộng 13 người), chẳng hạn Paul Samuelson (1970), Milton Friedman (1976) và Paul Krugman (2008) … là những tên tuổi quen thuộc trong giới kinh tế thế giới hiện nay, các lý thuyết của họ được cả thế giới thừa nhận và học tập, áp dụng...

    Nhiều nhà giàu nổi tiếng thế giới từng tác động không nhỏ tới chính trị, kinh tế nước Mỹ và thế giới là người Do Thái. Đơn cử vài người :

    - Jacob Schiff, chủ nhà băng ở Đức, sau sang Mỹ định cư; đầu thế kỷ XX do căm ghét chính quyền Sa Hoàng giết hại hàng trăm nghìn dân Do Thái ở Nga, ông đã cho chính phủ Nhật Bản vay 200 triệu USD (một số tiền cực kỳ lớn hồi ấy) để xây dựng hải quân, nhờ đó Nhật thắng Nga trong trận hải chiến Nhật-Nga năm 1905. Nhớ ơn này, trong đại chiến II Nhật đã không giết hại người Do Thái sống ở Trung Quốc tuy đồng minh số Một của Nhật là phát xít Đức Hitler có nhờ Nhật “làm hộ” chuyện ấy.

    - Sheldon Adelson, người giàu thứ 3 nước Mỹ năm 2007, với tài sản cá nhân lên tới 26,5 tỷ USD.

    - George Soros giàu thứ 28 ở Mỹ (7 tỷ USD) nổi tiếng thế giới hiện nay về ý tưởng đầu tư và làm từ thiện quy mô lớn.

    - Michael Bloomberg có tài sản riêng 5,1 tỷ USD, làm thị trưởng thành phố New York đã 8 năm nay với mức lương tượng trưng mỗi năm 1 USD và là chủ kênh truyền hình Bloomberg nổi tiếng trong giới kinh tế, đang được mong đợi sẽ là ứng cử viên Tổng thống Mỹ khóa tới...

    Cộng đồng Do Thái ở Mỹ chiếm một nửa tổng số người Do Thái trên toàn thế giới là quần thể thiểu số thành công nhất ở Mỹ dù chỉ chiếm 2,5% số dân. Khoảng một nửa số doanh nhân giàu nhất Mỹ, 21 trong số 40 nhà giàu đứng đầu bảng xếp hạng của tạp chí Forbes là người Do Thái, và cộng đồng Do Thái có mức sống bình quân cao hơn mức trung bình của nước này.

    Họ nắm giữ phần lớn nền kinh tế tài chính Mỹ, tới mức người Mỹ có câu nói “Tiền nước Mỹ nằm trong túi người Do Thái”. Nhờ thế trên vấn đề Trung Đông chính phủ Mỹ xưa nay luôn bênh vực và viện trợ Israel.

    Nước Israel nhỏ bé với hơn 5 triệu người Do Thái tuy ở trên vùng sa mạc khô cằn nhưng nông nghiệp và các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật đều rất phát triển, dân rất giàu, GDP đầu người năm 2003 bằng 19.000 USD. Nhờ sức mạnh mọi mặt ấy, quốc gia nhỏ xíu này đã đứng vững được trong làn sóng hằn thù và công kích của cả trăm triệu người A Rập xung quanh ...

    Nguyên nhân do đâu?

    Vì sao người Do Thái giỏi làm kinh tế trên cả hai mặt lý thuyết và thực hành như vậy? Lịch sử đã chứng minh, yếu tố quyết định thành công của một dân tộc bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của dân tộc ấy.

    Để tìm hiểu truyền thống văn hóa của dân tộc này có lẽ ta cần tìm hiểu các nguyên tắc chính của đạo Do Thái (Judaism), tôn giáo lâu đời nhất thế giới còn tồn tại tới ngày nay và là chất keo bền chắc gắn bó cộng đồng, khiến dân tộc này giữ gìn được nguyên vẹn nòi giống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa mặc dù phải sống phân tán, lưu vong và bị kỳ thị, xua đuổi, hãm hại, tàn sát dã man suốt 2000 năm qua.

    Có thể nói, nếu không có chất keo ấy thì từ lâu dân tộc Do Thái đã bị tiêu diệt hoặc đồng hóa và biến mất khỏi lịch sử. Đạo Do Thái là tôn giáo duy nhất thành công trên cả hai mặt: giữ được sự tồn tại của dân tộc và hơn nữa đưa họ vươn lên hàng đầu thế giới trên hầu hết các lĩnh vực trí tuệ.

    Muốn vậy, ta thử điểm qua vài nét về Kinh thánh của người Do Thái (Hebrew Bible) – kinh điển này hơn 10 thế kỷ sau được đạo Ki-tô lấy nguyên văn làm phần đầu Kinh Thánh của họ và gọi là Cựu Ước, nhằm phân biệt với Tân Ước do các nhà sáng lập Ki-tô giáo viết. Ta cũng cần xem xét một kinh điển nữa của đạo Do Thái gọi là Kinh Talmud, quan trọng hơn cả Cựu Ước, có đưa ra nhiều nguyên tắc cụ thể cho tới thời nay vẫn còn giá trị về kinh doanh, buôn bán.

    Trước hết người Do Thái có truyền thống coi kiến thức trí tuệ là thứ quý nhất của con người.

    Kinh Talmud viết: Tài sản có thể bị mất, chỉ có tri thức và trí tuệ thì mãi mãi không mất đi đâu được. Các ông bố bà mẹ Do Thái dạy con: Của cải, tiền bạc của chúng ta đều có thể bị kẻ khác tước đoạt nhưng kiến thức, trí tuệ trong đầu óc ta thì không ai có thể cướp nổi.

    Với phương châm đó, họ đặc biệt coi trọng việc giáo dục, dù khó khăn đến đâu cũng tìm cách cho con học hành; ngoài ra họ chú trọng truyền đạt cho nhau các kinh nghiệm làm ăn, không bao giờ giấu nghề. Người Do Thái có trình độ giáo dục tốt nhất trong các cộng đồng thiểu số ở Mỹ, thể hiện ở chỗ họ chiếm tỷ lệ cao nhất trong sinh viên các trường đại học hàng đầu cũng như trong giới khoa học kỹ thuật và văn hóa nghệ thuật.

    Thứ hai, đạo Do Thái đặc biệt coi trọng tài sản và tiền bạc. Đây là một điểm độc đáo khác hẳn đạo Ki-tô, đạo Phật, đạo Nho, ta cần phân tích thêm.

    Có lẽ sở hữu tài sản là một trong các vấn đề quan trọng nhất của đời sống loài người, là nguyên nhân của cuộc đấu tranh giữa con người với nhau (đấu tranh giai cấp) và chiến tranh giữa các quốc gia. Heghel, đại diện nổi tiếng nhất của triết học cổ điển Đức từng nói: “Nhân quyền nói cho tới cùng là quyền (sở hữu) về tài sản.” Chính Marx cũng nói: Chủ nghĩa cộng sản “là sự phục hồi chế độ sở hữu của cá nhân trên một hình thức cao hơn”.

    Rõ ràng, chỉ khi nào mọi người đều có tài sản, đều giàu có thì khi ấy mới có sự bình đẳng đích thực, người người mới có nhân quyền. Một xã hội có phân hóa giàu nghèo thì chưa thể có bình đẳng thực sự. Đạo Do Thái rất chú trọng nguyên tắc làm cho mọi người cùng có tài sản, tiền bạc, cùng giàu có.

    Triết gia Max Weber viết: “Đạo Ki-tô không làm tốt bằng đạo Do Thái, vì họ kết tội sự giàu có.” Quả vậy, Chúa Jesus từng nói: “Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Chúa” (Tân Ước, Mathew 19:24), ý nói ai giàu thì khó lên thiên đường, ai nghèo thì dễ lên thiên đường hơn – qua đó có thể suy ra đạo Ki-tô thân cận với người nghèo khổ. Nho giáo và đạo Phật lại càng khinh thường tài sản, tiền bạc, coi nghèo là trong sạch, giàu là bẩn thỉu.

    Ngược lại Cựu Ước ngay từ đầu đã viết: “Vàng ở xứ này rất quý” (Genesis 2:12). Ý tưởng quý vàng bạc, coi trọng tài sản vật chất đã ảnh hưởng lớn tới người Do Thái, họ đều muốn giàu có.

    Khái niệm tài sản xuất hiện ngay từ cách đây hơn 3000 năm khi vua Ai Cập bồi thường cho vị tổ phụ của bộ lạc Do Thái là Abraham, khiến ông này “có rất nhiều súc vật, vàng bạc” (Genesis 13:2). Thượng Đế Jehovah yêu cầu Abraham phải giàu để có cái mà thờ cúng Ngài. Thượng Đế cho rằng sự giàu có sẽ giúp chấm dứt nạn chém giết nhau. Khi Moses dẫn dân Do Thái đi khỏi Ai Cập cũng mang theo rất nhiều súc vật.

    Những người xuất thân gia đình giàu có hồi ấy như Jacob, Saul, David ... đều được Cựu Ước ca ngợi là có nhiều phẩm chất tốt, lắm tài năng, lập được công trạng lớn cho cộng đồng dân tộc và đều trở thành lãnh đạo, vua chúa. Ngược lại, văn hóa phương Đông thường ca ngợi phẩm chất của những người nghèo.

    Trọng tiền bạc là đặc điểm nổi bật ở người Do Thái.

    Họ coi đó là phương tiện tốt nhất để bảo vệ mình và bảo vệ dân tộc họ. Quả vậy, không có tiền thì họ làm sao tồn tại nổi ở những quốc gia và địa phương họ sống nhờ ở đợ, nơi chính quyền và dân bản địa luôn chèn ép, gây khó khăn.

    Hoàn cảnh ấy khiến họ sáng tạo ra nhiều biện pháp làm giàu rất khôn ngoan. Thí dụ cửa hiệu cầm đồ và cho vay lãi là sáng tạo độc đáo của người Do Thái cổ đại – về sau gọi là hệ thống ngân hàng. Buôn bán cũng là một biện pháp tồn tại khi trong tay không có tài sản cố định nào.

    Người ta nói dân Do Thái có hai bản năng: thứ nhất là bản năng kiếm tiền; thứ hai là bản năng làm cho tiền đẻ ra tiền – họ là cha đẻ của thuyết lưu thông tiền tệ ngày nay chúng ta đều áp dụng với quy mô lớn (còn ai kiếm tiền dễ hơn ngành ngân hàng?).

    Tuy vậy, sự quá gắn bó với tiền bạc là một lý do khiến người Do Thái bị chê bai. Bạn nào đã đọc tiểu thuyết Ai-van-hô (Ivanhoe) của Walter Scott chắc còn nhớ mãi hình ảnh ông lão Do Thái Isaac (I-sắc) đáng thương, bố của nàng Rebeca xinh đẹp và thánh thiện, lúc nào cũng khư khư giữ túi tiền và bị hiệp sĩ Đầu Bò nhạo báng khinh bỉ thậm tệ. Kịch của Shakespeare đưa ra nhiều hình ảnh khiến người ta có cảm giác người Do Thái bần tiện, ích kỷ, xảo trá. Tập quán cho vay lãi của người Do Thái bị nhiều nơi lên án.

    Hệ thống cửa hiệu của người Do Thái ở Đức là đối tượng bị Quốc Xã Hitler đập phá đầu tiên hồi thập niên 30. Người Đức có câu ngạn ngữ “Chẳng con dê nào không có râu, chẳng người Do Thái nào không có tiền để dành.” Karl Marx từng viết: Tiền bạc là vị thần gắn bó với người Do Thái; xóa bỏ chủ nghĩa tư bản sẽ kéo theo sự xóa bỏ chủ nghĩa Do Thái.

    Người Do Thái có đóng góp rất lớn về lý thuyết và thực hành trong việc xây dựng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

    Đạo Do Thái coi làm giàu là bổn phận nặng nề của con người; nói “nặng nề” vì người giàu có trách nhiệm to lớn đối với xã hội: họ không được bóc lột người nghèo mà phải chia một phần tài sản của mình để làm từ thiện. Những người Do Thái giàu có luôn sống rất giản dị, tiết kiệm và năng làm từ thiện. Soros từng cúng 4 tỷ USD (trong tổng tài sản 7 tỷ) cho công tác từ thiện. Không một nhà giàu Do Thái nào không có quỹ từ thiện của mình. Từ đây có thể hiểu được tại sao cộng đồng Do Thái lại cùng giàu có như thế.

    Theo Nguyễn Hải Hoành
    Dongtac
  9. nguoive.cuoipho

    nguoive.cuoipho Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    17/05/2010
    Đã được thích:
    0
    Trung Quốc: mặt trái của những vĩ đại

    Từ sau chánh sách mở cửa kinh tế của Đặng Tiểu Bình phát động vào tháng 12 năm 1978, Trung Quốc tự phong và thế giới xưng tụng Trung Quốc là một khủng long đang chỗi dậy. Đặc biệt người Pháp hay dùng những ẩn dụ tượng hình để thần thoại hóa Trung Quốc, nào là lời nói của Napoléon khi xưa «Quand la Chine s’éveillera, le monde tremblera» (Khi Trung Quốc thức dậy, thế giới sẽ rung chuyển) được Alain Peyrefitte, một tổng trưởng của nội các De Gaulle lập lại dùng làm tựa cho quyển sách nổi tiếng của ông vào năm 1973, nào là « Quand la Chine change le monde» của Erik Izraelewicz vào năm 2005, và gần đây (2007), José Frèches, một nhà Trung hoa học (sinologue) đã lộng ngôn đề tựa cho quyển sách của ông « Quand les Chinois cesseront de rire, le monde pleurera » (Khi người Trung Quốc không cười nữa, thế giới sẽ khóc).

    Trung Quốc có thực sự vĩ đại đến độ làm tắt tiếng cười của nhân loại hay Trung Quốc chỉ là một người khổng lồ đang mắc nhiều chứng bịnh trầm kha.



    Không ai biết rõ Trung Quốc bởi lẽ chính người Trung Quốc, cho dù thông thái, cũng không biết hết đất nước của họ. Sách vở viết về Trung Quốc không sao kể xiết, và một người suốt cả đời sống với sách vở Trung Quốc, ông David Watt, Giám Đốc Bộ Sách Đông Nam Á của Thư Viện Cornell, đã thố lộ vài tháng trước khi mất là ông chỉ biết một ít về Trung Quốc.

    Trong ý nghĩa ấy, bài viết chỉ là một thứ tạp luận, bổ túc cho những tài liệu chính trị mà người Việt chúng ta gần đây đọc được qua internet và báo chí về hiểm họa Trung Quốc đối với Việt Nam. Một cách cụ thể hơn, bài viết còn mang mục đích như một thứ cẩm nang thông tin cho những du khách muốn biết sơ lược về đất nước nầy trước khi đặt chân đến, đặc biệt những địa danh dịch ra tiếng Việt chắc sẽ giúp du khách bớt đi bối rối khi nghe nói hay phải đọc những tài liệu bằng tiếng quan thoại.



    Căn bản của sự vĩ đại : đất rộng và dân đông

    Trung Quốc rộng 9,6 triệu km2, đứng hạng ba trên thế giới sau Liên Sô và Canada, có 20 341 km ranh giới với 14 quốc gia :

    - phía Bắc và Tây Bắc (5) : Nga, Mông Cổ, Kazathstan, Kirghstan, Tadjikistan,

    - phía Tây và Tây Nam (5): Afghanistan, Pakistan, Népal, Bhoutan, Ấn Độ,

    - phía Nam (3) : Miến Điện, Lào, Việt Nam (riêng với VN dài 1282 km)

    - phía Đông (1) : Bắc Hàn.



    Tuy Liên Sô và Canada có diện tích rộng hơn Trung Quốc, nhưng hai nước nầy không được vinh dự mang tên vĩ đại. Trung Quốc vĩ đại bởi lẽ ngoài đất rộng, Trung Quốc còn có một dân số khổng lồ. Cuối năm 2009, dân số Trung Quốc là 1,3 tỷ và …thêm một con số lẻ tẻ (số lẻ tẻ nầy hơn cả dân số của Canada). Theo công bố chính thức của Tân Hoa Xả là 1 338 triệu ( 10/2009)

    Nhưng dưới mắt người Tây Phương và cả người dân Trung Quốc, những con số thống kê do Trung Quốc công bố rất ngờ vực, bởi lẽ chính phủ thêm bớt tùy theo nhu cầu.

    Ngày 6 tháng giêng năm 2005, nhật báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của nhà nước tuyên bố là đứa con trai mang số 1, 3 tỷ vừa được sinh ra tại một bệnh viện ở Bắc Kinh. Tin thực buồn cười, bởi lẽ với một quốc gia có 40 000 trẻ sơ sinh mỗi ngày, cứ 4 giây đồng hồ thì có một đứa trẻ ra đời và với một hệ thống bệnh viện đủ loại trên một lãnh thỗ rộng hơn 9 triệu km2, với phương tiện truyền thông tại nhiều địa phương còn lạc hậu thì làm sao xác định được số thứ tự của một trẻ sơ sinh.

    Michel Cartier, trong một nghiên cứu tỉ mỉ dựa vào các niên giám dân số và các tài liệu thống kê của Trung Quốc từ 1982 đến 2000 đã đi đến kết luận là con số 1,3 tỷ kể trên chỉ là ước định dựa vào tỷ lệ số sinh và số tử chứ chẳng dựa vào một thống kê khoa học nào. Ông còn nói thêm dân số Trung Quốc thực sự có thể nhiều hơn, vì với chánh sách đứa con duy nhất, nhiều dân quê không khai báo đứa con thứ hai, nhưng dù sao đó cũng là một con số chuẩn để từ đó tính dân số về sau. (Frédéric Lasserre. L’éveil du dragon, p. 307-311).

    Trung Quốc cũng cho biết là mỗi năm Trung Quốc tăng độ 10 triệu dân, do đó mới có con số 1,3 tỷ vào năm 2005 và thêm 38 triệu vào năm 2009.

    Không phải chỉ có thống kê dân số bị ngụy tạo mà đa số thống kê trong nhiều lãnh vực cũng gian dối, đặc biệt về kinh tế. Một bài viết trong tờ Foreign Policy tháng 9 năm 2009 đã chứng minh vài sự kiện trong muôn một về sự bất khả tín những con số của chính quyền Trung Quốc đưa ra. Theo tờ báo nầy thì Tổng cục Thống kê của Trung Quốc đã công bố là sản lượng công kỹ nghệ của Trung Quốc đã tăng trong tháng 4/2009 là 8,3% so với cùng thời gian nầy năm trước và số tiêu thụ điện năng thì giảm 3,5%. Tổng Cục Thống Kê cũng cho biết là thị trường bán lẻ cũng tăng lên 14,8%. Làm sao mà công kỹ nghệ tăng sản lượng khi mà tiêu thụ điện năng giảm, số đầu tư ngoại tệ giảm (giảm 21%, con số xác thực do các ngân hàng đầu tư cung cấp), và làm sao mà thị trường bán lẻ gia tăng khi mà 20 triệu thợ di cư thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp tại các thành phố từ 4 đến 10%. Tổng Cục Thống kê cũng công bố là số xe hơi bán ra ở Trung Quốc trong tháng 4/2009 là 1, 15 triệu chiếc, trong khi tại Hoa Kỳ chỉ có 820 000 chiếc. Con số trên bị «lật tẩy » khi đọ lại với con số phát hành bảng số của bộ *******, cơ quan phát hành số xe.

    Trong một cuộc hợp báo hồi tháng 9 năm 2008, Phó Thủ Tướng Lý Quốc Cường cũng đã công nhận ngành Thống Kê Trung Quốc còn yếu kém.

    Trước tình trạng ngụy tạo số thống kê, tạo sai lệch về thông tin và gây khó khăn trong việc soạn thảo chính sách kinh tế vĩ mô, chính phủ đã ban hành chỉ thị có hiệu lực từ ngày 1 tháng 5/2009 theo đó bất cứ cơ quan nào báo cáo sai lệch hoặc ngụy tạo dữ kiện sẽ bị trừng phạt. Nếu cấp lãnh đạo đòi hỏi cấp dưới ngụy tạo thống kê sẽ bị cách chức, sa thải hay xét xử trước tòa án. Theo Tân Hoa Xã, đây là lần đầu tiên chính phủ có biện pháp chế tài đối với hiện tượng « tham nhũng thống kê», nhưng theo Yi XianRong, một nhà nghiên cứu của CASS (China Academy of Social Sciences) thì « bao giờ chính phủ không thay đổi chánh sách thi công, thì bấy giờ chuyện gian trá thống kê vẫn tồn tại » (xinhuanet.com)

    Gian trá thống kê là chuyện thường tình của Trung Quốc, và những vĩ đại của Trung Quốc, có chuyện là sự thực, có chuyện là thổi phòng và nhiều chuyện là láo khoét. Đó là một loại mặt trái phổ quát của những vĩ đại Trung Quốc.



    Mỗi tỉnh Trung Quốc là một quốc gia

    Với một diện tích bao la và một dân số khổng lồ, Trung Quốc lại phân chia ra rất ít đơn vị hành chánh, do đó mỗi đơn vị hành chánh có diện tích và dân số to lớn như một quốc gia.

    Trung Quốc có 56 chủng tộc trong đó 92% là người Hán cư trú trong vùng nội địa Trung Quốc, còn 55 chủng tộc dân tộc thiểu số cư trú đa số ở các khu tự trị vùng ngoại vi .

    Trung Quốc có 22 tỉnh (vì lý do chính trị, Trung Quốc kể Đài Loan như tỉnh thứ 23), 4 thành phố trực thuộc trung ương mà mỗi thành phố được xem như một tỉnh, 5 khu tự trị, và 2 đặc khu hành chánh có quy chế chánh trị riêng (một quốc gia, hai hệ thống).





    STT

    Đơn vị hành chánh

    Thủ phủ

    Dân số

    (triệu)



    4 thành phố trực thuộc

    trung ương



    cuối 2007

    1

    Bắc Kinh (Beijing)



    16,3

    2

    Thiên Tân (Tianjin)



    11

    3

    Trùng Khánh (Chongqing)



    28

    4

    Thượng Hải ( Shanghai)



    13,8



    22 tỉnh





    1

    Hắc Long Giang (Hailongjiang)

    Cáp Nhĩ Tân (Harbin)

    38,2

    2

    Cát Lâm (Jilin)

    TrườngXuân (Changchun)

    27,3

    3

    Liêu Ninh (Liaoning)

    Thẩm Dương (Shenyang)

    43

    4

    Hà Bắc (Hebei)

    Thạch Gia Tran (Shijia…)

    69,4

    5

    Hà Nam (Henan)

    Trịnh Châu (Zhengzhou)

    98,7

    6

    Sơn Tây (Shanxi)

    Thái Nguyên (Taiyuan)

    34

    7

    Sơn Đông (Shandong)

    Tế Nam (Jinan)

    93,6

    8

    Thiểm Tây (Shaanxi )

    Tây An (Xian)

    37,5

    9

    Giang Tô (Jiangsu)

    Nam Kinh (Nanjing)

    76,2

    10

    An Huy (Anhui)

    Hợp Phi (Hefei)

    66,7

    11

    Triết Giang (Zhejiang)

    Hàng Châu (Hangzhou)

    50,6

    12

    Hồ Bắc (Hubei)

    Vũ Hán (Wuhan)

    60,7

    13

    Hồ Nam (Hunan)

    Trường Sa (Shangsha)

    68

    14

    Giang Tây (Jiangxi)

    Nam Xương (Nanchang)

    43,7

    15

    Phúc Kiến (Fujian)

    Phúc Châu (Fuzhou)

    35,8

    16

    Quảng Đông(Guangdong)

    Quảng Châu (Guangzhou)

    94,5

    17

    Cam Túc (Gansu)

    Lan Châu (Lanzhou)

    26

    18

    Thanh Hải (Qinghai)

    Tây Ninh (Xining)

    5,5

    19

    Tứ Xuyên (Sichuan)

    Thành Đô (Chengdu)

    81,2

    20

    Quý Châu (Guizhou)

    Quý Dương (Guiyang)

    40

    21

    Vân Nam (Yunnan)

    Côn Minh (Kunming)

    45

    22

    Hải Nam (Hainan)

    Hải Khẩu (Haikou)

    8,4











    5 khu tự trị dân tộc thiểu số





    1

    Nội Mông Cổ (Mongolie)

    Hohhot

    24

    2

    Ninh Hạ (Ningxia) người Hồi

    Ngân Xuyên

    6

    3

    Tân Cương(Xinjiang) ng. Uygur

    Urumqi

    21

    4

    Tây Tạng (Tibet/Xizang)

    Lhassa

    2,8

    5

    Quảng Tây (Guangxi) ng. Choan

    Nam Ninh

    50











    2 đặc khu hành chánh





    1

    Hongkong



    6,9

    2

    Macau



    0,5



    Với một diện tích và dân số to lớn như vậy, tổ chức hành chánh và chánh trị Trung Quốc hoàn toàn dựa theo mô hình của đảng Cộng Sản theo kiểu kim tự tháp có 5 cấp bậc:

    1- chính phủ trung ương (1, 3 tỷ dân)

    2- 4 thành phố trực thuộc trung ương có tư cách như một tỉnh (dân số trung bình : 17 triệu) + 22 tỉnh và 5 khu tự trị (dân số trung bình : 45 triệu)

    3- 333 thành phố (dân số trung bình : 3,7 triệu)

    4- 2816 thị trấn/huyện ( comtés) ; dân số trung bình 600 000

    5- 44 016 làng (communes) : dân số trung bình : 30 000

    Cơ cấu trên được điều khiển bởi 70 triệu công chức trong đó có 5 triệu là đảng viên, tạo nên tình trạng lãnh chúa ở các địa phương (lãnh chúa chớ không là sứ quân bởi lẽ lãnh chúa tuân hành cấp trên, bắt nạt cấp dưới và dân chúng, và bất hợp tác hay chống đối với cấp lãnh đạo hàng ngang).



    Thật là hoang tưởng hay ngây ngô, khi nghĩ là Trung Quốc hôm nay đã chuyển thành tư bản đỏ khi thấy Trung Quốc mở cửa kinh tế làm ăn với tư bản.

    Thành lập ngày 01/07/1921 với 5 triệu đảng viên, đảng Cộng Sản gia tăng lên 10 triệu dưới thời Mao Trạch Đông (1956) và phát triển mạnh mẽ dưới thời Đặng Tiểu Bình : 35 triệu (năm 1978, khi Đặng Tiểu Bình bắt đầu phát động chánh sách mở cửa). Trong 30 năm qua, đảng CS vẫn tiếp tục bành trướng mạnh mẽ: 76 triệu đảng viên vào cuối năm 2008. Điểm đáng chú ý là số đảng viên không phải chỉ thuộc giai cấp công nông như khi mới thành lập, mà số đảng viên hôm nay có học lực đại học chiếm đến 34%. (Xinhua News Agency 01/07/2009). Năm 2001, chủ tịch đảng Giang Trạch Dân cho phép chủ nhân các xí nghiệp gia nhập đảng, điều tối kỵ trước đó.

    Giới lãnh đạo trung ương đảng, tuy đa số thế hệ đang cầm quyền là thành phần trí thức: chủ tịch Hồ Cẩm Đào (Hu Jintao) là kỹ sư thủy học, thủ tướng Ôn Gia Bảo (Wen JiaBao) là kỹ sư địa chất, phó thủ tướng Wu Bangguo là kỹ sư địện, nhưng cấp lãnh đạo và cán bộ chính quyền địa phương vẫn là thành phần ít học, bảo thủ, trung kiên với cung cách Mao, do đó, nạn cường hào ác bá, phép vua thua lệ làng là một trở ngại lớn trong mọi công cuộc cải cách và phát triển nạn tham nhũng. Trước tình trạng lão hóa cấp lãnh đạo, Đảng Cộng Sản đang «chuẩn bị» một số lãnh tụ trẻ (mà họ gọi là thế hệ thứ 5) lớn lên trong thời kỳ mở cửa của Đặng Tiểu Bình để trực diện với đổi mới kinh tế, nhưng thực sự đó chỉ là thứ bình phong cho các thái thượng hoàng thao túng.



    Tham nhũng là một đại nạn làm Trung Quốc bị thất thoát công quỹ từ 1,5% đến 5% sản lượng quốc gia theo một báo cáo của OCDE năm 2005. Trong vòng 10 năm, chính quyền đã điều tra 500 000 vụ tham nhũng lớn nhỏ. Trong 8 tháng đầu năm 2006, Ủy Ban điều tra tham nhũng cho biết có 15, 6 tỷ mỹ kim công quỹ bị thất thoát và có ít nhất 14 000 nhân viên cao cấp bị liên lụy. (Expansion.com 18/09/06). Và trong năm 2009, tháng nào cũng có một viên chức cấp thứ trưởng bị ra tòa với số tiền tham nhũng khổng lồ: nguyên giám đốc phi trường Bắc Kinh và nguyên giám đốc Tập đoàn công ty nguyên tử lực bị bị tử hình vì biển thủ và nhận hối lộ hàng trăm triệu MK, thứ trưởng bộ *******, giám đốc Cục Thống Kê, thị trưởng thành phố Thẩm Quyến bị bắt giam…

    Nạn tham nhũng làm mất uy tín với giới đầu tư, nhiều công ty ngoại quốc tố cáo nhân viên chức quyền Trung Quốc đòi 10% trên số tiền của dự án.

    Từ nhiều năm nay, chính phủ đã lập ra nhiều ủy ban bài trừ tham nhũng, và đặc biệt trong kỳ họp đảng hồi tháng 9 năm 2009, chính phủ đã ban hành nhiều biện pháp chống rửa tiền và ký hiệp ước dẫn độ các phạm nhân với 23 nước trên thế giới (8000 phạm nhân chuyển ra ngoại quốc hàng chục tỷ mỹ kim), nhưng tham nhũng là căn bịnh nan y đối với xã hội Trung Quốc bởi lẽ chuyện « đền ơn » nằm trong tập tục giao tế của dân Trung Quốc. Ngoài ra, theo luật hình sự của Trung Quốc ban hành năm 1997, để bị kết tội là tham nhũng thì số tiền hối lộ phải từ 50 000 yuan trở lên (6 000$US), do đó theo China Daily, 98 % những vụ tham nhũng xảy ra tại nông thôn có liên hệ tới đảng viên. Tòa Án Tối Cao Nhân Dân đòi chánh phủ phải duyệt xét lại cái « ngưỡng tham nhũng » hợp pháp nầy.

    Ngoài yếu tố quyền lực của giới lãnh đạo, việc trị an một đất nước mênh mông như Trung Quốc sỡ dĩ tương đối được dễ dàng còn nhờ vào tinh thần kỹ luật, sự tôn trọng tôn ti của người dân Trung Quốc đã được un đúc qua bao thế kỷ. Phải hiểu rằng những cuộc bạo động của dân quê trong những năm gần đây (trừ cuộc nổi dậy ở Thiên An Môn bắt nguồn từ những nguyên nhân chính trị sâu sắc) là những vụ tức nước vỡ bờ của dân quê chống lại bọn cường hào ác bá, cưỡng chiếm đất đai hay những thanh toán nội bộ (làm ngơ cho dân biểu tình chống đối để loại trừ những đối thủ), mọi hình thức bạo động chính trị đều bị triệt để thanh trừng. Và cũng phải hiểu thêm rằng dưới mắt đảng Cộng Sản và người dân Trung Quốc, quan niệm nhân quyền theo kiểu Tây Phương sẽ đưa Trung Quốc đến chỗ hỗn loạn. Trước một chỉ trích vi phạm nhân quyền của một ký giả Mỹ trong một cuộc họp báo, thủ tướng Ôn Gia Bảo đã trả lời: chúng tôi cai trị Trung Quốc theo luật pháp của một quốc gia có văn minh lâu đời và có 1,3 tỷ dân. Người Mỹ các anh chỉ có dân chủ giả hiệu. Luật Patriot Act của các anh kiểm duyệt báo chí, bắt giam người bị tình nghi chống đối chánh phủ còn tệ hại hơn luật pháp của chúng tôi…

    Lối so sánh trái lê với trái táo của Ôn Gia Bảo thực ra chỉ là một lối biện minh cho một chế độ độc tài, đảng trị.



    Về phương diện báo chí, Trung Quốc có 2081 nhật báo, 9363 tạp chí, 1000 đài phát thanh, 287 đài truyền hình (People’s daily online), tất cả đều đặt dưới dưới quyền kiểm soát của bộ Thông Tin Tuyên Truyền trực thuộc Ủy Ban Trung Ương đảng. Sự kiểm duyệt mọi phương tiện truyền thông là tuyệt đối. Đạo quân «cảnh sát internet» gồm 30 000 nhân viên thiết lập bức Vạn Lý Trường Thành lửa (Grande Muraille de feu) kiểm soát 338 triệu người sử dụng internet (tháng 6, 2009). Websites của đoàn thể, tư nhân bị xóa không cần thông báo, Google không được phép giới thiệu những bài viết, tin tức bất lợi cho chánh phủ.

    Những quyền sống căn bản của con người về y tế, giáo dục, nhà ở, hoàn toàn do chính phủ qui định. Chính phủ ép các sinh viên, học sinh học ngành kỹ thuật. Phụ nữ bị đối xữ bất công trong gia đình và xã hội (hơn 50% người thất nghiệp là phụ nữ vì xí nghiệp không muốn mướn phụ nữ để tránh trả phụ cấp hộ sản). Theo Tổ chức Y Tế Thế giới (OMS), mỗi ngày có hơn 600 phụ nữ tự tử (La Chine nouvelle, p.67). Tân Cương, Tây Tạng thường xuyên nỗi dậy, FaLunggong bị ******, tất cả những quyền căn bản của con người bị phủ nhận, đó là mặt trái chính trị của Trung Quốc vĩ đại.



    Những công trình vĩ đại

    Dù thương, dù ghét Trung Quốc, ai ai cũng phải công nhận Trung Quốc có những công trình siêu việt phát xuất từ những bộ óc sáng tạo thông minh tuyệt vời và tinh thần làm việc kỹ luật của người Trung Quốc . Không kể đến những công trình kiến trúc từ 20 thế kỷ qua là chứng tích của một nền văn minh rực rỡ mà những di tích lịch sử của nhân loại đã được UNESCO công nhận, đa số đều nằm trong lãnh thỗ Trung Quốc, trong bài viết nầy, chúng tôi chỉ đề cập đến những công trình vĩ đại thực hiện trong 30 năm qua, biến đổi Trung Quốc từ một quốc gia chậm tiến sang một quốc gia kỹ nghệ.

    Trước tiên, cửa ngõ đến Trung Quốc là phi trường Bắc Kinh. Trung Quốc đã phô trương cho thế giới thấy sự vĩ đại của mình qua phi trường Bắc Kinh đã khánh thành nhân Thế Vận Hội 2008 với một nhà ga mới gọi là nhà ga số 3. Rộng gấp 2 lần tòa Bạch Ốc, lớn hơn cả nhà ga của phi trường Heathrow ở Luân Đôn được xem là lớn nhất trước đó, nhà ga của phi trường Bắc Kinh rộng 98 mẫu, được trang bị và kiến trúc tân kỳ, hiện đại, được xem là nhà ga lớn nhất thế giới hiện nay và được xếp hạng là phi trường thứ tư trong 10 phi trường lớn nhất thế giới (theo bảng xếp hạng của ACI năm 2009, phi trường số 1 thế giới là Hartsfield Jackson Atlanta tiếp nhận 59 triệu hành khách, thứ nhì là London Heathow: 44 triệu, thứ ba là O’Hare Chicago : 43,5 triệu, thứ tư là Beijing Int.Airport : 43 triệu; thứ 10 là HongKong Int. Airport : 30 triệu). Như vậy, chỉ riêng Trung Quốc đã có 2 phi trường trong top 10.



    Một trong những quày nhặt hàng hóa ở nhà ga số 3 phi trường Bắc Kinh



    Lối đi rộng thênh thang, mái nhà cao vút mang những hình vảy của con rồng, tường và mái nhà làm bằng thép và kiếng mang hai màu vàng và đỏ là hai màu cổ truyền hoàng tộc, bãi đậu xe 2 tầng có thể tiếp nhận đến 7 000 xe đủ loại và hành khách di chuyển với 243 thang cuốn và thang máy. Hệ thống chuyển vận hàng hóa bằng đường rail tối tân nhất thế giới dài 2 km, có thể phân loại và di chuyển 20 000 valises trong 1 giờ với vận tốc 10m /giây, nghĩa là chỉ mất 5 phút để đưa hàng hóa lên phi cơ hay đến tay hành khách khi phi cơ đáp xuống.



    Trung Quốc cũng tự hào một kỳ công vĩ đại khác là vừa khánh thành một năm trước đó (tháng 6/2007) cầu Hàng Châu là chiếc cầu xuyên đại dương dài nhất thế giới ( 36 km) nối liền Thượng Hải với Ninh Ba (thuộc tỉnh Triết Giang). Kiến trúc chiếc cầu nầy vượt qua các kỹ lục về kỹ thuật xây cầu : chân cầu đóng sâu xuống nước đến 80m, dây cáp treo dài nhất (577 m), 2 ngọn tháp trên cầu cao nhất (300 m, tương đương với 100 tầng nhà). Năm 2006, Trung Quốc cũng khánh thành cầu Đông Hải cũng là một trong những cầu xuyên đại dương dài nhất thế giới (30,5 km) nối liền Thượng Hải với Yangshan. Ngày 15 tháng 12 vừa qua, Trung Quốc lại bắt đầu dự án xây một cây cầu xuyên đại dương khác, lần nầy dài 50 km nối liền Quảng Đông với Ma Cao và Hong Kong với ngân sách là 11 tỷ mỹ kim.

    Trung Quốc luôn muốn có tên mình trong Guinness : năm 2005, khánh thành đường hỏa xa Qinghai- Lhassa (Tây Tạng) dài 1400km xuyên qua đèo Tangula ở cao độ 5000 thước, một kỹ lục thế giới và một ngày sau lễ giáng sinh năm 2009, chiếc xe lửa tốc hành với vận tốc nhanh nhất thế giới (394 km/giờ) nối liền Vũ Hán-Quảng Đông dài 1 086 km trước đây phải mất 11 giờ nay rút lại chỉ còn có 3 giờ.



    Về phương diện thương mại, Trung Quốc tự hào là Trung Quốc có đến 4 trung tâm thương mại trong số 10 trung tâm lớn nhất thế giới (theo bảng sắp hạng của Forbes 2007)

    1- South China Mall (Quảng Đông) khánh thành 2005, rộng 600 000 m2, 1500 cửa hàng

    2- Golden Resources Shopping Mall (Beijing), khánh thành năm 2004, rộng 560 000 m2

    8- Beijing Mall khánh thành năm 2005

    9- Zhengja Plaza (Quảng Đông) khánh thành năm 2005



    Năm 2008, Arabie Séoudite khánh thành Dubai Mall với một trung tâm thương mại và một khách sạn, tuy rộng 800 000 km2 nhưng không phải là trung tâm thương mại lớn nhất thế giới. Trung Quốc vẫn chiếm giữ hàng đầu.



    Trong vòng 30 năm qua, Trung Quốc đã xây dựng cơ cấu hạ tầng trên khắp đất nước với kinh phí hàng trăm tỷ mỹ kim. Chỉ trong 2 năm 2001-2003, số đường sá được xây lên đến 200 000 km trong khi suốt nửa thế kỷ trước (1950-2000), Trung Quốc chỉ có 170 000 km đường nhỏ hẹp. Chỉ trong năm 2004, Thượng Hải đã xây số nhà chọc trời bằng tất cả nhà chọc trời ở New York gộp lại (La Chine nouvelle, p. 74) . Năm 2009, Thượng Hải đã có 1000 dự án xây cao ốc trên 30 tầng và phải chờ 4 năm nữa mới cứu xét các dự án mới.



    Nói đến Trung Quốc là phải nói đến chuyện xẻ núi lấp sông và trong các công trình vĩ đại nầy phải kể đến hai kỳ công mà Trung Quốc tự hào là xây đập thủy điện Tam Hiệp (Trois-Gorges) và là thành lập đặc khu kinh tế Thẩm Quyến (Shenzhen).



    Sau vụ nổi loạn Thiên An Môn 1989, đảng Cộng Sản Trung Quốc muốn chứng tỏ sức mạnh của mình nên quyết định xây đập nước Tam Hiệp sẽ là trung tâm thủy điện lớn nhất thế giới.

    Bắt đầu thiết kế từ năm 1994, khởi công từ 1997, hoàn tất năm 2009, đập thủy điện Tam Hiệp là tượng trưng cho sức kiến tạo vĩ đại của con người Trung Quốc: tường béton của hồ chứa nước cao 185m, dài 2 309 m, hệ thống đê giữ nước dài 600 km, dự trử 4 tỷ m3 nước và cung cấp 11% điện lực cho Trung Quốc, có thể đưa điện lực đến Thượng Hải cách xa 2 000 km.



    Để hoàn tất đập nước phải dùng 27 triệu m3 béton, và việc xây dựng con đê ngăn nước phá kỷ lục thế giới trong công trình thủy điện, bởi lẽ những chân béton được chôn sâu dưới nước 60m và công tác được thực hiện dưới một lưu lượng khổng lồ của sông Dương Tử là 11 600m3 mỗi phút.





    Đập Thủy Điện Tam Hiệp thực sự là một đại công trình thủy điện nhưng lại là một đại họa cho Trung Quốc.

    Trước tiên, đó là một quyết định chính trị của Lý Bằng (Li Peng), người đã ra lệnh ****** Thiên An Môn, muốn dùng dự án nầy để phục hồi uy tín, nhưng dù bị Quốc Hội chống đối (đa số vắng mặt lúc biểu quyết), Lý Bằng vẫn kiên quyết thực hiện. Dự án còn là biểu tượng cho chế độ gia đình trị trong giới lãnh đạo trung ương: vợ của Lý Bằng là Zhu Lin và con là Li Xiao Peng điều khiển đại công ty quốc doanh điện lực China Huanang, con gái là Li Xiao Sing là giám đốc Công Ty China Power, một đại công ty điện lực khác. Sở dĩ Lý Bằng lộng hành bởi lẽ chủ tịch đảng Giang Trạch Dân (Jiang Zemin), trước đó làm giàu trong chức vụ thị trưởng Thượng Hải, nay đưa cả gia đình Jiang độc quyền trong kỹ nghệ télécoms.



    Về phương diện môi trường, dự án đã tiêu diệt nhiều thủy sản hiếm và hồ chứa nước là một đống rác lộ thiên khổng lồ. Đất phù sa bị giữ lại ở thượng lưu (mỗi năm 500 triệu tấn) bám vào lòng sông và bờ sông khiến mực nước dâng cao gây lũ lụt ở vùng thượng lưu (điều nghịch lý là mục đích của đập là giảm bớt lũ lụt ở một vùng, nhưng lại gây ra lũ lụt ở một vùng khác), ngược lại đất đai ở hạ lưu chóng cằn cỗi phải dùng nhiều phân bón (phosphore và azote nhiều gấp 20 lần) nông nghiệp kém hiệu năng, nước bị ô nhiểm.

    Hồ nước khổng lồ tạo sức ép cho đất đai xung quanh, nhà cửa bị hư hỏng, và ngay cho các đê và hồ chứa nước cũng đã bắt đầu có vết nứt. Chi phí cho dự án là 30 tỷ mỹ kim nhưng theo China Global Times ngày 30/9/09 thì chi phí thực sự là 73 tỷ chưa kể 25 tỷ mà chính phủ phải dự trù để sửa chửa liên tục và đền bồi cho 1,5 triệu người tại 12 thành phố trong vùng xây đập phải bị dời nhà.

    Đập Tam Hiệp gây bất mãn cho người dân trong vùng vì số người bị dời nhà kể như mất nhà, mất đất canh tác, mất xí nghiệp, mất các di tích lịch sử, bởi lẽ số tiền đền bồi thiệt hại chẳng thấm vào đâu. Một trong hàng số hàng triệu dân sơ tán được báo Global Times ngày 30/09/09 kể :

    Fu Chenquian là chủ nhân một ngôi nhà kiên cố nền đúc béton bị phá hủy được đền bù 6 000 yuan (700 mỹ kim) và được cấp một mãnh đất bùn cho một gia đình 11 người. Ông phải đi vay nợ thêm để cất một ngôi nhà thô sơ không có cửa sổ với giá 50 000 yuan.

    Người dân phải sơ tán vì đập Tam Hiệp, họ sống lang thang khắp nước. Trên hàng mươi cây số dọc theo xa lộ từ Hàng Châu đến Thượng Hải, những ngôi nhà nhỏ như chiếc hộp bằng ciment bỏ hoang từ khi mới cất vì những người được đền bồi thiệt hại không đủ tiền để mua và nếu đến ở cũng không biết sinh sống bằng nghề gì trên một vùng đất xa lạ.

    Đập Tam Hiệp thực sự vĩ đại, nhưng những hậu quả về xã hội, kinh tế và môi trường cũng vĩ đại.



    Nói đến chánh sách mở cửa kinh tế của Đặng Tiểu Bình thì phải nói đến câu nói bất hủ của ông : Mèo đen hay mèo trắng, miễn là nó bắt được chuột và sáng kiến táo bạo của ông là kêu gọi tư bản đến đầu tư tại các đặc khu kinh tế.

    Để thu hút đầu tư và kỹ thuật của tư bản Tây Phương, Đặng Tiểu Bình thành lập những đặc khu kinh tế và mời Tây Phương đến kinh doanh, mở các công ty hỗn hợp (Joint Venture) theo đó giới kinh doanh ngoại quốc đầu tư tại các đặc khu được đặc quyền là miễn thuế lợi tức hoàn toàn trong hai năm đầu và 50% trong 3 năm sau.



    Đặc khu đầu tiên được ra đời ở Thẩm Quyến (Shenzhen) vốn là một làng đánh cá nghèo có 30 000 dân thuộc huyện Bảo An, tỉnh Quảng Đông.

    Chỉ sau 20 năm, Thẩm Quyến trở nên một đại trung tâm kỹ nghệ qui tụ 150 đại công ty trên thế giới trong danh sách 500 đại công ty do tạp chí Forbes xếp hạng, với hơn 6 triệu dân, với những trung tâm nghiên cứu, đại học tối tân, với một lợi tức đồng niên của người dân xấp xỉ với Thượng Hải, cao nhất của Trung quốc (5500 mỹ kim trong khi An Huy, cách đó vài trăm cây số chỉ có 700 mỹ kim).

    Trên thế giới, chưa có một quốc gia nào xây dựng và phát triển những thành phố kỹ nghệ với một vận tốc kinh khủng mà vào cuối thập niên 1990, chính quyền Thẩm Quyến đã có khẩu hiệu: Mỗi ngày một cao ốc, 3 ngày một đại lộ (ý nói cứu xét dự án).



    Thẩm Quyến là biểu tượng cho sức mạnh kỹ nghệ của Trung Quốc do đó Bộ Du Lịch của Trung Quốc đã quảng cáo cho du khách là : Nếu bạn muốn xem nền văn minh Vạn Lý Trường Thành cách đây 2000 năm thì đến Trường An (Tây An), nền văn minh một ngàn năm thì đến Bắc Kinh, nền văn minh 100 năm thì đến Thượng Hải và nền văn minh của thế kỷ 21 thì đến Thẩm Quyến.

    Sau Thẩm Quyến, những đặc khu khác như Chu Hải (ZhuHai) gần Macao, Sán Đầu (Shantou), đảo Hải Nam và sau đó 14 khu kỹ nghệ lần lược được mở ra tại nhiều thành phố dọc theo bờ biển và vùng đồng bằng sông Châu Giang (Rivière des Perles) .



    Nhưng phía sau bước nhảy vọt vĩ đại kinh tế, chuyện gì đã xảy ra và đang xảy ra ?

    Trước tiên, chuyện làm ăn giũa tư bản trắng và tư bản đỏ là một liên minh bốc lột sức lao động của người dân Trung Quốc, bần cùng hóa nông dân và công nhân, đào sâu hố chia cách giàu nghèo. Sự đô thị hóa (xây cất cao ốc, hạ tầng cơ sở) và thiết lập cơ sở kỹ nghệ ở vùng ven biên nông thôn đã khiến người trung lưu, nông dân, phải bán nhà, rồi trở nên không nhà vì giá nhà, giá đất tăng lên vượt quá mức lợi tức. Hỗn loạn xã hội là điều tất nhiên, người biểu tình, nổi loạn, nhất là ở thôn quê, chống lại bọn cường hào ác bá là đảng viên, lợi dụng quyền lực để đuổi nhà, chiếm đất (với lý do đất đai là của chánh phủ, người dân chỉ có quyền khai thác mà thôi), thông đồng với tư bản mới để trục lợi. Từ khi có chánh sách mở cửa kinh tế năm 1979, Trung Quốc mất mỗi năm 1 triệu mẫu đất canh tác vì nhu cầu kỹ nghệ hóa, 200 triệu nông dân phải bỏ nông thôn lên các thành phố sống vất vưởng tạo thành một giai cấp bần cùng không nhà, không hộ khẩu gọi là dân di cư. Tại các thành phố, cứ mỗi sáng sớm, số người nầy tụ tập ở các ngã đường chờ người đến mướn, làm đủ các nghề nặng nhọc (phần lớn làm phu trong kỹ nghệ xây cất, phụ nữ làm tạp dịch cho nhà giàu). Họ bị giới chủ nhân bóc lột một cách vô nhân đạo, làm việc không giờ giấc có khi một ngày chỉ được trả 10 yuan (hơn 1 mỹ kim), đau ốm, bị thương vì tai nạn lao động không được săn sóc.

    Những người may mắn có một công việc làm thường xuyên trong các công ty hỗn hợp như Wal-Mart, Nike, General Electric... số phận cũng không khá gì hơn. Một trường hợp trong muôn một được Antony Bianco kể là tại công ty Chun Si Entreprise Handbag Factory ở Thẩm Quyến : 1000 nhân công bị nhốt trong một tòa nhà chật chội,nóng bức, làm việc 12 giờ chỉ có 60 phút để ăn, được trả 22 mỹ kim mỗi tháng nhưng phải hoàn lại cho công ty 15 mỹ kim tiền ăn và ở. Một nhân công đã kể : Muốn đi nhà vệ sinh phải xin phép người cai, và mỗi khâu 70 người chỉ có 2 người đi nhà vệ sinh cùng lúc và không quá 5 phút và khoảng cách đến nhà vệ sinh rất xa chỉ vừa đủ thời gian để chạy. Vắng mặt lâu hơn thì bị khiển trách và có thể bị sa thải . (Antony Bianco. The bully of Bentonville, p.189).

    Một trường hợp khác cũng tại đặc khu kinh tế được kể trên China Labor Watch ngày 21, tháng 12 năm 2005 : Nhân công làm đồ chơi tại một xưởng ở Quảng Đông phải đạt được quota là sơn 8900 mãnh trong một ngày làm việc 12 giờ mới được lảnh 3,45 mỹ kim. Nếu không đạt được, công ty chỉ trả có 1,25$/ngày. Dĩ nhiên sự cách biệt lương bỗng như thế khiến nhân công làm việc trối chết, đó là chánh sách khai thác nhân lực tàn bạo của thời nô lệ.



    Để sản xuất nhanh và giá rẻ, Trung Quốc không tôn trọng việc bảo vệ môi trường, thải các hóa chất xuống đất, xuống nước, trong không khí. Mặc dù Trung Quốc thiếu nước (mỗi người dân chỉ có thể sử dụng trung bình 300 m3 nước/một năm, trong khi nhu cầu tối thiểu là 1000m3) nhưng nước lại bị ô nhiểm trầm trọng: 1 triệu tấn thuốc nhuộm ngấm xuống nước sông hồ hay mạch nước ngầm. Cuộc điều tra của OMS năm 2004 tại 412 địa điểm trên 7 con sông chính cho biết có đến 58% nước bị ô nhiểm không dùng được. Nguồn nhiệt lượng chính yếu của Trung Quốc là than đá, Trung Quốc đã thải ra trong không khí một lượng C02 khổng lồ. Một cuộc khảo sát của Đại học Qinghua năm 2004 tại 338 thành phố Trung Quốc cho biết có 63,5% thành phố có mức độ ô nhiểm không khí từ trung bình đến trầm trọng, đa số các thành phố này ở miền kỹ nghê phía Nam và Tây Nam. Ngoài ra, 30% lãnh thổ Trung Quốc bị ô nhiểm vì mưa acide, làm thiệt hại mỗi năm 13 tỷ mỹ kim (L’éveil du dragon, p.121)

    Học Viện Bảo Vệ Môi Trường của Trung Quốc đã công bố năm 2003 là mỗi năm Trung Quốc có 400 000 người chết vì lý do ô nhiểm và 116 triệu thị dân sống trong những điều kiện môi sinh nguy hiểm. Con số nầy còn có thể cao hơn, theo lời của Giám đốc cơ quan Wang Jinan nói với AFP.

    Ngoài ra, Ngân Hàng Thế Giới cho biết là ô nhiểm nước và không khí làm thiệt hại từ 3 đến 8% sản lượng quốc gia, và trong số 50 thành phố lớn trên thế giới bị ô nhiểm nhiều nhất, Trung Quốc có 16 , mà Bắc Kinh, Thượng Hải đứng đầu (Le défi chinois, p. 60).

    Tuy là quốc gia không tôn trọng các tiêu chuẩn môi trường, nhưng trong các hội nghị quốc tế, như hội nghị ở Copenhague vừa qua, Trung Quốc lại lên giọng đạo đức giả kết tội các quốc gia kỹ nghệ khác, đưa ra những tiêu chuẩn thật cao nhưng lật lọng không chịu đưa ra những chỉ tiêu mà Trung Quốc sẽ thực hiện với lý do bảo vệ chủ quyền quốc gia.

    Sự khai phóng Trung Quốc đã mở đường cho sự phân cách các giai cấp và hỗn loạn xã hội. Trước 1990, Trung Quốc chỉ có 2 giai cấp : công nhân , nông dân và một thiểu số trí thức. Từ 2001, theo Viện Khoa Học Xã Hội (China Academy of Social Sciences) Trung Quốc có đến 10 giai cấp chênh lệch rất nhiều về lợi tức.

    - Giới nhà giàu (7,5%): gồm có giới tỷ-triệu phú (0,5%), nhà giàu mới (5%), con cháu giới lãnh đạo cao cấp (2%)

    - Giới trung lưu (20%) : gồm giới trí thức, nông dân giàu, nhân viên chính phủ và cơ quan quốc doanh và hỗn hợp (đảng viên và liên hệ làm ăn với đảng viên)

    - Giới nhà nghèo (70%) gồm công nhân, nông dân và dân lao động di cư.



    Nói chung, Trung Quốc có độ 800 triệu người nghèo trong đó có 200 triệu người di dân không hộ khẩu, không việc làm thường xuyên, không được hưởng các quyền lợi căn bản của người dân.

    Quý Châu, tỉnh nghèo nhất của Trung Quốc có lợi tức đồng niên trung bình là 350 mỹ kim một năm, bằng với Bangla Desh, một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới. Tứ Xuyên, một trong những tỉnh đông dân nhất (81 triệu) có lợi tức là 650 mỹ kim/năm, ngang hàng với Pakistan.

    (Chine : de Pékin à Hong Kong, p.83)



    Theo thống kê của Bộ Tài Chánh, tài sản của 10% người giàu chiếm 45% tài sản của cư dân đô thị.

    Zeng Xianquan, Giám Đốc Trường Lao Động và Nhân sự ở đại học Bắc Kinh cho biết là tại đô thị, lợi tức của nhóm người giàu gấp 9 lần nhóm người nghèo và tại nông thôn, tỷ lệ nầy là gấp 7 lần.

    Ông cũng cho biết là 65% dân số sống dưới ngưỡng nghèo của Liên Hiệp Quốc là 1,25 mỹ kim/ngày.

    Trong khi giới nhà giàu gia tăng tài sản thì 80% người dân không có lợi tức gia tăng . Bởi lẽ giá sinh hoạt tăng lên khiến họ phải cắt giảm chi tiêu, nhiều người không mướn hay mua được nhà vì nạn đầu cơ địa ốc. Cũng theo Viện Khoa Học Xã Hội, trong phúc trình ngày 8/12/2008, giá nhà đã vượt quá mức lợi tức của người dân và 85% người Trung Quốc không có nhà riêng cho họ dù mua hay thuê. Phúc trình cũng yêu cầu chính phủ phải can thiệp để kiểm soát giá nhà chống bọn đầu cơ địa ốc, hạn chế người giàu mua nhà với giá cao hơn giá thị trường làm khan hiếm nhà ở cho giới trung lưu. Hiện tượng dân ở các thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Hong Kong bán nhà cho giới nhà giàu vì thất nghiệp trong thời gian suy thoái kinh tế để rồi trở nên những người vô gia cư hợp cùng với những nông dân đổ ra thành phố kiếm việc làm trong đám 200 triệu dân di cư phải sống chui rúc trong các khu nhà ổ chuột hay trong các công viên, tạo nên bất ổn về xã hội và an ninh tại các thành phố là một khó khăn trầm trọng cho chính quyền Trung Quốc. (Global Times 11/12/2009)



    Tân Hoa Xã đã thuật một cảnh mua một căn nhà trong một chung cư ở thị trấn Rinpu như sau : « 5000 người xếp hàng qua đêm để tranh nhau mua 100 căn nhà dự định xây cất với giá 100 000 yuan (12 000 mỹ kim). Người may mắn nhận được phiếu mua phải trả 500 000 yuan, và muốn lựa vị trí căn nhà thì phải trả thêm 80 000 yuan. Được hỏi bao giờ nhà được giao, nhân viên của dự án trả lời : Chúng tôi chưa xác định được»

    Theo tạp chí Forbes, năm 2009, Trung Quốc có 79 tỷ phú với tài sản tổng cộng là 314 tỷ không kể 400 triệu phú và 1/3 số tỷ-triệu phú nầy là đảng viên Cộng Sản. (Người giàu nhất TQ là Wang Chuanfu, giám đốc công ty BYD chuyên sản xuất pile điện thoại cầm tay và xe hơi, có tài sản là 5,8 tỷ mỹ kim, kế đó là nữ tỷ phú Liu Yongning, chủ nhân công ty thực phẩm với tài sản là 5 tỷ MK).



    Tại trung tâm các thành phố lớn như Thượng Hải, Bắc Kinh, chỉ có giới nhà giàu mới mưa được nhà : từ 10 000 đến 100 000 yuan một m2, diện tích cho mỗi người là 4m2, một condo nhỏ khoảng 40-50m2 cho một gia đình 1-2-4 (sẽ giải thích phần sau), condo trung bình khoảng 100 m2. Để có ý niệm về lương bổng, năm 1991, tiền lương trung bình mỗi tháng của một thị dân là 130 yuans (khoảng 15 MK), của một nông dân là 60 yuans (khoảng 8MK). Năm 2008, tiền lương trung bình mỗi tháng của một công chức từ 1 500 đến 3 000 yuans (200 - 400 MK) và công nhân thuộc nhóm di dân không quá 600 yuans (80 MK). Với mức lương bỗng như vậy, bao nhiêu người trong gia đình và tiết kiệm trong bao nhiêu năm mới mua được một căn nhà nhỏ.



    Trong tình trạng khốn đốn của giới trung lưu và giới nghèo như vậy, 100 triệu người giàu có mức sống như người giàu có Tây Phương. Dọc theo bờ biển từ Chu Hải đến Ma Cao, hàng cây số những ngôi biệt thự tráng lệ xây trên núi trông ra biển, kiến trúc và trang trí chắc chắn làm các chủ nhân các ngôi nhà ở Palm Beach, Monaco phải chào thua, và những sân golf với 100 000 mỹ kim để vô hội, 30 000 MK niên liểm và 100 MK mỗi giờ chơi mà số người chờ tới phiên mình được gia nhập hội cũng giống như các bà mẹ ở Québec trông chờ một chỗ trống cho con mình trong nhà giữ trẻ 7$ , thì quả tình xã hội Trung Quốc đã thay hình đổi dạng chỉ sau 30 năm bắt tay với tư bản. (chơi golf ở Trung Quốc là môn thể thao đắc tiền vì Trung Quốc thiếu đất, thiếu nước tưới cỏ, chính quyền hạn chế mở sân golf mà nhu cầu quá nhiều cho các tư bản ngoại quốc và tư bản đỏ)



    Xã hội Trung Quốc đã xuống cấp chỉ sau 30 năm mở cửa. Nạn băng đảng bành trướng khắp nơi, không ngày nào trong nước không có những vụ tử hình các người phạm pháp hình sự. Thiếu nhi phạm pháp cũng là hậu quả tất nhiên của nghèo đói, bị trường học xua đuổi vì không có tiền đóng học phí (con của người di dân không có hộ khẩu), ảnh hưởng của phim ảnh đồi trụy tràn lan tại các thành phố kỹ nghệ. Nạn mãi dâm trước kia giấu diếm, nay trở nên công khai tại nhiều thành phố : 8 triệu gái mãi dâm và 30% mắc bịnh Sida theo Onusida, hậu quả của nghèo đói và chánh sách một con. (Chine, de Pékin à Hong Kong, p. 82,86)

    Những bước tiến kinh tế của Trung Quốc thật vĩ đại, nhưng những tụt hậu xã hội của Trung Quốc cũng vĩ đại.



    Nhà máy vĩ đại hàng giả và hàng rẻ tiền

    Trung Quốc chẳng vẻ vang gì với giới đầu tư và người tiêu thụ trên thế giới vì Made in China đồng nghĩa với hàng giả và hàng rẻ tiền, kém phẩm chất. Phải hiểu rằng mục tiêu của đa số du khách đến Trung Quốc, ngoài việc thăm viếng thắng cảnh còn có dự định mua hàng hóa rẻ tiền. Chánh phủ và các hảng du lịch Trung Quốc biết rõ điều nầy nên đã khôn ngoan «sắp xếp» là du khách khi đến Trung Quốc chỉ được mang một valise, nhưng khi rời Trung Quốc thì được 2 valises không phải trả thêm cước phí phụ trội.

    Hàng giả là sở trường của Trung Quốc, phân nửa hàng hóa giả lưu hành trên thế giới phát xuất từ Trung Quốc, nuôi sống 5 triệu người và đem lại 8% lợi tức quốc gia. 90% dĩa hát và 95% DVD phim ảnh lưu hành tại Trung Quốc là những copies. Hàng giả (nói theo danh từ ********* là hàng nhái) bao gồm luôn cả dược phẩm, thực phẩm, thuốc lá, bộ phận rời xe hơi, và 60% hàng đắc giá .

    (Chine nouvelle, p 80).

    Bị thế giới lên án, nhất là sau khi gia nhập vào Tổ chức Thương Mại Thế giới năm 2001, chính phủ tuy có ban hành một số biện pháp, nhưng tất cả chỉ là bề mặt, chứ thật ra chính phủ trừng phạt ai khi mà chính phủ chủ trương gian dối. Hiệu xe QQ xem như là Mercedes Trung Quốc, sản xuất từ một xưởng xe quốc doanh ở Quảng Đông là bắt chước Mercedes của Đức và Buick của Mỹ. Cần gì phải đầu tư hàng tỷ bạc cho việc tìm tòi nghiên cứu R&D.

    Tại các «outlet» ở Thượng Hải (dọc theo đại lộ Huahai) hay ở biên giới giữa Chu Hải và MaCao, du khách có thể đi shopping hàng giả đủ loại suốt cả ngày vẫn chưa đi qua hết các cửa hàng với sự gìn giữ an ninh trật tự của cảnh sát !



    Trong lãnh vực sách báo, dĩa nhạc, ngay cả những logiciels (Windows XP bán ở cửa métro Thượng Hải giá 100 yuans), chuyện làm giả là một kỹ nghệ. Khi quyển My life của Bill Clinton vừa phát hành ở Mỹ thì hai tuần sau, tại các hiệu sách ở Trung Quốc đã có bản dịch tiếng Tàu tựa là Wode Shenguo bán với giá 15 yuans (2MK). Nhà xuất bản tuyên bố không hề ký hợp đồng chuyển nhượng quyền phiên dịch cho một cá nhân hay nhà xuất bản nào ở Trung Quốc. Chuyện tương tự đối với bộ sách Harry Potter là những best sellers của JK Rowling. Trước đó không lâu, hảng truyền hình quốc gia China Central Television (CCTV) mua bản quyền của Mỹ để chiếu hằng tuần bộ phim Friends rất ăn khách đối với giới trẻ Trung Quốc. Sau vài tháng, CCTV phải thương lượng hủy bỏ hợp đồng với lý do nội dung đồi trụy. Sự thực mà CCTV không nói ra là nguyên cả bộ phim Friends đã được in lậu thành DVD bán ra ở khắp các góc đường với giá 100 yuans.



    Mặc dù số hàng hóa sản xuất từ Trung Quốc vĩ đại, nhưng Trung Quốc chỉ sản xuất đa số là các hàng hóa gia dụng rẻ tiền, và đối với các hàng kỹ nghệ nhẹ trang bị máy móc, Trung Quốc cũng chỉ đóng vai trò lắp ráp các bộ phận chế biến từ các xứ kỹ nghệ Âu Mỹ theo các mẫu thiết kế, phiếu đặt hàng của các xí nghiệp Âu Mỹ rồi xuất cảng trở lại. Trong chuổi công tác sản xuất nầy, đầu não là Tây Phương, còn Trung Quốc giống như thứ công nhân cổ xanh (col bleu) chỉ biết thừa hành. Số xuất cảng của Trung Quốc khổng lồ thật, nhưng số lợi nhuận rất khiêm tốn bởi lẽ nếu 55% số hàng hóa xuất cảng là hàng lắp ráp thì Trung Quốc phải nhập cảng vào 50% nguyên liệu hay bộ phận rời. Chính vì sở trường sản xuất các vật dụng rẻ tiền và một số máy móc theo phương pháp lắp ráp, Trung Quốc xuất cảng rất ít các loại máy móc và dụng cụ hạng nặng là các sản phẩm có giá trị thặng dư (plus-value), sức mạnh kinh tế của Trung Quốc, do đó chỉ có bề mặt mà không có bề sâu, và vì vậy sự trao đổi hàng hóa với các quốc gia kỹ nghệ rất bất lợi cho Trung Quốc. Thử tưởng tượng muốn mua một chiếc máy bay Airbus 380, Trung Quốc phải xuất cảng 800 triệu chiếc áo chemises, thì với lợi nhuận trung bình khoảng 50 tỷ mỗi năm, chính yếu là do bốc lột nhân công rẻ, thì phải lâu lắm Trung Quốc mới ngồi chung hàng ngũ với các quốc gia thực sự kỹ nghệ.



    Đó là mặt trái của sự vĩ đại kinh tế của Trung Quốc. Người Cộng Sản hay dùng câu nói bất hủ của Lénine để đề cao sự ưu việt của người Cộng Sản : Tư bản bán cho chúng ta sợi dây để chúng ta treo cổ chúng (Les capitalistes nous vendent la corde qui nous servira à les pendre) thì trước hiện tượng Cộng Sản bị Tư Bản khai thác và bốc lột, Trung Quốc nên tự hỏi ai treo cổ ai ?



    Chánh sách đứa con duy nhất và thân phận người già

    Theo Ủy Ban Dân Số và Gia Đình Trung Quốc ước tính, nếu không có chánh sách đứa con duy nhất áp dụng từ 1978 đến nay, dân số Trung Quốc hiện nay phải là 1,7 tỷ. Trung Quốc phải hạn chế sinh sản, qui định mỗi vợ chồng chỉ có 1 con, ấn định tuổi tối thiểu thành hôn, cốt để giảm bớt gia tăng dân số mỗi năm từ 20 triệu xuống còn 10 triệu. Nếu chánh sách đứa con duy nhất giải quyết phần nào vấn đề nhân mãn, chính sách nầy đã mang lại những hậu quả xã hội và kinh tế trầm trọng.

    Trước tiên, dân số lao động mỗi năm giảm 10 triệu từ năm 2005 và dân số trẻ từ 20-24 tuổi sẽ giảm 25% trong thập niên tới.

    Trong khi lực lượng người trai trẻ làm việc giảm xuống, số người cao niên tăng theo nhịp điệu lũy tiến : năm 2008, Trung Quốc có 169 triệu người trên 60 tuổi (13% dân số), sẽ tăng lên 250 triệu trong 10 năm nữa và đến năm 2050, cứ 3 người dân thì có 1 người già. Vấn đề càng nghiêm trọng hơn là số người già sống đến 80 tuổi càng ngày càng đông, cứ 5 người già thì có 1 người già 80 tuổi vào năm 2050. Việc săn sóc và vấn đề an sinh người già là vấn đề trọng đại cho quốc gia và gia đình.

    Theo đạo lý và luật pháp Trung Quốc, người con phải nuôi cha mẹ và ông bà. Đó là cái cơ cấu đại gia đình 4-2-1 (1 : đứa con, 2 : cha mẹ, 4 : ông bà nội, ngoại) mà đứa con trai phải đảm nhận (người con gái khi lấy chồng thì thuộc nhà chồng, bi đát cho vợ chồng có đứa con duy nhất là con gái).

    Ngoài việc gồng gánh gia đình, người trẻ tuổi trong tuổi lao động hôm nay còn phải đóng góp quỹ hưu bỗng càng lúc càng nặng để nuôi người già càng lúc càng tăng. Năm 1980, 13 người làm việc để nuôi 1 người già, tỷ lệ nầy giảm xuống còn 3/1 năm 2003, và đến năm 2050, cứ 2 người làm việc để nuôi 1 người già. Đó là một viễn ảnh kinh tế đen tối mà chính phủ Trung Quốc phải đối diện.

    Trung Quốc hiện nay có 41 000 nhà dưỡng lảo, chỉ có thể cung cấp 11 chỗ cho 1000 người so với tỷ lệ thông thường từ 50 đến 70 chỗ tại các quốc gia phát triển.





    cơ cấu 1-2-4 :
    cặp vợ chồng trẻ và 1 con,

    + cha mẹ (2), + ông bà(4)

    Bà già 72 tuổi ở Tế Nam nhặt hộp lon để nuôi bà mẹ 93 tuổi


    Bởi lẽ chế độ hưu bỗng tại Trung Quốc chỉ bắt đầu năm 1997 tại một số thành phố, đa số là cho công chức và xí nghiệp, năm 2005 chỉ có 170 triệu người có hưu bỗng, còn tại thôn quê thì người già chỉ trông cậy vào con (gần đây, tại một số tỉnh ở phía Bắc và phía Tây, chính phủ phát cho người già mỗi năm 600 yuans (75 MK), nhưng với cơ cấu kinh tế và xã hội kỹ nghệ, đa số người già bị bỏ rơi vì con cái không lo nỗi cho đời sống của chính chúng nó. Theo Daily China cho biết, chỉ riêng tại Bắc Kinh có 2000 vụ cha mẹ kiện con mỗi năm vì con không cấp dưỡng, nhưng ở nông thôn những vụ kiện nầy rất hiếm vì cha mẹ sợ mất mặt. Cũng theo báo nầy, một cụ già ở làng Trung Sơn, tỉnh Quảng Đông cố ý đốt một khu rừng để trở lại nhà tù, nơi ông vừa ở tù 5 năm vì theo ông nơi đó có cơm ăn, có chỗ ngủ. Ở Trung Quốc, mỗi năm có khoảng 2 triệu người tự tử, đa số là người già, và 25% thực hiện được ý định. (China Daily, 14/2/2006).



    Bởi lẽ Khổng Giáo buộc phải có con trai để nối dỏi tông đường, nên chế độ một con đã tạo ra việc phá thai khi làm siêu âm bào thai biết là con gái, và dù rằng luật lệ hiện nay cấm đoán, nhưng hiện tượng phá thai, giết trẻ sơ sinh là gái hay cho con gái cho viện mồ côi vẫn là chuyện thường tình ở nông thôn. Hậu quả của hiện tượng nầy làm đảo lộn giới tính, tỷ lệ thông thường là 106 nam/100 nữ, nhưng ở Trung Quốc là 123 nam/100 nữ (Autrement . Paris, 2007 p. 21). Đàn ông không kiếm được vợ, và hiện nay, 90% người độc thân trên 30 tuổi là đàn ông. Năm 2020, 40 triệu thanh niên sẽ không kiếm được vợ. (La Chine nouvelle, p. 54)



    Kết luận

    Sau 30 năm mở cửa, Trung Quốc đã thực hiện được nhiều kỳ công kinh tế vĩ đại. Nếu tính theo tổng sản lượng quốc gia (PNB), năm 2007, Trung Quốc đứng hạng 4 thế giới với 3250 tỷ MK, (sau Hoa Kỳ :13 850 tỷ, Nhựt : 4500 tỷ, Đức : 3350 tỷ (populationdata.net ). Nếu tính theo sản lượng đầu người, Trung Quốc hiện có 200 triệu người có lợi tức dưới ngưỡng nghèo do Liên Hiệp Quốc qui định (1,25MK mỗi ngày) và 600 triệu người có lợi tức 2MK/ngày, như vậy Trung Quốc vẫn còn là một quốc gia nghèo. Tuy nhiên, đàng sau những kỳ công vĩ đại, Trung Quốc phải đương đầu với nhiều thách thức vĩ đại trong đó có 3 khó khăn cơ cấu là sự lão hóa dân số, sự tàn phá môi trường và sự bất bình đẳng lợi tức giữa các địa phương và các tầng lớp dân chúng.



    Tuy Trung Quốc đang có trong tay 1000 tỷ mỹ kim mà phần lớn là trái phiếu của Mỹ, và xuất cảng một khối hàng hóa khổng lồ, Trung Quốc lại bị lệ thuộc vào đồng mỹ kim và mọi căng thẳng với Mỹ sẽ không có lợi cho Trung Quốc. Trong trò đấu gươm, Trung Quốc đang cầm ngọn lưởi.

    Trung Quốc và một số quốc gia đang lên (pays émergents) gọi là BRIC (Brésil, Russie, Inde, Chine) đang tìm phương cách thoát ra khỏi ảnh hưởng cùa đồng mỹ kim, nhưng vì không phải là một liên minh chính thức và những quyền lợi bất đồng giữa Trung Quốc với các quốc gia trong khối nên hi vọng thành công rất mong manh. Trung Quốc đang bành trướng thế lực ở Phi Châu, đưa nhân công đến để khai thác tài nguyên và hành xử với cung cách của một thứ thực dân mới, hợp tác với nhiều chính phủ độc tài thường bị thế giới kết án là quốc gia hung đồ (états voyous) và dân chúng các xứ Phi Châu Hồi Giáo cũng không có thiện cảm với Trung Quốc sau vụ ****** người Trung Quốc Hồi giáo ở Tân Cương, Trung Quốc đã và đang gặp nhiều khó khăn trên mặt ngoại giao với thế giới.



    Trong viễn tượng ấy, nếu như người Pháp đã huyễn hoặc gọi Thế kỷ 21 là thế kỷ của Trung Quốc và một số tài chánh gia Wall Street nghĩ đến việc thay thế G8 bằng G2 (Mỹ-Trung Quốc), liệu với những thách thức vĩ đại nội bộ và ngoại giao, Trung Quốc có hi vọng gì sẽ đạt được vị trí mà các nhà tiên trí kinh tế Âu Mỹ, thường có thói quen thần thoại hóa con Rồng.



    Lâm Văn Bé

    05/02/2010



    Thư mục chính yếu

    - Thierry Sanjuan. Le défi chinois. - Paris : La Documentation française. (Dossier no. 8064, juillet-août 2008).

    - Chine : de Pékin à Hong Kong. - Paris : Hachette, 2007.

    - Jean-Marc Plantade. La face cachée de la Chine. - Paris : Bourin Éditeur, 2006.

    - Cyrille J-D. Javary. La Chine nouvelle : être riche est glorieux. - Paris : Larousse, 2006.

    - Frédéric Lasserre (éd.). L’éveil du dragon .- Ste-Foy, Québec : Presses de l’Université du Québec, 2006.

    - Anthony Bianco. The Bully of Bentoville.- New York : Doubleday, 2005.

    - Một số websites của Trung Quốc đọc được bằng tiếng Pháp và tiếng Anh
  10. petervn9

    petervn9 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    04/06/2010
    Đã được thích:
    1
    He he
    Em cũng kiếm đc 1 chút từ SRB rồi, cũng khoái.
    Bây giờ chuyển sang tàu BLF. Có bác nào cùng chung ý tưởng không nhỉ...
Trạng thái chủ đề:
Đã khóa

Chia sẻ trang này