1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Thôi xong !!!

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi duyetdaigia, 03/03/2011.

Có 5186 người đang online, trong đó có 295 thành viên. 14:54 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1693 lượt đọc và 27 bài trả lời
  1. duyetdaigia

    duyetdaigia Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    06/03/2010
    Đã được thích:
    853
    Chứng khoán ra rìa ​
    [​IMG]

    Dư nợ cho vay chứng khoán năm 2010 theo NHNN khoảng 10.000 tỉ đồng. Chỉ cần số tiền này không được gia hạn vay tiếp khi đáo hạn đã là một sức ép lớn cho chứng khoán.



    Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang thể hiện sự “cứng rắn” trong việc cơ cấu lại dòng chảy tín dụng, trong đó tập trung vốn cho sản xuất và hạn chế tối đa vốn cho lĩnh vực phi sản xuất bao gồm chứng khoán, bất động sản, tiêu dùng.
    Trả lời một số câu hỏi của TBKTSG, Thống đốc NHNN cho biết tổng dư nợ cho vay phi sản xuất cuối năm 2010 chiếm 18,7% tổng dư nợ, tương đương 431.000 tỉ đồng (tính ra tổng dư nợ cả nền kinh tế là 2,3 triệu tỉ đồng). Hiện nay có 18 tổ chức tín dụng có số dư cho vay phi sản xuất dưới 25% tổng dư nợ, 24 tổ chức trên 25% tổng dư nợ. Các ngân hàng này phải nhanh chóng giảm cho vay phi sản xuất.
    Giả sử tăng trưởng tín dụng năm 2011 là 19% (mục tiêu dưới 20% so với năm ngoái), thì dư nợ của hệ thống ngân hàng vào khoảng 2,73 triệu tỉ đồng. Theo chỉ thị 01 được NHNN ban hành ngày 1-3-2011, đến cuối năm dư nợ cho vay phi sản xuất bắt buộc giảm xuống 16% tổng dư nợ, tương đương số dư 437.000 tỉ đồng. So với con số cuối năm 2010, dư địa cho vay phi sản xuất của cả hệ thống cả năm 2011 chỉ có 6.000 tỉ đồng.

    “Tôi đã rất cân nhắc khi đặt bút phê duyệt con số 16%. Nhiều vụ cục tham mưu chỉ nên để 15%. 16% tính về số tuyệt đối là gần tương đương năm trước”- Thống đốc Nguyễn Văn Giàu nói.
    Trên cơ sở đó, các nhà đầu tư rõ ràng không có cửa để vay tiền ngân hàng đầu tư chứng khoán. Mặt khác, chứng khoán còn bất lợi hơn bất động sản ở lý do thanh khoản.

    Do giá trị bất động sản cao và thị trường này đang đóng băng, việc chuyển nhượng nhà đất, căn hộ để có tiền trả nợ vay ngân hàng khó khăn hơn nhiều việc bán cổ phiếu. Chính vì thế các ngân hàng sẽ tăng cường xiết nợ chứng khoán hơn bất động sản (vì nợ bất động sản có xiết cũng không đòi được). Cổ phiếu đã rẻ còn có thể rẻ hơn nữa.
    Dư nợ cho vay chứng khoán năm 2010 theo NHNN khoảng 10.000 tỉ đồng. Chỉ cần số tiền này không được gia hạn vay tiếp khi đáo hạn đã là một sức ép lớn cho chứng khoán.
    Bên cạnh đó trong những ngày qua tiền đồng đang lên giá mạnh so với đô la Mỹ. Tỷ giá đô la Mỹ/tiền đồng trên thị trường liên ngân hàng đã tụt xuống 21.200 đồng/đô la Mỹ. Còn tỷ giá thị trường tự do đang tiến về ngưỡng 21.500 đồng và có thể 21.000 đồng/đô la Mỹ.

    Sau khi NHNN giảm lượng vốn bơm ra qua kênh thị trường mở, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng bắt đầu tăng lên và đã chạm ngưỡng 14%/năm.

    Trần lãi suất huy động 14% đang bị nén chặt. Tiền đồng đang bước vào thế thượng phong. Tiền đồng càng có giá bao nhiêu, người ta càng chuộng gửi tiết kiệm ngân hàng bấy nhiêu. Chứng khoán lại càng khó khăn hơn bao giờ hết!
    Thanh khoản vẫn đang sụt giảm có lẽ là biểu hiện rõ nhất cho thấy dòng tiền đang rời bỏ cổ phiếu. Đáy chứng khoán có thể đã rất gần, nhưng vùng đáy đó rộng bao nhiêu và dài bao nhiêu thì khó mà phỏng đoán chính xác.
    Theo Hải Lý​
    TBKTSG​


    ​
  2. Dancewithwolves

    Dancewithwolves Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    05/08/2010
    Đã được thích:
    1.890
  3. duyetdaigia

    duyetdaigia Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    06/03/2010
    Đã được thích:
    853
    Cần xóa bỏ “vị thế tiền rẻ” ​
    [​IMG]

    "Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) không nên mua hoặc hạn chế mua lại (có kỳ hạn) trái phiếu chính phủ với lãi suất thấp, để tránh vị thế tiền rẻ"



    Đó là một trong những quan điểm của TS. Quách Mạnh Hào, Phó tổng giám đốc CTCP Chứng khoán Thăng Long (TLS) khi chia sẻ với ĐTCK.
    Là người có quan điểm giảm lãi suất để ổn định vĩ mô, vậy ông có bình luận gì trước việc Chính phủ quyết định giảm mục tiêu tăng trưởng tín dụng xuống dưới 20% để kiềm chế lạm phát?
    Điều này đúng và không đúng. Trong chuỗi 3 bài nghiên cứu của mình về vấn đề lãi suất tại Việt Nam công bố đầu tháng 12/2010, tôi đã cố gắng chỉ ra rằng, mức lãi suất cho vay ra nền kinh tế hợp lý tại Việt Nam với năng lực hiện tại nên trong khoảng 11 - 14%. Nghĩa là lãi suất cho vay không nên quá thấp để gây ra lạm phát do cầu kéo, nhưng mặt khác lãi suất cũng không nên cao quá dẫn tới lạm phát do chi phí đẩy.
    Việc các lý thuyết kinh tế học phổ biến cho rằng, chống lạm phát phải dựa trên cơ sở đẩy cao mặt bằng lãi suất chung trong nền kinh tế, theo tôi, thực chất là với giả định mặt bằng lãi suất trước đó không cao. Trong giới nghiên cứu cũng đã có một vài nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra luận điểm lãi suất cao chống lạm phát cao sẽ không có hiệu quả, thậm chí là tiêu cực, nếu mặt bằng lãi suất đang ở mức cao, bởi như vậy sẽ dẫn tới các hành vi kinh tế rủi ro nhiều hơn trong nền kinh tế.
    Một vấn đề khác là các lý thuyết về lãi suất cao chống lạm phát cao cũng được hình thành dựa trên cơ sở thực chứng tại các nền kinh tế phát triển, mà ở đó tín dụng cá nhân (tiêu dùng) chiếm tỷ trọng khá lớn. Trong khi đó, tại Việt Nam, tỷ lệ này nhỏ hơn nhiều so với tín dụng doanh nghiệp. Do vậy, khi tăng lãi suất thì tác dụng kiềm chế sức tăng của giá cả có thể sẽ không giống với lý thuyết, nhưng sức ép lên doanh nghiệp thì rất rõ ràng.
    Trở lại với các bước đi chính sách của Chính phủ để kiềm chế lạm phát, tôi nghĩ rằng, thực tế thì sự lựa chọn không đơn thuần chỉ là chống lạm phát, mà đó là tổng hợp các gói chính sách để ổn định vĩ mô, bao gồm sức ép lạm phát, tỷ giá và cán cân thương mại. Tôi không bình luận gì về những sự lựa chọn này, vì Chính phủ là người cân đối hài hòa các lợi ích khác nhau, nhưng mong rằng, sau những giải pháp như hiện tại, mặt bằng lãi suất sẽ trở về mức hợp lý 11 - 14%, mặc dù cũng rất khó để biết mức nào là hợp lý.
    Vậy theo ông, mặt bằng lãi suất có tăng trong thời gian tới? Và lãi suất có thể tăng tới đâu?
    Mặt bằng lãi suất đã tăng kể từ khi tôi viết các bài nghiên cứu của mình. Khi các bài nghiên cứu được viết, mặt bằng lãi suất cho vay trong khoảng 15 - 18%, nhưng hiện tại thì nó đã cao hơn. Tôi nghĩ rằng, chúng ta nên nói là nó đã tăng hơn là kỳ vọng nó tăng tiếp. Vấn đề là tình hình này sẽ kéo dài bao lâu.
    Tôi tin rằng, các chính sách hiện tại sẽ tác động mạnh tới nhóm các đối tượng cá nhân và doanh nghiệp làm ăn rủi ro, gặp khó khăn về dòng tiền. Còn các doanh nghiệp khác, có lẽ họ sẽ lựa chọn giải pháp cắt giảm hoạt động kinh doanh để chờ lãi suất hạ. Như vậy, có thể hình dung là khi nhu cầu tín dụng giảm xuống thì lãi suất do yếu tố cạnh tranh sẽ giảm theo. Điều này có thể mất khoảng 3 tháng.
    Nếu lãi suất tiếp tục tăng lên sẽ tác động thế nào đến nền kinh tế, đến hoạt động của các doanh nghiệp? Liệu có xảy ra chuyện các doanh nghiệp tạm thời "nghỉ ngơi", gửi tiền vào ngân hàng lấy lãi và chờ thời?
    Tất nhiên là lãi suất tăng cao không bao giờ là điều có lợi đối với tăng trưởng kinh tế. Trong điều kiện kinh tế Việt Nam những năm qua, rõ ràng mối tương quan giữa tăng trưởng tín dụng và chi tiêu đầu tư trong toàn nền kinh tế với tăng trưởng kinh tế nói chung là lớn một cách có ý nghĩa.
    Tôi đã làm việc với nhiều doanh nghiệp và gần như đều lắc đầu với mặt bằng lãi suất vay hiện tại, trừ khi họ buộc phải vay mượn. Một số doanh nghiệp khác đúng là họ đã thu được một lượng tiền lớn sau các cuộc phát hành tăng vốn trong năm 2010 và bây giờ thì họ cũng lựa chọn giải pháp gửi tiền vào ngân hàng. Tôi mong tình trạng hiện tại chóng qua.

    Để mặt bằng lãi suất không tăng quá cao, gây bất lợi cho nền kinh tế, theo ông các cơ quan hữu quan nên làm gì?
    Thật khó để khuyên các cơ quan nhà nước nên làm gì, vì tôi không nằm trong vị trí như họ. Từ góc nhìn của một người nghiên cứu, tôi thấy rằng, mặt bằng lãi suất cao hiện nay do hai yếu tố chi phối chính, một là mặt bằng giá cả và hai là cấu trúc hình thành chi phí lãi vay ra nền kinh tế.
    Về mặt bằng giá cả, rõ ràng sự tăng giá của một loạt mặt hàng quan trọng như xăng, điện và sự giảm giá tiền đồng trong điều kiện thâm hụt thương mại thường xuyên chắc chắn sẽ tác động tới mặt bằng giá cả nói chung. Do vậy, tôi tin rằng, các nhà tư vấn hoạch định chính sách sẽ tiếp tục áp dụng lý thuyết truyền thống là "lãi suất cao chống lạm phát cao", dù rằng điều này còn phải bàn cãi như đã nói ở trên.
    Về cấu trúc hình thành chi phí lãi vay, tôi đã chỉ ra trong một nghiên cứu về "vị thế tiền rẻ" của các ngân hàng thương mại lớn. Điều này là do những ngân hàng đó nắm giữ một lượng lớn trái phiếu chính phủ và họ được dùng nó để repo lại từ NHNN trên thị trường mở, với lãi suất thấp hơn, sau đó thì cho các ngân hàng thương mại nhỏ khác vay trên thị trường liên ngân hàng.
    Các ngân hàng thương mại nhỏ do không có trái phiếu chính phủ nên phải vay trên liên ngân hàng với mức lãi suất đã được "kênh giá" hoặc phải huy động lãi suất cao từ nền kinh tế. Kết quả là chúng ta sẽ thấy mặt bằng lãi suất ra nền kinh tế cao hơn bình thường và các ngân hàng thương mại lớn với "vị thế tiền rẻ" của mình có thể điều khiển được mặt bằng lãi suất. Đây có lẽ cũng là một phần lý giải tại sao một số ngân hàng lớn đã lãi lớn trong năm qua và lợi nhuận chủ yếu của họ đến từ hoạt động nguồn vốn (treasury), nghĩa là kinh doanh vốn trên thị trường liên ngân hàng.
    Như vậy, để giảm lãi suất trở về trạng thái cạnh tranh thay vì trạng thái được điều khiển bởi các "ông lớn" thì cần thiết phải xóa bỏ hoặc xóa bớt "vị thế tiền rẻ". Tuy nhiên, trong bước đi nâng một loạt mức lãi suất gần đây của NHNN, tôi thấy các mức lãi suất khác đều tăng, trừ lãi suất tái chiết khấu vẫn ở mức 7%.
    Như vậy thì chưa chắc làm giảm được vị thế tiền rẻ. Do đó, trong thời gian tới, NHNN không nên mua hoặc hạn chế mua lại (có kỳ hạn) trái phiếu chính phủ với lãi suất thấp, để tránh vị thế tiền rẻ.
    Theo Hồng Dung
    ĐTCK​


    ​
  4. duyetdaigia

    duyetdaigia Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    06/03/2010
    Đã được thích:
    853
    Không biết đâu là đáy đây ??? [-)[-)[-)
  5. vnmotherland

    vnmotherland Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/10/2008
    Đã được thích:
    0
    Vớ vẩn về 200
  6. duyetdaigia

    duyetdaigia Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    06/03/2010
    Đã được thích:
    853
    Thẻo nèo mấy hum nay dòng chứng xả khiếp !
  7. duyetdaigia

    duyetdaigia Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    06/03/2010
    Đã được thích:
    853
    Mời các bác dự đoán đáy của các em hotgirl một thời:
    KLS BVS SSI VND
  8. cuongnh1

    cuongnh1 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    12/04/2010
    Đã được thích:
    0
    cái mẹt gian ghê ;))
  9. cuongnh1

    cuongnh1 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    12/04/2010
    Đã được thích:
    0
    KLS : 9k
    BVS : 11k
    SSI : 18k
    VND: 11k
    =D>
  10. duyetdaigia

    duyetdaigia Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    06/03/2010
    Đã được thích:
    853
    Óe. Thía thì chít :-ss:-ss:-ss.

Chia sẻ trang này