1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Triển vọng và chiến lược giao dịch những tháng cuối năm

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi phong_lan, 17/08/2024.

698 người đang online, trong đó có 11 thành viên. 04:31 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1006 lượt đọc và 0 bài trả lời
  1. phong_lan

    phong_lan Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    09/08/2015
    Đã được thích:
    8.549
    I.CẬP NHẬT VĨ MÔ VÀ CÁC CHÍNH SÁCH CẦN LƯU Ý:

    1.Tóm tắt một số dự báo chỉ tiêu vĩ mô:













    Với kỳ vọng tiêu dùng trong nước phục hồi với sự giúp đỡ từ chính sách hỗ trợ của Chính phủ, GDP nửa cuối năm 2024 ước tính ghi nhận tăng trưởng ở mức 6,8% - 7,0%.

    ·Điều chỉnh tăng kịch bản tăng trưởng GDP 2024 là 6,6 – 6,8% sau kết quả 6 tháng đầu năm tốt hơn ước tính.

    ·2025 là năm cuối của Kế hoạch 5 năm 2021-2025 và tăng trưởng GDP được dự báo ở mức 6,5% - 7,0%, với động lực đến từ nhóm tiêu dùng.

    2.Các điểm nhấn vĩ mô cần lưu ý:

    (1)Fed chuẩn bị bước vào giai đoạn nới lỏng, áp lực tỷ giá sẽ được xoa dịu thời điểm cuối năm. Chỉ số DXY đã suy giảm trong hơn 1 tháng trở lại đây và kỳ vọng xu hướng giảm sẽ còn tiếp diễn trong các tháng cuối năm nhờ:

    ·Khả năng FED hạ lãi suất tăng mạnh sau kỳ họp 31/7/2024.

    ·Nền kinh tế Mỹ đã có dấu hiệu suy yếu rõ nét thế hiện qua các số liệu được công bố gần đây như chỉ số PMI giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 11/2023; số người Mỹ nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp đánh dấu mức cao nhất kể từ tháng 8/2023, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên 4.3%.

    • Cung cầu ngoại tệ ở Việt Nam sẽ cân bằng hơn khi mùa nhập khẩu cao điểm nguyên vật liệu (giai đoạn tháng 6- tháng 8) đang dần trôi qua. Bước sang quý 4, nguồn cung ngoại tệ kỳ vọng gia tăng khi Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sang Mỹ và EU để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cuối năm, kết hợp nguồn cung ngoại tệ đến từ kiều hối và FDI tiếp tục ở mức cao.
    (2)Chính sách tài khóa:

    - Tập trung phát triển cơ sở hạ tầng:

    ·Bộ Tài Chính hướng đến kết thúc các chính sách hỗ trợ về thuế được đưa ra trong Covid-19 trong năm 2025 nhằm tăng nguồn lực đầu tư vào cơ sở hạ tầng.

    ·Đối với đầu tư công, mặc dù kế hoạch năm 2024 và 2025 được kỳ vọng sẽ thấp hơn 2023 (do 2023 có Chương trình phục hồi phát triển kinh tế 2022-2023), mức giải ngân kỳ vọng trong 2 năm này vẫn cao hơn 50%-60% so với giai đoạn trước.

    ·Kế hoạch cơ sở hạ tầng giai đoạn 2021 - 2030: Đường bộ (35 tỷ USD); Đường sắt (10 tỷ USD); Cảng biển (13 tỷ USD) và Sân bay (16,5 tỷ USD) và nhiều lĩnh vực khác.

    - Kích cầu:

    ·Chính sách tài khóa năm 2024 tập trung vào việc kích cầu tiêu dùng thông qua việc tăng 30% lương cơ bản cho cán bộ, công chức, viên chức, tăng 15% cho người nghỉ hưu và tăng 6% lương tối thiểu vùng.

    ·Nguồn ngân sách tăng lương đã được chuẩn bị trước từ trước Covid-19, với ước tính từ 28 - 36 tỷ USD trong 2,5 năm. Tuy nhiên áp lực lạm phát vẫn là yếu tố cần chú ý.

    (3)Chính sách tiền tệ: Bình thường hóa

    ·Chính sách tiền tệ tập trung hơn vào các yếu tố mang tính ổn định kinh tế vĩ mô sau giai đoạn nới lỏng năm 2023-2024, trong đó tập trung vào kiểm soát lạm phát, tăng dự trữ ngoại hối, xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng.


    II.TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN GIAI ĐOẠN TỚI:

    1.Về mặt định giá:

    ·P/E toàn thị trường hiện ở mức 13,3x, về dưới mức trung bình giai đoạn từ năm 2019 đến nay (14,8x) và giảm -12,5% so với đỉnh 2 năm (thiết lập vào đầu tháng 4/2024). Trong đó, P/E Phi tài chính giảm -11,5% và Ngân hàng giảm -14,3%. Nhìn về bức tranh trung và dài hạn, việc tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất thấp sẽ là yếu tố hỗ trợ chính cho hoạt động sản xuất, công nghiệp, đầu tư và tiêu dùng trong nước lần lượt hồi phục.


















    ·Xét về tăng trưởng Lợi nhuận sau thuế toàn thị trường:
















    ·Tổng LNST toàn thị trường tăng +26% so với cùng kỳ với động lực tăng trưởng từ nhóm Phi tài chính (+32,9%) nhờ đóng góp đáng kể từ nhóm có câu chuyện hồi phục (bao gồm Thép, Hàng không, Viễn thông, Phân bón, Bán lẻ) và Bất động sản (phần lớn nhờ bán buôn dự án và ghi nhận thu nhập từ hoạt động tài chính). Ở nhóm Tài chính, LNST tăng +20,6% so với cùng kỳ.

    ·Ngân hàng tiếp tục là trụ cột tăng trưởng chính (+21,6% YoY và 6% QoQ) trong khi Chứng khoán không còn tăng trưởng đột biến do hiệu ứng nền so sánh thấp đã hết.

    2. Câu chuyện kì vọng:

    Kì vọng VNINDEX sẽ có mức tăng tốt vào cuối năm 2024 tạo đà cho kỳ vọng cao hơn trong năm 2025 với tăng trưởng 15-20% trên chỉ số, dựa trên một số giả định như sau:

    1. Tỷ giá sẽ ổn định hơn trong năm 2024, ít nhất là khi hoạt động giao dịch chênh lệch lãi suất đảo ngược (Reverse Carry trade) sẽ được giảm bớt.

    2. Nâng hạng lên thị trường mới nổi (EM) vẫn là yếu tố tác động tích cực: Dòng vốn nước ngoài có thể được cải thiện vì chỉ có các quỹ ETF Frontier đã hoàn tất việc bán các vị thế tại Việt Nam.

    3. Tăng trưởng lợi nhuận chung cao hơn và ngày càng chuyển biến tích cực vào năm 2025 nhờ sự phục hồi mạnh mẽ hơn và trên diện rộng.

    Đối với quý 3/2024 triển vọng tăng trưởng LNST sẽ tiếp tục tích cực nhờ:

    (1) Nền so sánh quý 3/2023 là mức đáy trong 6 quý trở lại đây. Đây cũng là quý mà hai ngành chủ chốt (bao gồm Ngân hàng và Bất động sản) cùng có kết quả kinh doanh kém và lợi nhuận của nhóm còn lại (ngoại trừ Thép, Chứng khoán, Dầu khí) gần như chưa hồi phục hoặc hồi phục rất chậm.

    (2) Xu hướng hồi phục đang diễn ra khá tích cực ở nhiều ngành thuộc nhóm Phi tài chính.

    (3) Mặt bằng lợi nhuận ổn định ở nhóm Tài chính.

    Thị trường vẫn có thể gặp phải những “cơn gió ngược” trong ngắn hạn do một số yếu tố như hoạt động cho vay ký quỹ ở mức cao và những bất ổn địa chính trị, trong khi đó, nghĩa vụ thanh toán trái phiếu và nợ vay vẫn ở mức cao cho đến cuối năm.

    3. Góc nhìn kĩ thuật

    ·Kịch bản 1 (70% xác suất): VN-Index sẽ tiếp tục chịu quán tính giảm điểm và có thể bắt đầu có dòng tiền bắt đáy mạnh khi chỉ số lùi về vùng hỗ trợ gần quanh 1120 – 1150đ, sau đó tạo đáy và đi lên.

    ·Kịch bản 2: (30% xác suất) VN-Index diễn biến tiêu cực tiếp tục đi xuống và phá vỡ vùng hỗ trợ này 1120 – 1150đ, VN-Index sẽ đánh mất xu hướng tăng trung hạn và có thể thiết lập trạng thái đi ngang trên khung đồ thị tháng theo mẫu hình tam giác tính từ đỉnh đầu năm 2022 (hoặc 2 đỉnh lớn khung tuần), xuống vùng hỗ trợ mạnh/sâu hơn tại quanh 1030 – 1050đ trước khi có cơ hội hồi phục trở lại.


    III.NHÓM CỔ PHIẾU TRIỂN VỌNG:

    Bối cảnh vĩ mô ở mục I và triển vọng thị trường ở mục II sẽ là cơ sở để dự phóng doanh thu và lợi nhuận sau thuế của các nhóm ngành. Từ đó lựa chọn ra các nhóm ngành và cổ phiếu chiến lược cho giai đoạn tới.










    Nhìn vào số liệu có thể thấy rằng tăng trưởng lợi nhuận năm 2025 mạnh hơn tăng trưởng năm 2024: NPATMI được ước tính tăng 13,6% vào năm 2024, và tiếp tục tăng 20,8% vào năm 2025.

    Trong khi tăng trưởng nửa cuối năm 2023 & nửa đầu năm 2024 được thúc đẩy bởi một số ngành có tính chu kỳ trên cơ sở so sánh thấp như Bán lẻ, Phân bón, Thép, Chứng khoán hoặc Hàng không, mà thiếu vắng hỗ trợ từ nhu cầu tiêu dùng chung, kỳ vọng tăng trưởng trong nửa cuối năm 2024 & 2025 lại lan tỏa ở trên tất cả các lĩnh vực.

Chia sẻ trang này