1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

TT 13...Cáo đã bắt đầu lòi đuôi........Kiểu này .....hoãn thật 100 % rồi

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi chimlon_No1, 28/08/2010.

Có 3540 người đang online, trong đó có 4 thành viên. 03:50 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 5830 lượt đọc và 78 bài trả lời
  1. stock_pro7x

    stock_pro7x Thành viên gắn bó với f319.com Not Official

    Tham gia ngày:
    23/02/2010
    Đã được thích:
    965
    Đại bịp, cho xin cái link đi. Mà càng hoãn càng chết nó như một cái thòng lọng ở trên đầu
  2. TYPN2

    TYPN2 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    18/04/2010
    Đã được thích:
    0
    Vote 1 phát cho cái Ava vkl... của chủ thớt!!!!
  3. JLF68

    JLF68 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    21/07/2010
    Đã được thích:
    0
    Chỉ có chỉnh sửa một chút, ko thể có chuyện hoãn, các bác Rich, Thuý và Lịch đã nói. Chủ thớt cho link đi??
    Ông Trần Du Lich nói gì:

    Thông tư 13: Cần xem xét lại tiền gửi của các tổ chức kinh tế
    Thứ ba, 24/8/2010, 14:37 GMT+7 Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước rà soát lại một số nội dung trong Thông tư 13/2010/TT–NHNN trước nhiều ý kiến phản hồi Thông tư của cộng đồng ngân hàng, doanh nghiệp cũng như các chuyên gia. Phóng viên đã có cuộc phỏng vấn TS Trần Du Lịch, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia về một số nội dung trong Thông tư nhạy cảm này.

    * Chuyện trò trực tiếp cùng giới đầu tư

    TS. Lịch cho rằng, quy định đưa ra trong Thông tư 13/2010/TT–NHNN ban hành 20/5/2010 là đúng đắn và cần thiết để tiến tới các tiêu chuẩn quốc tế. Duy chỉ có điểm cần xem xét lại đó là tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế nên tính vào nguồn vốn huy động để cấp tín dụng, thay vì loại ra theo quy định tại Thông tư 13. Với các quy định đưa ra tại Thông tư 13 được cho là sẽ “siết” tín dụng trong thời gian tới. Ý kiến của ông về về vấn đề này thế nào?
    Theo tôi, các quy định đưa ra tại Thông tư 13 là đúng đắn và cần thiết, dần tiến tới các tiêu chuẩn quốc tế. Vì thực tế, với Trung Quốc hiện nay, các ngân hàng chỉ được phép cấp tín dụng với tỷ lệ 75% trên tổng vốn huy động, chứ không được 80% như Việt Nam. Còn quy định tỷ lệ an toàn vốn lên 9% sẽ tạo được tính an toàn cho cả hệ thống.
    Duy chỉ có một điểm, theo tôi, cần xem xét lại là tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai) của các tổ chức kinh tế nên tính vào trong tổng nguồn vốn huy động, thay vì loại ra như quy định tại Thông tư 13. Tôi cho rằng, tiền gửi không kỳ hạn của doanh nghiệp rất lớn. Trong khi đó, nguồn vốn này không được tính vào nguồn vốn huy động để cho vay sẽ có khó khăn cho các NHTM. Do đó, theo tôi, cần tính lại điểm này, tức loại tiền gửi nào cần tính vào nguồn vốn huy động. Còn tiền gửi kho bạc thì khác, không được tính vào vốn huy động tôi cho là phù hợp.
    Các ngân hàng cho rằng, thời gian thực hiện các quy định trong Thông tư nói trên là quá gấp. Với tư cách là thành viên của Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, theo ông, có nên giãn thời điểm thực hiện để ngân hàng có thêm thời gian chuẩn bị?
    Tôi cho rằng, khó có thể hoãn thời gian thực hiện các quy định trong Thông tư 13. Vì Thông tư này đã được ban hành từ tháng 5/2010. Do đó, các ngân hàng phải từng bước cân đối và báo cáo lên NHNN trước khi quy định trên bắt đầu có hiệu lực từ 1/10 tới.
    Còn nếu có điều chỉnh, khả năng chỉ sẽ xem xét lại khoản tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế có nên tính vào nguồn vốn huy động hay không. Bởi trong một số trường hợp đặc biệt, các ngân hàng có thể dùng số tiền nhàn rỗi (tiền gửi thanh toán và tiền gửi tài khoản vãng lai của doanh nghiệp) để làm thế chấp vay vốn qua thị trường liên ngân hàng. Nếu tận dụng được điều này sẽ làm cho lãi suất giảm thêm.
    Với quy định ngân hàng không được sử dụng quá 20% vốn liên ngân hàng làm vốn tín dụng và khi Thông tư 13 có hiệu lực, liệu lãi suất có khó giảm hơn không, thưa ông?
    Theo tôi, lãi suất giảm trong thời gian qua đã là một nỗ lực khá lớn của thị trường. Vì thực tế, với kỳ vọng lạm phát năm 2010 ở mức 8%, trong khi đó, lãi suất huy động tiền gửi hiện nay phổ biến ở mức 10,5%/năm. Như vậy, lãi suất đã thực dương, song với chênh lệch 2,5%/năm cũng không phải là cao để có thể dễ huy động vốn. Mặt khác, một lượng trái phiếu Kho bạc phát hành trong 5 năm qua, với hơn 56.000 tỷ đồng đã hút một lượng tiền lớn của các NHTM nên lượng tiền đã cạn, không còn nhiều để cho vay ra, dẫn đến lãi suất sẽ khó có thể giảm mạnh.
    Như vậy, nếu muốn giảm thêm lãi suất thì kỳ vọng lạm phát phải được kiềm chế ở mức 7%, thay vì 8% trong năm nay. Đồng thời, Ngân sách nhà nước không huy động thêm vốn nữa thì lãi suất cho vay thỏa thuận mới có thể giảm mạnh hơn hiện nay.
    Nhưng lãi suất cho vay hiện nay, khách hàng có nhu cầu vẫn khó tiếp cận vốn vay?
    Người vay vốn kêu khó tiếp cận được ngân hàng cũng cần xem xét lại từng loại khách hàng. Chẳng hạn với người vay tiêu dùng thì lãi suất ngân hàng áp dụng từ 16 – 17%/năm. Song thực tế, với các khách hàng chiến lược, sử dụng vốn vay cho mục đích xuất khẩu, nhiều ngân hàng hiện vẫn cho vay ở mức khoảng 12 – 12,5%/năm.
    Đánh giá của ông như thế nào về tốc độ tăng trưởng tín dụng của toàn ngành ngân hàng trong 7 tháng qua, với con số được NHNN công bố ở mức 12,96%/năm?
    Tính đến thời điểm giữa tháng 8/2010, tăng trưởng tín dụng toàn ngành ngân hàng đã xấp xỉ 14%. Do đó, theo tôi mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm nay khoảng 25% là hoàn toàn có khả năng. Trường hợp, nếu không đạt được con số này, tôi cho rằng cũng không có vấn đề gì và chúng ta không nên bằng mọi giá để đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng trên. Vì nếu, với mục tiêu tăng trưởng kinh tế 6,5% mà tín dụng không tăng hết “room” theo mục tiêu kiểm soát cả năm là điều tốt cho nền kinh tế.
    Tín dụng năm nay không tăng sẽ dẫn đến sự trì trệ của nền kinh tế trong năm tới?
    Theo tôi, tín dụng tăng hay không còn tùy thuộc vào nhu cầu của thị trường, vì thực tế hiện nay, các doanh nghiệp vay vốn cũng chưa mở rộng được việc đầu tư, kinh doanh. Do đó, nếu đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng trong lúc này khó có thể tránh được vốn ngân hàng “chảy” vào thị trường bất động sản cũng như thị trường chứng khoán và điều đó là rất nguy hiểm. Nếu theo dõi sát, chúng ta cũng có thể thấy, khi tín dụng được nới lỏng, chứng khoán và bất động sản tăng theo. Ngược lại, khi chính sách tiền tệ “siết” tín dụng, chứng khoán và bất động sản sụt giảm trở lại.
    Theo ông, xu hướng lãi suất từ nay đến cuối năm sẽ ra sao và liệu có giảm nhanh?
    Tôi cho rằng, khả năng lãi suất cho vay thỏa thuận sẽ chỉ giảm thêm khoảng 0,5%/năm trong thời gian tới. Sau đó, xu hướng lãi suất sẽ tùy thuộc vào diễn biến của nền kinh tế. Còn kỳ vọng lạm phát trong năm nay sẽ được kiểm soát ở mức 8%.(Nguồn: ĐTCK, 24/8)
    ......................................................................................................................................................................
    Thống đốc Nguyễn Văn Giàu nói gì về TT13

    http://vneconomy.vn/20100814064151366P0C6/thong-doc-nguyen-van-giau-sao-phai-so-thong-tu-13.htm


    Thông tư 13/TT-NHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động các tổ chức tín dụng vừa mới ban hành, nhưng bị các ngân hàng thương mại kêu khó thực hiện do chuẩn mực quá cao.

    Tuy nhiên, "thông tư này cũng chỉ mới dừng ở tầm thấp, có tính tập dượt chứ đâu phải ở tầm cao, thậm chí, một số chuyên gia còn phê bình Ngân hàng Nhà nước rằng, một số chuẩn mực và tỷ lệ quy định tại thông tư này còn thấp", Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu nói về vấn đề này.

    Thưa Thống đốc, nhiều ngân hàng thương mại nói rằng, rào chắn kỹ thuật để đảm bảo an toàn hệ thống do Ngân hàng Nhà nước dựng lên tại Thông tư 13 quá cao, khiến họ rất khó kinh doanh, Thống đốc có ý kiến gì?

    Mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng và hệ thống thanh toán. Quá trình hội nhập của Việt Nam đi từ thấp đến cao, những quy định trong Thông tư 13 cũng không nằm ngoài mục đích là đưa hoạt động ngành ngân hàng vươn tới những chuẩn mực cao hơn.

    Khi hệ thống hoạt động an toàn thì ai là người có lợi? Đầu tiên phải là tổ chức tín dụng, kế tiếp là lợi ích cho xã hội vì hệ thống ngân hàng an toàn thì tổn thất cho xã hội sẽ rất ít. Nhờ đó mà hoạt động quản lý cũng thuận lợi hơn.

    Hơn nữa, thông tư này cũng chỉ mới dừng ở tầm thấp, có tính tập dượt chứ đâu phải ở tầm cao, thậm chí, một số chuyên gia còn phê bình Ngân hàng Nhà nước rằng, một số chuẩn mực và tỷ lệ quy định tại thông tư này còn thấp. Từ 1/1/2011 khi thực hiện luật mới, chuẩn mực còn cao hơn.

    Các ngân hàng thương mại không tranh thủ điều kiện của Thông tư 13 để nâng chuẩn quản trị an toàn của mình lên thì cũng phải xem lại mình. Tại sao họ lại sợ?

    Thưa Thống đốc, để dự trữ thanh toán, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giữ lại 20% nguồn vốn huy động, nay lại loại bỏ nốt nguồn tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức vốn chiếm 15% tổng nguồn vốn huy động ra khỏi nguồn vốn, tại sao Ngân hàng Nhà nước lại khắt khe đến vậy?

    Nguồn tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế không phải ít, có thể họ muốn gửi có kỳ hạn, nhưng vì lý do gì đó bên trong nên họ để “không kỳ hạn”.

    Cứ hình dung, tiền gửi không kỳ hạn kể cả của Kho bạc, có thể gửi sáng nhưng trưa rút đi, và bất kỳ lúc nào cũng mất thanh khoản nếu không có dự trữ tốt.

    Hoặc tiền gửi thanh toán cũng vậy. Ngày xưa, loại tiền gửi thanh toán không bao giờ nằm trên tài khoản nhiều vì tất cả giám đốc tài chính doanh nghiệp phải sử dụng triệt để nguồn tiền này và di chuyển như chong chóng thì mới đem lại lợi nhuận cao. Còn việc nói là có một tỷ lệ đọng lại khoảng 10% - 15% thì cái đó có thể đúng nhưng không phải vì thế mà coi đó là cơ số ổn định.

    Một thực tế ở Agribank là số tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc, Bảo hiểm Xã hội, tổ chức kinh tế hiện tới 133 nghìn tỷ đồng. Có ý kiến: nếu không được kinh doanh, không những lãng phí mà còn mất an toàn, Thống đốc giải thích như thế nào?

    Tôi cũng phân vân về vấn đề này.

    Vì tiền gửi kho bạc là phải tập trung tại Kho bạc hoặc gửi Ngân hàng Nhà nước còn những nơi không thuận tiện thì gửi ngân hàng thương mại. Lâu nay các ngân hàng thương mại đặc biệt là Agribank cũng muốn coi đó là một phần trong tổng nguồn huy động vì nó chiếm một tỷ trọng lớn, nhưng tới đây, khi thực hiện Luật Ngân hàng Nhà nước mới thì tiền gửi Kho bạc phải mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước, ngoại trừ trường hợp không thuận tiện thì do Ngân hàng Nhà nước quy định.

    Phải thấy rằng, tiền gửi Kho bạc cũng chỉ mang tính tạm thời. Hiện nay có khoản 56 nghìn tỷ đồng tiền gửi kho bạc tại các ngân hàng thương mại, so với đầu năm tăng khá đột biến. Một đặc điểm của chúng là tính không ổn định, nếu giải ngân nhanh thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng báo động đỏ.

    Điều này cũng đúng thôi, không lẽ Chính phủ phát hành trái phiếu với lãi suất cao rồi đem chôn tiền ở ngân hàng? Như thế không những không giải quyết được gì nhiều cho nền kinh tế mà còn phát sinh tiêu cực.

    Ở các nước không bao giờ có chuyện đó. Đã là tiền gửi Kho bạc thì không thể coi đó là nguồn vốn kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Những gì thuộc về lịch sử thì phải chấp nhận nhưng trong một tương lai làm ăn chắc chắn và hội nhập thì phải đàng hoàng.

    Còn đối với tiền gửi không kỳ hạn của Bảo hiểm Xã hội thì tại sao cũng phải loại bỏ khỏi nguồn vốn kinh doanh?

    Cũng đừng vội mừng khi nhận số tiền gửi này. Hiện số dư của nhóm này khoảng 100 nghìn tỷ đồng và họ làm giá quá trời. Cũng vì một phần như vậy mà lãi suất rất khó kéo xuống. Chưa kể với số lượng lớn như vậy, nếu họ di chuyển từ ngân hàng này đến ngân hàng khác (do làm giá) thì các ngân hàng còn “hẻo” nữa.

    Các anh cứ xuống mấy ngân hàng Vietinbank hay Agribank mà hỏi xem có đúng thế không?

    Nếu đột ngột không cho phép đưa tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức vào kinh doanh sẽ gây hẫng hụt và ngân hàng thương mại sẽ không cân đối được nguồn, Ngân hàng Nhà nước tính sao, thưa Thống đốc?

    Đối với vấn đề này, chúng tôi có hai hướng: nếu ngân hàng Trung ương còn chỉ tiêu tiền cung ứng thì hỗ trợ các ngân hàng thương mại hoặc cho họ lộ trình để loại bỏ khoản mục này khỏi nguồn vốn kinh doanh.

    Nhưng tôi khẳng định, trong vài năm nữa, dòng tiền này phải được quản lý chặt chẽ và không thể để như trước. Đừng quên vụ việc Tết Nguyên đán vừa rồi, Kho bạc rút đột ngột 10 nghìn tỷ đồng, Bảo hiểm Xã hội rút 10 nghìn tỷ đồng, nếu ngân hàng Trung ương không can thiệp kịp thời thì hệ thống “có chuyện to”, lúc đó ai chịu?

    So với các nguyên tắc Basel thì mức độ tiệm cận của Thông tư 13 như thế nào?

    So với nguyên tắc Basel I và II thì còn lâu lắm mới bằng. Thế giới họ đã đi đến Basel III rồi còn mình thì vẫn thế này đây. Hiện tại, Việt Nam có tới gần 100 tổ chức tín dụng, nội có ngoại có, liên doanh có, sao cứ phải đá ở sân “nội” mãi được?

    ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------


    Ông Lê Đức Thúy nói gì về Thông tư 13?

    Thứ Bảy, 21/08/2010, 01:39
    "Cần chỉnh sửa những điểm bất hợp lý, không thực tế mà khi áp dụng sẽ không áp dụng được hoặc đẻ ra vô số những rắc rối".

    Thông tư số 13/2010/TT-NHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 20/5/2010 quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động các tổ chức tín dụng, sẽ có hiệu lực thi thành từ ngày 1/10/2010.

    Trước những nội dung trong Thông tư này, gần đây, 14 ngân hàng, công ty tài chính - thông qua Hiệp hội Ngân hàng - đã “phản ánh những vướng mắc mang tính kỹ thuật gửi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước để nghiên cứu, hoàn thiện Thông tư”.

    Mới đây, Thủ tướng *************** yêu cầu Ngân hàng Nhà nước kiểm tra, rà soát các nội dung trong Thông tư 13 và báo cáo Thủ tướng Chính phủ và đề xuất các giải pháp xử lý trước ngày Thông tư số 13 có hiệu lực thi hành.

    Ngay trong chiều 20/8, NDHMoney đã có cuộc phỏng vấn với ông Lê Đức Thúy, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, xung quanh chủ đề về Thông tư 13.

    "Ban hành Thông tư 13 là ý tưởng đúng"

    Trước khi nói sâu hơn về Thông tư 13, xin ông cho biết những nguyên tắc khi tiếp cận thông tư này để làm cơ sở đánh giá và hướng xử lý?

    Trước hết, một hệ thống tài chính cần phải hoạt động một cách an toàn, và cơ quan quản lý nó phải quan tâm đến sự an toàn của hệ thống.

    Do đó, phải đưa ra những khuôn khổ pháp lý cụ thể, minh bạch, chặt chẽ để các tổ chức tín dụng, các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính hoạt động một cách an toàn, lành mạnh và phát triển bền vững.

    Việc ban hành Thông tư 13 là ý tưởng đúng, nó tiếp tục quá trình mà Ngân hàng Nhà nước đã làm trong nhiều năm qua. Từ chỗ Pháp lệnh ngân hàng quy định một cách đơn sơ rằng huy động vốn để cho vay không được quá 20 lần vốn tự có, chuyển đến Luật Các tổ chức tín dụng và Ngân hàng Nhà nước.

    Chúng ta quy định bám vào một số quy định của Basel I, và bây giờ thế giới còn đi xa hơn khi đưa ra tiêu chuẩn Basel II, thậm chí Basel II còn bị cho là vẫn tồn tại bất cập, cho nên phải tiến tới Basel III. Đấy là xu hướng đúng, và hoạt động của hệ thống tín dụng ở Việt Nam cũng phải dần theo chuẩn mực quốc tế.

    Thứ hai, về phía thực tiễn, khi đưa ra những tiêu chuẩn an toàn phải gắn liền với khả năng thực thi nó trong thực tế và kiểm soát được việc thực hiện các tiêu chuẩn đó. Chứ đưa ra mà không kiểm soát được, không vận dụng được vào thực tế thì nó cũng giống như là “đười ươi giữ ống”. Một khuôn khổ có vẻ như đã chặt chẽ nhưng thực tế vận hành chưa chắc đã được chặt.

    Thứ ba, phải tính đến hiệu quả kinh doanh của các định chế tài chính, các định chế tài chính là những doanh nghiệp phải quan tâm đến an toàn, nhưng quan tâm đến an toàn mà không tính đến khả năng hoạt động sinh lời, thì tổ chức đó, một là không tồn tại được, mà không tồn tại được là hệ thống không an toàn; hai là, nếu không tồn tại được họ phải cố để tồn tại, thì họ buộc phải luồn lách, và rất nhiều các rủi ro đạo đức có thể xảy ra.

    Cho nên, khi ban hành một quy định pháp lý nào để quản lý thì phải tính đến yếu tố đó. Đấy là chưa kể một yếu tố cuối cùng phải tính đến, đó là những tác động đến toàn bộ nền kinh tế, sự phát triển của đất nước, sự ổn định vĩ mô và lòng tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng và ổn định giá trị đồng tiền.

    Đó là những nguyên tắc khi ta tiếp cận Thông tư 13.

    "Thông tư 13 có những điểm chưa hợp lý"

    Vậy ông có đánh giá gì về Thông tư 13?

    Thông tư 13 là một nỗ lực theo hướng đưa ra những quy định rõ ràng hơn, cụ thể hơn, chặt chẽ hơn để hướng dần hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đi vào hoạt động an toàn và theo dần với thông lệ quốc tế.

    Và tôi thấy nhiều quy định vừa kế thừa những quy định đã có, vừa có bổ sung, hoàn chỉnh hơn, điều chỉnh những quy định trước đây chưa hợp lý, hoặc chưa được cụ thể. Về nguyên tắc tôi ủng hộ tư tưởng đó.

    Tuy nhiên, tôi nhận thấy Thông tư 13 có những điểm chưa hợp lý, nếu không cân nhắc, chỉnh sửa nó trước khi đem ra vận dụng thì:

    Thứ nhất là không thực hiện được.

    Thứ hai, nếu buộc phải thực hiện thì có những hậu quả bất lợi cho hệ thống và cho nền kinh tế.

    Tôi nghĩ rằng có những ý kiến này khác thông qua những kênh khác nhau. Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Ngân hàng Nhà nước phải rà soát lại, tiếp thu những ý kiến đóng góp để chỉnh sửa thông tư này và trình Thủ tướng trước khi thực hiện.

    Đó là việc nên làm cẩn trọng, vì một quy định, tuy chỉ trong lĩnh vực ngân hàng, nhưng nó nhạy cảm đối với hệ thống mà chúng ta vẫn gọi là huyết mạch của nền kinh tế và có thể phương hại đến cả cơ thể kinh tế, đến sự ổn định kinh tế cũng như ổn định chính trị, xã hội.

    "Nên có lộ trình áp dụng đối với từng ngân hàng"

    Ông có thể nêu cụ thể một vài điểm trong Thông tư 13 mà ông cho là “chưa hợp lý”?

    Tôi không có đủ thời giờ để đi vào chi tiết, nhưng có một số quy định là chưa hợp lý và cần phải chỉnh sửa, nếu không thì khó thi hành.

    Thứ nhất, quy định nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu từ 8% lên 9%. Một số nước đã đưa lên 12%, thậm chí 15%, Trung Quốc là 11,5%. Nhưng ở Việt Nam tại sao lại đang 8% lại lên 9%? Tôi cho rằng việc quy định như vậy hướng tới thì tốt, nhưng nếu áp dụng từ 1/10, thì các tổ chức tín dụng chưa kịp điều chỉnh các hoạt động của mình, các bố trí nguồn vốn của mình, đã phải đáp ứng điều kiện này. Do đó, tôi cho rằng hiệu lực của Thông tư 13 vào ngày 1/10 trên thực tế là chưa thực hiện được.

    Có thể có một lộ trình và có thể cần phải phân biệt ra đối với những ngân hàng khác nhau, để có những quy định khác nhau, chứ không thể ngay lập tức cả hệ thống phải tuân thủ một quy định như vậy.

    Thứ hai, quy định nguồn vốn cho vay không được quá 80% nguồn vốn huy động, quy định này theo thông lệ quốc tế là không có. Trừ Trung Quốc có quy định tiền cho vay so với tiền gửi không vượt quá 75%. Nhưng ở Việt Nam, quan niệm nguồn vốn và tiền gửi với những quy định trong Thông tư 13 sẽ dẫn đến có nhiều khó khăn trong thực tế.

    Ví dụ, quy định tiền gửi thanh toán của các tổ chức không được tính vào nguồn huy động. Chúng ta thấy tiền gửi để thanh toán của các tổ chức có thể có một tài khoản và khoản tiền để ở các tổ chức tín dụng nhưng không phải phải gửi ở đó là thanh toán ngay, nếu thế chỉ là dịch vụ chuyển tiền thanh toán.

    Còn tiền gửi để thanh toán là khi cần có lệnh thanh toán là ngân hàng phải chi, chứ không đồng nghĩa với việc tiền đó hoàn toàn không đọng lại ở ngân hàng khoảng thời gian nào cả.

    Thế mà trong cả hệ thống với nhiều tổ chức khác nhau thì tiền gửi thanh toán cũng như tiền gửi không kỳ hạn của các khách hàng khác, bao giờ cũng có một khoản tồn số dư và số dư là lợi thế mà các tổ chức tín dụng sử dụng làm vốn để quay vòng mà vẫn bảo đảm khả năng hoạt động thanh toán cho người gửi tiền thanh toán và bảo đảm an toàn cho hệ thống.

    Nếu quy định không được tính vào nguồn thì khoản tiền đó lớn, và những ý tưởng của chúng ta về thực hiện thanh toán qua ngân hàng không chỉ để giảm bớt những tiêu cực khác về lưu thông tiền mặt, mà còn chủ yếu là để biến vốn sử dụng không hiệu quả thành có hiệu quả.

    Nguồn vốn nếu để riêng lẻ từng tổ chức thì nó không thể thành vốn được mà chỉ là khoản để thanh toán, còn khi nó đưa qua ngân hàng, thì nó sẽ có một khoản trở thành vốn tín dụng.

    Ví vụ khác, quy định về đi vay liên ngân hàng, chúng ta nói rằng, tiền vay liên ngân hàng, hay nói chung là đáp ứng những nhu cầu thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, nhưng điều ấy không đủ, bởi vì ở Việt Nam, hay nước ngoài, hệ thống ngân hàng có những ngân hàng bán buôn và những ngân hàng bán lẻ.

    Những ngân hàng ấy cũng có thể chuyển vốn cho những ngân hàng bán lẻ khi mà họ dư vốn thì trách nhiệm quản lý thanh khoản là của tổ chức tín dụng, chứ không phải là biến biến thị trường liên ngân hàng chỉ đơn thuần là điều tiết thanh khoản, tạm thời thiếu thanh khoản cho cho hoạt động tín dụng ngân hàng. Nó phải là một trung gian điều tiết vốn, một cái hồ điều hòa thủy lợi để bảo đảm cắt lũ khi lũ và xả nước khi chống hạn, thì mới tạo cho hệ thống này vận hành một cách suôn sẻ được.

    Tôi nói ví dụ như vậy để hình dung là những quy định đó nếu không minh bạch thì:

    Một là, khi thực hiện sẽ gây ra những khó khăn làm tăng chi phí vốn cho các hoạt động tín dụng.

    Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay giảm từ khoảng 4,5% năm 2005 xuống còn có 2,5% hiện nay. Nghĩa là dưới mức hợp lý để bù đắp chi phí và hoạt động bền vững của hệ thống ngân hàng.

    Nếu chỉ cần làm tăng thêm những chi phí - bởi vì tất cả những khoản đấy không được quy định là tiền vốn tín dụng nhưng mà tổ chức tín dụng khi nhận những khoản tiền ấy thì vẫn phải trả lãi và vẫn phải chi phí để vận hành vốn ấy - thì dẫn đến, theo tính toán của chúng tôi, rất có thể các tổ chức tín dụng chỉ sử dụng được 63% đến 65% tổng nguồn vốn mà lâu nay họ vẫn sử dụng cho hoạt động tín dụng.

    Điều này có nghĩa chi phí về vốn có thể tăng lên khoảng 30%. Khi đó, các tổ chức tín dụng không hoạt động được bình thường và chủ trương giảm lãi suất chắc chắn không thể thực hiện được, mà chỉ có thể là lãi suất phải tăng lên.

    Tổ chức tín dụng hoạt động thua lỗ thì chắc cũng phải đóng cửa phá sản và hệ thống không an toàn. Hoặc tổ chức tín dụng, muốn tồn tại thì phải luồn lách các quy định, ví dụ tiền gửi thanh toán, tài khoản tiền gửi thanh toán sẽ được thương thảo giữa người gửi và ngân hàng để chuyển tên là tiền gửi, nhưng cam kết rằng khi cần thanh toán có thể ra lệnh lấy tiền trong tài khoản đó, thì họ lách được.

    Cho nên tôi cho rằng, đấy là những quy định có thể dẫn đến làm cho chi phí hoạt động tăng lên, mà chưa chắc đã bảo đảm thực sự tuân thủ.

    Hai là, hệ thống các quy định về kế toán của chúng ta còn rất lạc hậu và chưa theo kịp chuẩn mực quốc tế. Cho nên nhiều các khoản chúng ta tính toán chưa phù hợp để đo lường mức độ rủi ro của các hợp đồng tín dụng và ngân hàng. Vì vậy sẽ còn phải làm nhiều việc khác thì mới có thể làm cho quy định này đi vào cuộc sống, ngay cả khi nó đã được chỉnh sửa một cách hợp lý.

    Nói tóm lại, tôi nghĩ rằng Thông tư 13 là một ý tưởng tốt và với việc xem xét một cách nghiêm túc, lắng nghe các ý kiến về chỉnh sửa những điểm bất hợp lý, đồng thời đưa ra một lộ trình áp dụng cụ thể đối với từng ngân hàng, trên cơ sở khám sức khỏe và đánh giá đúng cách xử lý khả năng sử dụng của nó, thì sẽ làm chuyển biến hệ thống ngân hàng theo hướng an toàn, lành mạnh hơn nhưng không gây ra những hậu quả đáng tiếc cho sự ổn định hệ thống, cũng như tăng trưởng kinh tế.

    "Tiền phải sinh ra lời"

    Mới đây, Thủ tướng *************** đã yêu cầu Ngân hàng Nhà nước kiểm tra, rà soát các nội dung trong Thông tư 13, vậy theo ông, có nên có những hướng điều chỉnh gì đối với Thông tư 13?

    Tôi cho rằng, từ nay đến lúc thông tư có hiệu lực, Ngân hàng Nhà nước có đủ thời gian để làm hai việc.

    Một là, chỉnh sửa những điểm bất hợp lý, không thực tế mà khi áp dụng sẽ không áp dụng được hoặc đẻ ra vô số những rắc rối.

    Hai là, cần có một số lộ trình tính toán xem xét thực tế của hệ thống ngân hàng, bởi vì ở Việt Nam có khoảng 100 tổ chức tín dụng, trong đó 30 chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì đơn giản hơn, còn 70 tổ chức tín dụng và công ty tài chính trong nước thì chúng ta đã biết tình trạng và có thể đưa ra những lộ trình cụ thể với từng điều khoản. Đối với tổ chức này thì lộ trình tăng đủ vốn để đạt 9%, đối với tổ chức kia có thể là vấn đề tỷ lệ sở hữu của các cổ đông… để mà xử lý, bởi không thể xử lý ngay lập tức được.

    Ngay cả tiền gửi Kho bạc Nhà nước, nói là không được tính vào nguồn huy động nhưng như vậy thì tiền gửi Kho bạc Nhà nước sẽ để ở đâu? Nếu để ở Ngân hàng Nhà nước thì trong Luật Ngân sách có quy định là tiền gửi Kho bạc thì phải gửi ở Ngân hàng Nhà nước, ở những nơi có chi nhánh Ngân hàng Nhà nước, vậy những nơi không có, ai sẽ làm dịch vụ này?

    Và Kho bạc Nhà nước tuy là thu để chi, nhưng chúng ta cũng biết là thu chưa phải là chi ngay mà có những khoản chưa thu được đã phải chi, phải ứng, vì vậy tiền gửi của Kho bạc bao giờ cũng có khoản tồn dư nhất định. Với mấy chục nghìn tỷ đồng trên hệ thống ngân hàng, nếu chúng ta không có cách sử dụng nó một cách hiệu quả thì bất lợi cho nền kinh tế.

    Tiền phải sinh ra lời để đem về lợi ích cho người sở hữu tiền và cho nền kinh tế, chứ không phải sinh lời cho những người tìm kiếm tư túi. Nhưng rõ ràng quản lý Nhà nước thì phải hướng đồng tiền ấy sinh lời. Để có điều đó thì phải có lộ trình làm việc với Bộ Tài chính về việc xử lý tiền gửi Kho bạc thế nào để cho họat động đó thông thoáng.

    Nếu từ nay đến lúc Thông tư 13 có hiệu lực mà chưa thực hiện được thì phải đưa ra một lộ trình cụ thể.

    "Tôi không ủng hộ việc đình hoãn"

    Vậy với một số điểm còn "chưa hợp lý" như ông nêu mà chưa kịp hoàn thiện thì có nên giãn hiệu lực thi hành Thông tư 13?

    Tôi không ủng hộ việc đình hoãn thực hiện Thông tư 13, bởi nếu làm như vậy, nó sẽ làm cho hiệu lực quản lý nhà nước kém đi. Nhưng thông tư có điểm bất hợp lý, thì cần chỉnh sửa, còn những điểm chưa thể thi hành được ngay nên đưa ra lộ trình.

    Và như vậy thì được cả uy tín và hiệu lực quản lý Nhà nước, đồng thời cũng để cho các tổ chức, doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi những quyết định đó, có thể điều chỉnh được các tác động một cách phù hợp.

    Xin cảm ơn ông!

    NDHMoney


    ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
    http://vneconomy.vn/20100819063042976P0C6/thu-tuong-chi-dao-ra-soat-lai-noi-dung-thong-tu-13.htm

    Thủ tướng *************** yêu cầu Ngân hàng Nhà nước kiểm tra, rà soát các nội dung báo chí nêu liên quan đến Thông tư số 13.

    Văn phòng Chính phủ vừa có công văn số 5799, 5801/VPCP - TH truyền đạt một số nội dung chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong đó có liên quan đến Thông tư số 13/2010/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước ban hành.

    Nguồn tin từ Cổng Thông tin Chính phủ cho biết, trên một số báo như Thời báo Kinh tế Việt Nam, Lao Động có đăng bài phản ánh ý kiến của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) tổng hợp kiến nghị của các ngân hàng thương mại thành viên về một số quy định “bất cập” trong Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 25/5/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (các điều 5, 16, 18...) có “ảnh hưởng lớn” đến hoạt động của các tổ chức tín dụng.

    Trước những thông tin trên, Thủ tướng *************** yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kiểm tra, rà soát các nội dung báo chí nêu, báo cáo Thủ tướng Chính phủ và đề xuất các giải pháp xử lý trước ngày Thông tư số 13/2010/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có hiệu lực thi hành (01/10/2010).
  4. Satio

    Satio Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    16/03/2010
    Đã được thích:
    233
    Hoãn đi, hoãn 6 tháng nữa, VNI còn 100, HNindex còn 40 như upcom cho nó máu.
  5. xoaness

    xoaness Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    24/08/2010
    Đã được thích:
    0
  6. hanguyen5416

    hanguyen5416 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/08/2010
    Đã được thích:
    0
    Ô HAY .SẼ THỌ THÊM 3 THÁNG CÒN GÌ. [};-[};-[};-
  7. top2008

    top2008 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    23/08/2010
    Đã được thích:
    0
    không những không hoãn mà đề nghị còn bao nhiu tin xấu tung ra hết 1 lần lun đi, xem thử cái thị trường này sẽ đi xuống hay bật lên, [r23)]:-"
  8. georgestark

    georgestark Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    23/04/2007
    Đã được thích:
    0
    ...Có...
  9. huygia60

    huygia60 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    27/06/2010
    Đã được thích:
    2
    Bác nói nghe có lý, 1 là dẹp bỏ, 2 là cứ thi hành, TT xuống thì xuống 200, 300 gì đó rồi bật lên cho NDT còn biết mình được hồi sinh, cứ tình trạng ông to này nói 1 câu mai ông to khác nói 1 câu làm NDT thêm hoang mang, có hoản rồi cũng có 1 ngày sẽ ra pháp trường thì cuộc sống lại kéo dài thêm những ngày lo sợ chứ có giúp gì hơn, có hoản cũng chẳng ai dám đu mua giá cao vì biết đâu lý do tình hình TG xấu thì TT 13 lại được mang ra áp dụng liền lập tức thì chết hết NDT.
  10. vnkitty

    vnkitty Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    10/01/2009
    Đã được thích:
    51

    bỏ phải có lộ trình, chứ bảo bỏ ngay thì vỗ mặt nhau quá [r2)]

Chia sẻ trang này