1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

UBCK xem xét triển khai các sản phẩm mới phù hợp cho TTCK trong năm 2011

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi CHUNGLOC, 27/12/2010.

Có 1150 người đang online, trong đó có 100 thành viên. 13:24 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 617 lượt đọc và 11 bài trả lời
  1. CHUNGLOC

    CHUNGLOC Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    23/12/2010
    Đã được thích:
    5.487
    CTCK nhất tâm tăng "sức khỏe" tài chính ​

    Gần 3 tháng trôi qua kể từ khi Ủy Ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) yêu cầu các CTCK “tập dượt” định kỳ hàng tháng phải báo cáo các chỉ tiêu an toàn tài chính.



    Gần 3 tháng trôi qua kể từ khi Ủy Ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) yêu cầu các CTCK “tập dượt” định kỳ hàng tháng phải báo cáo các chỉ tiêu an toàn tài chính, một tín hiệu khả quan được báo ĐTCK ghi nhận là hầu hết các CTCK đều nỗ lực triển khai “làm thử” quy định mới, nhằm gia tăng “sức khỏe” tài chính của chính mình và của toàn thị trường.

    Với diễn biến này, UBCK cho biết, muốn nhất là đầu năm 2011, Thông tư này sẽ được ban hành, qua đó tạo điều kiện cho việc triển khai các sản phẩm mới trên TTCK.
    Việc triển khai các sản phẩm mới cho TTCK, theo một lãnh đạo UBCK, chỉ có thể được thực thi khi cơ quan quản lý “rào giậu” chắc chắn các chỉ tiêu an toàn tài chính của CTCK.

    Với định hướng này, dự thảo Thông tư hướng dẫn các chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng các chỉ tiêu an toàn tài chính do UBCK xây dựng đã yêu cầu các CTCK tăng số lượng chỉ tiêu an toàn tài chính phải báo cáo UBCK lên gấp 3-4 lần so với các quy định hiện hành.
    Theo dự thảo Thông tư, chỉ tiêu an toàn tài chính của CTCK được đảm bảo dựa trên 2 trụ cột: vốn khả dụng và các giá trị rủi ro. Trong đó, vốn khả dụng là vốn mà chủ sở hữu có thể chuyển đổi thành tiền mặt trong vòng 30 ngày, đảm bảo để bù đắp rủi ro.
    Các giá trị rủi ro được tổng hợp bởi các rủi ro: hoạt động, thị trường và thanh toán. Trong khi nhìn nhận đa phần các quy định trong dự thảo khá rõ ràng, chặt chẽ, thì ý kiến của các CTCK cũng cho rằng, một số nội dung cần làm rõ hơn để đảm bảo dễ thực hiện.
    Theo bà Nguyễn Thị Thanh Hà, Giám đốc Tài chính, CTCK Sài Gòn, về cơ bản các quy định về vốn khả dụng trong dự thảo khá rõ ràng, ngoại trừ một số điểm cần làm rõ thêm.
    Đơn cử như nội dung “tài sản cố định được định giá lại” tại Khoản lg, Điều 4 cần diễn giải chi tiết hơn đó là những tài sản gì. Hay tại Khoản 4, Điều 5, dự thảo quy định một trong các chứng khoán trong chỉ tiêu đầu tư tài chính bắt buộc phải tính giảm trừ khỏi vốn khả dụng là “chứng khoán do người có liên quan phát hành”.
    Trong trường hợp này, để đảm bảo dễ áp dụng khi Thông tư có hiệu lực, Ban soạn thảo cần làm rõ người có liên quan là ai, các loại chứng khoán cụ thể mà họ phát hành được giảm trừ ra khỏi vốn khả dụng bao gồm những chứng khoán nào...
    Một nội dung chưa rõ khác trong dự thảo khi quy định về các giá trị rủi ro được mộts số CTCK đề nghị Ban soạn thảo làm rõ là tại Khoản 2a, Điều 7. Theo đó, dự thảo quy định: “chi phí duy trì hoạt động của tổ chức kinh doanh chứng khoán bằng tổng chi phí phát sinh trong kỳ, trừ đi các chỉ tiêu tài sản: chi phí khấu hao và các khoản chi phí không bằng tiền khác...”.
    Để dễ áp dụng quy định này, Ban soạn thảo cần làm rõ “các khoản chi phí không bằng tiền khác” là các khoản chi phí nào khi tính toán chỉ tiêu chi phí duy trì hoạt động của tổ chức kinh doanh chứng khoán.

    Cũng cần quy định rõ: “chi phí duy trì hoạt động bình quân hàng tháng” nêu tại Khoản 3, Điều 7 dự thảo. Theo đó, khoản chi phí này được tính trên cơ sở số liệu chi phí hàng tháng, tính từ khi tổ chức kinh doanh chứng khoán đi vào hoạt động hay là trong vòng bao nhiêu tháng liền kề tính tới tháng gần nhất.
    Một điểm chưa hợp lý nữa trong dự thảo, theo bà Hà, là quy định “trái phiếu công trình được Chính phủ bảo lãnh...” có hệ số rủi ro 8%, bởi không nên đánh đồng các loại trái phiếu còn thời gian đáo hạn khác nhau.

    Để có cơ sở xác định hệ số rủi ro hợp lý hơn, dự thảo nên phân loại chi tiết các loại trái phiếu theo thời hạn, chẳng hạn đối với loại trái phiếu có thời hạn còn lại rất ngắn (2 tháng, 3 tháng)... thì hệ số rủi ro nên là 0%.

    Tương tự, cũng nên phân loại trái phiếu DN thành trái phiếu DN thông thường và trái phiếu DN là tổ chức tín dụng. Theo đó đối với trái phiếu DN là tổ chức tín dụng có thời hạn còn lại rất ngắn, ví dụ như 1 ngày, 1 tuần... nên có hệ số rủi ro thị trường thấp hơn hoặc bằng 0...
    Theo tìm hiểu của ĐTCK, kể từ tháng 9, các CTCK ngoài phải nộp báo cáo chỉ tiêu an toàn tài chính định kỳ hàng tháng về UBCK còn phải nộp các báo cáo từ tháng 6, 7, 8/2010.

    Tuy phải chịu trách nhiệm nặng nề hơn về nghĩa vụ lập báo cáo, đồng thời chịu sự giám sát gắt gao hơn của UBCK, nhưng đây là yêu cầu tất cả các CTCK phải thực hiện, hơn nữa quy định này không chỉ có tác dụng khám “sức khỏe” cho các CTCK mà còn có thể giúp TTCK "khoẻ hơn". Trong quá trình "làm thử", các CTCK đều có ý thức chấp hành quy định này.
    Một lãnh đạo UBCK cho biết, dự thảo Thông tư đang trong giai đoạn hoàn thiện và dự kiến chậm nhất trong 1/2011 sẽ được ban hành. Trên cơ sở theo dõi, đánh giá hiệu quả các CTCK thực hiện quy định mới về an toàn tài chính. UBCK sẽ xem xét triển khai các sản phẩm mới phù hợp cho TTCK trong năm 2011
    Theo Hữu Hòe​
    ĐTCK




    đói quá rồi.
    ​


    ​
  2. CHUNGLOC

    CHUNGLOC Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    23/12/2010
    Đã được thích:
    5.487
    em được ra tù :))[r2)][r2)][r2)][r2)][r2)][r2)][r2)]
  3. LaohacHCM

    LaohacHCM Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    18/04/2009
    Đã được thích:
    0
    Chẳng biết cái dịch vụ hay quy định thế nào, chỉ biết năm nay vỡ mồm vì ck mà vẫn phải nộp thuế "thu nhập ck". Thật nực cười.
  4. CHUNGLOC

    CHUNGLOC Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    23/12/2010
    Đã được thích:
    5.487

    chấp nhận thôi bác kinh doanh đầu tư thì phải nộp thuế.:((:((:((:((:((
  5. bh_dn

    bh_dn Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    23/05/2010
    Đã được thích:
    0
    Biết rùi khổ lắm nói mãi. Năm rùi có làm được gì đâu.
    Bây giờ toàn thi nhau chém gió.
  6. CHUNGLOC

    CHUNGLOC Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    23/12/2010
    Đã được thích:
    5.487
    [​IMG]Tăng trưởng tín dụng 2010: “Xanh vỏ, đỏ lòng”








    [​IMG] Nhìn lại tăng trưởng tín dụng năm 2010 ở kết quả chung, cơ cấu, tốc độ của các lĩnh vực và cả trạng thái “xanh vỏ, đỏ lòng”.

    Con số chính thức đã được Ngân hàng Nhà nước công bố. Không nhiều bất ngờ ở kết quả chung, nhưng có những chuyển động đáng chú ý trong cơ cấu.

    SMEs lên ngôi, phi sản xuất sụt mạnh

    Tính chung cả năm 2010, tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng ước khoảng 27,65% (đã loại trừ hư số tăng của tỷ giá và giá vàng). Như vậy, nếu đặt trong lo ngại tín dụng tăng chậm trong nửa đầu năm, con số cuối cùng đã cho câu trả lời vượt cả dự tính, cao hơn đáng kể so với chỉ tiêu dự kiến hồi đầu năm (khoảng 25%).

    Trong suốt quá trình cả năm, nhiều lần lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước đưa ra khẳng định tốc độ tăng trưởng tín dụng là phù hợp với bối cảnh của nền kinh tế và chỉ tiêu định hướng. Mức 27,65% là thấp nhất trong ba năm trở lại đây, thấp hơn nhiều so với mức tăng 37,73% của năm 2009.

    Xét theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, tốc độ tăng trưởng tín dụng theo các phân vùng đã có những chuyển động hợp lý: khuyến khích tín dụng cho sản xuất kinh doanh, hạn chế tín dụng ở các mảng nhạy cảm như đầu tư chứng khoán, đầu tư kinh doanh bất động sản. Và điểm nổi bật trong năm 2010 là sự lên ngôi của tín dụng phục vụ khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs).

    Trong các phân vùng được tính toán, tín dụng đối với khối SMEs có tốc độ tăng cao nhất. Năm 2010 ghi nhận mức tăng ước đạt 30,2%, cao hơn hẳn so với các lĩnh vực hoặc nhóm đối tượng khác, cao hơn mức bình quân 28% ước tính cho ba năm gần nhất. Một dữ liệu chưa đủ đại diện cho khả năng lớn mạnh của nhóm đối tượng này trong năm 2010, nhưng được gắn với tỷ trọng khoảng 90% tổng số doanh nghiệp Việt Nam hiện có.

    Điểm nhấn thứ hai trong tốc độ tăng trưởng tín dụng gắn với lĩnh vực phi sản xuất. Lĩnh vực này gắn với hoạt động đầu tư, kinh doanh chứng khoán, bất động sản và tín dụng tiêu dùng. Kết quả năm 2010 cho thấy tốc độ tăng tín dụng ở nhóm này chỉ còn 27,2%, gần với mức tăng trưởng chung, nhưng đã thấp hơn rất nhiều so với tốc độ của năm 2009 (41,74%) và chỉ chiếm tỷ trọng 18,9% trong tổng cơ cấu dư nợ của hệ thống.

    Một mảng tín dụng được các ngân hàng tập trung, thường được ưu đãi hơn, trong năm 2010 là tín dụng hỗ trợ xuất khẩu, tốc độ tăng là 26,2%. Mảng tín dụng đối với nông nghiệp và nông thôn vẫn khá khiêm tốn khi tăng 23,2%.

    “Xanh vỏ, đỏ lòng”

    Nếu nhìn ở mẫu số chung, tăng trưởng tín dụng năm 2010 cao hơn chỉ tiêu những không quá xa, không có sự đột biến như từng có trong năm 2009 hay 2007, 2004 hay 2000 trong chuỗi so sánh những năm gần đây. Tuy nhiên, trong cơ cấu lại có sự đột biến và đi cùng với sự lo ngại mà giới phân tích đưa ra trong suốt năm 2010 này.

    Đó là sự tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ, áp đảo so với bằng VND và khác thường so với những năm gần đây. Năm 2010, tăng trưởng tín dụng bằng VND là 25,34%, trong khi bằng ngoại tệ lên tới 37,76%. Nếu nhìn lại năm 2009, suốt nửa đầu năm là trạng thái tăng trưởng âm của tín dụng ngoại tệ, thì năm 2010 là sự đột biến ngay từ những tháng đầu tiên.

    Đã có nhiều lý giải về trạng thái trên, đặc biệt là sau chính sách hỗ trợ lãi suất kích cầu chấm dứt, lãi suất vay vốn bằng VND tăng mạnh trở lại và tạo một chênh lệch lớn khi so sánh tương quan lợi ích với vay vốn bằng USD. Bên cạnh đó, việc Ngân hàng Nhà nước mở rộng thêm đối tượng được vay vốn bằng ngoại tệ cũng là một lý do. Trạng thái “ngủ yên” của tỷ giá bình quân liên ngân hàng (cũng như niêm yết tại các ngân hàng) trong gần 7 tháng liên tiếp đã tạo sự ổn định trong tâm lý để góp phần kích thích nhu cầu vay ngoại tệ…

    Tuy nhiên, hệ lụy cũng đã được nhiều phân tích đặt ra. Đó là những cảnh báo về về một nguồn cung “ảo” trên thị trường ngoại hối, khi một lượng tín dụng ngoại tệ quy đổi sang VND để đưa vào sản xuất kinh doanh. Điều này cũng góp phần lý giải khi thị trường ngoại hối có hiện tượng hiếm thấy: có thời điểm tỷ giá tự do thấp hơn tỷ giá chính thống. Nhưng khi các hợp đồng vay ngoại tệ đáo hạn, nguồn cung ảo đó hạn chế và đối nghịch ở áp lực mua ngoại tệ trả nợ đã góp phần thổi bùng cơn sốt tỷ giá vừa qua, khi mà lịch sử thị trường ghi nhận chênh lệch giữa giá USD trên thị trường tự do với thị trường chính thức tới khoảng 2.000 VND.

    Phía sau trạng thái này, từ cuối tháng 6/2010, Ngân hàng Nhà nước đã liên tục đưa ra loạt giải pháp hạn chế tín dụng ngoại tệ tăng trưởng nóng. Nhưng kết quả mức tăng 37,76% chung của cả năm vẫn là một hiện tượng.

    Trở lại với con số 27,65% tăng trưởng tín dụng cả năm, có một bất ngờ khi đặt trong bối cảnh hoạt động của hệ thống ngân hàng, các điều kiện vay vốn của doanh nghiệp, người dân: tốc độ tăng trong quý 4 vẫn khả quan, nếu không nói là khá mạnh.

    Cụ thể, trong quý 4, tăng trưởng tín dụng hàng tháng bình quân ở mức 2,53%/tháng, gần với mức bình quân của quý 2 và 3 là 2,72%/tháng, cao hơn hẳn so với bình quân tháng của quý 1 là 1,26%/tháng. Mức 2,53%/tháng là bất ngờ khi thị trường dồn dập đón những biến động mạnh với sự gia tăng mạnh của lãi suất, cũng như căng thẳng về nguồn vốn “có vẻ” được biểu hiện ở sự quyết liệt trong hoạt động gọi vốn của các nhà băng, cũng như sự nóng lên ở một số thời điểm trên thị trường liên ngân hàng. Rõ ràng, trong bối cảnh đó, tín dụng vẫn không co lại.

    Một điểm nữa khi xét tới trạng thái “xanh vỏ, đỏ lòng” của tăng trưởng tín dụng năm nay là sự co hẹp của tỷ lệ chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay bình quân. Nếu tăng trưởng tín dụng chung vượt chỉ tiêu, kỳ giải ngân tưởng như khó khăn trong quý 4 vẫn có tốc độ tốt, thì lãi biên co hẹp khiến hoạt động của các ngân hàng trở nên chật vật hơn.

    So sánh cho thấy, trong năm 2010, chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động bình quân chỉ còn khoảng 2,5%/năm; thấp hơn nhiều so với những năm về trước như năm 2008 là 4,62%/năm, 4,45%/năm trong năm 2007, 4,63%/năm trong năm 2006 hay trong năm 2005 có thấp hơn nhưng vẫn được 3,42%/năm.

    Tại phiên giải trình về lãi suất do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tổ chức sáng 25/12, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu nói rằng: “Nếu lãi suất huy động và cho vay chênh lệch từ 2,2 - 2,5% thì các ngân hàng thương mại còn chịu đựng được, còn thấp hơn nữa thì rất dễ thương tổn”.

  7. CHUNGLOC

    CHUNGLOC Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    23/12/2010
    Đã được thích:
    5.487

    có lẽ phải lập ra hiệp hội ndt nhỏ lẻ trên ttck để có tiếng nói 12 tháng 1 nhiệm kỳ .bình trọn qua số tài khoản đang hoạt động :)):)):)):))
  8. LeMinh2040

    LeMinh2040 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    06/12/2010
    Đã được thích:
    0
    Oke, Chủ tịt hiệp hội nhà đầu tư nhỏ lẻ có trách nhiệm trình với Chính phủ & Quốc hội miễn thuế giao dịch CK cho các nhà đầu tư lỗ chổng cẳng lên dzời.........
  9. Kooler

    Kooler Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    26/01/2008
    Đã được thích:
    1

    Thế nào năm mới cũng ra vài sản phẩm để thu phí bác yên tâm đi... hic
  10. CHUNGLOC

    CHUNGLOC Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    23/12/2010
    Đã được thích:
    5.487

    đây là đồng tiền xương máu tại sao chúng ta ko đòi hỏi những gì chính đáng hợp pháp :)):)):)):)):)):))

Chia sẻ trang này