1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Vietcombank để ngỏ hạn công bố cổ đông chiến lược

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi kekhatgai, 23/10/2007.

709 người đang online, trong đó có 137 thành viên. 21:24 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 2711 lượt đọc và 33 bài trả lời
  1. kekhatgai

    kekhatgai Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/02/2007
    Đã được thích:
    3
    Thứ hai, 19/11/2007, 17:01 GMT+7

    Vietcombank đổi lịch IPO vì chưa hài lòng về giá đàm phán

    Vietcombank sẽ thực hiện chào bán lần đầu ra công chúng (IPO) ngay tháng 12, trước khi bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược. Tại cuộc gặp báo chí trưa nay, lần đầu tiên lãnh đạo ngân hàng xác nhận những thay đổi quan trọng trong lộ trình cổ phần hóa.
    > VCB sẽ IPO trước khi chọn nhà đầu tư chiến lược / Khối ngoại dè dặt trước IPO của các ''đại gia''

    Theo bà Nguyễn Thu Hà, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), từ nay đến cuối năm, ngân hàng sẽ công bố giá trị doanh nghiệp, thực hiện IPO và sau đó công bố nhà đầu tư chiến lược.

    Trước đây, Vietcombank dự kiến bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài trước, rồi mới bán đấu giá công khai trong nước. Tại cuộc gặp trưa nay, đại diện Vietcombank cho hay, kế hoạch đó chưa đáp ứng được kỳ vọng của Chính phủ và Vietcombank, nhất là về giá.

    "Giá bán cho đối tác chiến lược sẽ phải cân đối hài hòa lợi ích của nhà nước, đối tác chiến lược và các nhà đầu tư nhỏ lẻ", bà Hà khẳng định.

    Bà Nguyễn Thu Hà cũng cho biết, giá khởi điểm sẽ căn cứ vào tình hình thị trường, giá đấu của các ngân hàng và tổ chức tài chính mới thực hiện IPO, cũng như giá cổ phiếu của các ngân hàng đã niêm yết. Bên cạnh đó, còn dựa vào tư vấn của Credit Suisse, đơn vị đã được chọn làm nhà tư vấn tài chính cho Vietcombank trong cổ phần hóa.


    Vietcombank sẽ đáu giá công khai trong nước 6,5% cổ phần.
    Ảnh: Hoàng Hà

    Tới đây Ngân hàng Nhà nước sẽ công bố giá trị doanh nghiệp của Vietcombank. Hiện vốn chủ sở hữu trước cổ phần hóa của Vietcombank theo kết quả kiểm toán là 11.000 tỷ đồng. Dự kiến sau khi cổ phần hóa, Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam sẽ có vốn điều lệ 15.000 đồng. Theo kế hoạch, Vietcombank sẽ phát hành tổng khối lượng cổ phần trong giai đoạn thứ nhất là 30%, trong đó dành cho đấu giá công khai 6,5%, tương đương gần 1.000 tỷ đồng.

    Ông Nguyễn Phước Thanh, Tổng giám đốc Vietcombank, cho hay hiện ngân hàng này chưa đàm phán lại với các đối tác chiến lược. "Sau khi thực hiện IPO, Vietcombank sẽ có cơ sở để đặt lại vấn đề với các nhà đầu tư chiến lược", ông Thanh nói. Tuy nhiên, ông cũng cho rằng, giá đấu lần đầu sẽ quyết định một phần, bởi nhiều yếu tố khác cũng có vài trò quan trọng.

    Dự kiến Vietcombank sẽ công bố giá trị doanh nghiệp và giá khởi điểm 20 ngày trước khi thực hiện IPO. Ngân hàng này cũng sẽ tổ chức các buổi gặp mặt nhà đầu tư (roadshow) tại Hà Nội và TP HCM để trình bày và giải thích về quy trình IPO.

    Giới đầu tư gần đây truyền đi thông tin Vietcombank đàm phán với 3 nhà đầu tư chiến lược là các tập đoàn tài chính Nomura, Goldman Sachs và General Electric. Từ 3 ứng viên này, ngân hàng sẽ lựa chọn 2 cổ đông chiến lược.

    Tuy nhiên, đại diện Vietcombank khẳng định, thông tin này không chính xác. Goldman Sachs không tham gia đàm phán, và Nomura cũng không đứng tên một mình để tham gia.

    Kể từ khi có thông tin Vietcombank thay đổi lộ trình cổ phần hóa, giới đầu tư và các chuyên gia không ngớt bàn tán về giá dự kiến trong đợt IPO của đại gia ngân hàng này. "Nếu Vietcombank thực hiện IPO vào tháng 12 tới, giá đấu thành công chắc chắn sẽ phải trên 10 chấm", ông Hoàng, nhà đầu tư sàn Công ty cổ phần chứng khoán Đại Việt thử làm "thày bói".

    Theo ông Hoàng, nếu chỉ tính về thương hiệu, cổ phiếu Vietcombank cũng đã hơn hẳn hai cổ phiếu ngân hàng đang niêm yết là ACB và STB. Trong khi đó, giá khớp lệnh ACB tính tới ngày 16/11 đã là 169.000 đồng.

    "Hơn nữa Vietcombank chỉ đấu lần đầu 1.000 tỷ đồng mệnh giá cổ phần, tham gia đấu giá không chỉ nhà đầu tư cá nhân mà còn có các tổ chức cũng như ngân hàng thương mại khác. Cạnh tranh rất dữ", ông Hoàng nói.

    Một nhà đầu tư mở tài khoản tại Công ty cổ phần chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho hay, không ít ý kiến đoán giá đấu thành công từ 120.000 đến 150.000 đồng một cổ phiếu. Thậm chí, ông cho rằng nếu từ nay đến ngày đấu giá thị trường chứng khoán sôi động trở lại, chắc chắn giá đấu thành công không dừng lại ở 15 "chấm".

    Trong khi đó, giới chuyên gia lại rất thận trọng. Chuyên gia chứng khoán Huy Nam cho rằng, rất khó đưa ra giá chính xác, bởi ngân hàng này chưa đưa ra giá khởi điểm. Hơn nữa, giá đấu thành công còn phải dựa trên nhiều yếu tố, trong đó có hiệu quả kinh doanh của nhà băng. Ông Nam cho rằng, nếu xét về lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) đang chiếm ưu thế, bởi lợi nhuận dẫn đầu khối ngân hàng thương mại cổ phần.

    Bạn trả giá cổ phiếu VCB bao nhiêu?


    Dưới 50.000 đồng

    50.000-100.000 đồng

    100.000-150.000 đồng

    Trên 150.000 đồng








    Ý kiến khác?
    Tuy nhiên, ông Huỳnh Anh Tuấn, đại diện Công ty chứng khoán Ngân hàng Á Châu (ACBS) cùng ý các nhà đầu tư lẻ, khi cho rằng Vietcombank có lợi thế vì đang dẫn đầu thị trường về thương hiệu và thị phần. Nhận định của ông Tuấn là nhà đầu tư đang rất mong chờ cổ phiếu Vietcombank. Trong khi đó, ngân hàng này đưa ra 1.000 tỷ đồng mệnh giá cổ phần, nên sẽ rất dễ xảy ra tình trạng nhà đầu tư trả giá cao để dễ trúng thầu. Giá đấu bình quân cổ phiếu vì vậy cũng bị đẩy lên cao.

    Nhà đầu tư nào, nội hay ngoại, sẽ trả giá cao hơn cho Vietcombank cũng trở thành đề tài bàn tán xôn xao trong giới kinh doanh. Theo nhiều chuyên gia chứng khoán, nhà đầu tư nước ngoài sẽ khó chấp nhận trả giá cao để trở thành cổ đông chiến lược của Vietcombank.

    Chuyên gia chứng khoán Huỳnh Thế Du dẫn ví dụ trường hợp của láng giềng là Ngân hàng Công thương Trung Quốc (ICBC), nhà băng lớn nhất thế giới về giá trị thị trường hiện nay (300 tỷ USD).

    Cách đây hơn một năm, Goldman Sachs và 2 nhà đầu tư khác chỉ chấp nhận bỏ ra 3,8 tỷ USD để có được 10% cổ phần của ICBC. Trong khi giá trị thị trường của ngân hàng này thời điểm đó đã lên đến gần 130 tỷ USD. Trước đó, 10% cổ phần của Ngân hàng xây dựng Trung Quốc và Ngân hàng Trung Quốc lần lượt cũng chỉ có giá 2,7 và 3 tỷ USD.

    Theo ông Du, đối tác ngoại khó có thể chấp nhận bỏ ra một vài tỷ USD để sở hữu 10% vốn một ngân hàng có quy mô về tài sản chỉ nhỉnh hơn 1,1% của ICBC (tổng tài sản của ICBC vào khoảng gần 900 tỷ USD, trong khi Vietcombank hơn 10 tỷ USD). Thêm vào đó, nếu dựa vào nền kinh tế hiện tại thì giá trị thực của VCB chỉ vào khoảng 3,5 tỷ USD. 5 năm nữa, con số này chỉ khoảng 7 tỷ USD.

    Cũng có những lo lắng của giới kinh doanh chứng khoán trong nước là để không phải trả giá Vietcombank cao, rất có thể nhà đầu tư nước ngoài sẽ tìm cách ghìm thị trường để hưởng giá đấu bình quân thấp. Tuy nhiên, ông Huỳnh Anh Tuấn cho rằng, nhà đầu tư ngoại không thể liên kết với nhau để làm điều này vì lực lượng đồng nghiệp nội hiện nay cũng rất mạnh. Hơn nữa, nếu Vietcombank đưa cổ phần ra đấu giá vào tháng 12, có thể thị trường đã khởi sắc.

    Ánh Hồng - Nguyễn Minh
  2. kekhatgai

    kekhatgai Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/02/2007
    Đã được thích:
    3
    Được - mất từ IPO Vietcombank

    Nếu để sự kỳ vọng quá mức sẽ dẫn đến giá cổ phiếu bong bóng, thì thiệt hại thường nghiêng về những nhà đầu tư nhỏ lẻ ít thông tin


    Vietcombank sở hữu những toà nhà lớn ở những vị trí rất đắc địa. Ảnh : A.Q

    Tham khảo các văn bản về cổ phần hoá sẽ thấy rất rõ mục tiêu quan trọng nhất của việc này là ?ođể huy động vốn của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế?.

    Đường đến mục tiêu

    Muốn đạt được mục tiêu đặt ra, hai vấn đề cần quan tâm hơn cả trong quá trình cổ phần hoá là: (1) lựa chọn đúng các nhà đầu tư chiến lược và (2) thay đổi phương thức quản lý, cách thức quản trị doanh nghiệp để khuyến khích đội ngũ nhân sự phát huy tối đa khả năng, cùng nhau tạo ra lợi nhuận lớn nhất cho doanh nghiệp mà nó thường đồng nghĩa với việc tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

    Đối tác chiến lược được hiểu là những tổ chức am hiểu và có uy tín trong lĩnh vực doanh nghiệp muốn chọn để phát triển. Việc có đối tác chiến lược thường làm cho doanh nghiệp tốt hơn. Chính vì lý do này mà sau khi chọn đối tác chiến lược xong, doanh nghiệp mới có thể thuyết phục được công chúng rằng tôi có những đối tác tin cậy đứng sau lưng nên mọi người cứ yên tâm bỏ tiền vào và sẽ có được mức sinh lợi như kỳ vọng.

    Trong trường hợp IPO trước chọn đối tác chiến lược sau thì công chúng khó mà biết được chiến lược cụ thể như thế nào. Do vậy, với những kỳ vọng hợp lý, mức giá công chúng chấp nhận trả sẽ thấp hơn. Ví dụ, trường hợp của Vietcombank nếu chọn General Electric thì khác mà Nomura sẽ khác. Hơn thế, trong trường hợp này công chúng lại càng không biết vì chắc gì những tổ chức trên chấp nhận mức giá được đẩy lên do sự kỳ vọng bất hợp lý nhất thời, cao hơn nhiều mức giá đã chào trên cơ sở phân tích cẩn thận.

    Khi hai công việc quan trọng nêu trên được thực hiện một cách chu đáo thì IPO chỉ là một công đoạn cần phải hoàn tất. Việc bán được với giá bao nhiêu không phải là vấn đề lớn, mà điều quan tâm hơn cả là trong tương lai doanh nghiệp có thể tạo ra nhiều lợi nhuận hay không. Tuy nhiên, cũng không được nới lỏng quá trình cổ phần hoá để tạo kẽ hở cho những kẻ cơ hội đánh cắp tài sản của nhà nước và nhân dân.



    Lợi ích nhà nước và nhà đầu tư có giống nhau?

    Đối với các nhà đầu tư, mục tiêu duy nhất của họ là kinh doanh kiếm lời nên giá được tham chiếu chính là giá tài chính hiển thị hàng ngày trên thị trường.

    Ngược lại đối với nhà nước, người điều hành nền kinh tế, giá được tính ở đây là giá kinh tế. Trong trường hợp cụ thể này là làm sao để Vietcombank trở thành một ngân hàng mạnh, Việt Nam có được một hệ thống tài chính phát triển, phân bổ vốn tốt cho nền kinh tế.

    Do vậy, việc các nhà đầu tư chiến lược thực thụ có thể nhìn đúng giá trị doanh nghiệp, chào một mức giá hợp lý và họ có thể giúp VCB mạnh lên thì nên chọn kẻo lỡ mất cơ hội. Vấn đề ở chỗ là động cơ của các nhà đầu tư chiến lược. Liệu họ có thực sự muốn cùng hội cùng thuyền với VCB hay chỉ là những ?onhà đầu cơ chiến lược? cố ép để mua được giá thấp sau đó bán ra lúc thị trường đang bong bóng.

    Thực ra, nếu sợ chọn nhầm, Việt Nam hoàn toàn có thể đưa ra các điều kiện ràng buộc như: không được bán cổ phiếu trong thời gian 5 năm và từ năm thứ 5 đến năm thứ 10, nếu nhà đầu tư chiến lược muốn bán cổ phiếu thì họ phải bán lại cho tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) và chỉ được hưởng mức sinh lợi tối đa bằng lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm.

    Việc lập luận bảo vệ lợi ích các nhà đầu tư nhỏ lẻ chỉ đúng nếu chọn nhầm ?onhà đầu cơ chiến lược?. Ngược lại, nếu để sự kỳ vọng quá mức xảy ra dẫn đến giá cổ phiếu bong bóng thì thiệt hại thường nghiêng về những nhà đầu tư nhỏ lẻ ít thông tin hơn.

    Mặt khác, dưới góc độ toàn xã hội, khi mà giá chứng khoán quá xa với giá trị thực của nó, Nhà nước cần phải có những chính sách để cho nó trở về với giá trị thực nhằm tránh những sự đổ vỡ gây bất trắc cho toàn nền kinh tế.



    Những bài học đắt giá

    Khi mọi thứ đang ở trạng thái hưng phấn, cả bong bóng bất động sản và bong bóng chứng khoán đã bị đẩy lên đến độ mà vào những năm đầu thập niên 1990, người ta ước tính rằng giá trị thị trường (GTTT) thành phố Tokyo của Nhật có thể mua được cả nước Mỹ. Tuy nhiên, kể từ đó, chỉ số chứng khoán giảm hơn một thập kỷ từ 40.000 xuống dưới 8.000 và giá bất động sản giảm suốt 17 năm đã đẩy nền kinh tế Nhật Bản vào vô số rắc rối.

    Thái Lan cũng có những kinh nghiệm xương máu khi mà giai đoạn 1986 - 1993 chỉ số chứng khoán mỗi năm tăng 45,5% để rồi bốn năm sau đó mỗi năm chỉ số này giảm gần một nửa. Cuộc khủng hoảng năm 1997 - 1998 là bài học rất đắt giá (xem biểu đồ).

    Câu chuyện về sự kỳ vọng quá mức của công chúng dường như đang xảy ra ở Trung Quốc. Ví dụ, GTTT của PetroChina gấp đến ba lần ExxonMobil, trong khi lợi nhuận chỉ bằng phân nửa; hay lợi nhuận của ICCB chỉ bằng 1/5 và tổng tài sản chỉ bằng một nửa của Citi, nhưng GTTT hiện nay cũng gần gấp đôi. Chỉ số chứng khoán và bất động sản tăng chóng mặt, Trung Quốc lo ngại nguy cơ lặp lại vết xe đổ của Nhật Bản.

    Quan sát sự thay đổi của một số chỉ số chứng khoán cho thấy, trong 93 năm qua, bình quân mỗi năm chỉ số Nikkei của Nhật chỉ tăng 7,21%, chỉ số S&P 500 của Mỹ là 5,2% trong 100 năm và chỉ số SET của Thái Lan đạt 6,7% trong 32 năm. Việt Nam và Trung Quốc sẽ như thế nào nếu so sánh với Nhật Bản và Thái Lan? (xem biểu đồ)

    Đối với Việt Nam, việc có được những thành công như các nước khác là điều mong muốn, nhưng để rơi vào những rắc rối tương tự là điều không tốt chút nào. Do vậy, khi đã thấy được những nguy cơ, Nhà nước cần có những giải pháp nhằm giảm thiểu chúng chứ không nên vì một vài vấn đề trước mắt mà đưa ra những chính sách có khả năng làm trầm trọng thêm vấn đề.

    Việc đổi cách thức cổ phần hoá Vietcombank có thể tăng được một ít tiền khi IPO, nhưng sẽ không có lợi vì: (1) khó có khả năng chọn được những người trợ giúp tốt để tạo ra một ngân hàng mạnh và (2) có thể tạo ra một làn sóng kỳ vọng b­ất hợp lý mới.

    Vì lợi ích của cả nền kinh tế, các quyết định nên dựa vào bản chất và mục tiêu dài hạn chứ không nên dựa vào những kỳ vọng bất hợp lý trước mắt. Không khéo cơ hội đưa thị trường chứng khoán Việt Nam về đúng bản chất để nó phát triển lành mạnh sẽ bị bỏ lỡ!

    Huỳnh Thế Du
  3. kekhatgai

    kekhatgai Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/02/2007
    Đã được thích:
    3
    Đối tác chiến lược trả giá quá thấp?

    Sau những phiên đàm phán bất thành với các đối tác chiến lược về giá bán cổ phần, Vietcombank và những người có thẩm quyền đã quyết định không theo tiến trình phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) sau khi đã chọn được các nhà đầu tư chiến lược mà làm ngược lại như Bảo Việt đã làm với điều kiện giá bán thấp nhất cho các đối tác chiến lược phải bằng giá bán bình quân khi IPO

    Việc đổi cách thức thực hiện được người đại diện của VCB giải thích rằng do đối tác chiến lược trả giá quá thấp có khả năng tổn hại đến tài sản nhà nước và lợi ích của các nhà đầu tư nhỏ.

    Với những thông tin trước đây được đăng tải trên các báo thì giá mà các nhà đầu tư chiến lược đã trả dao động từ 43 - 65 ngàn đồng/cổ phiếu, hay 4 - 6 tỉ đô la cho giá trị của VCB. Đây là giá quá thấp?

    So sánh với toàn bộ 304 ngân hàng có tổng tài sản lên đến 47.830 tỉ đô la, tương đương với một lần GDP toàn cầu năm 2006 được liệt kê trong danh sách 2.000 doanh nghiệp lớn nhất thế giới của Forbes 2006 sẽ thấy phần nào bức tranh về giá trị thực của VCB cũng như các ngân hàng Việt Nam (bảng 2).

    Nhìn vào các chỉ tiêu về suất sinh lợi, quy mô?, về cơ bản các ngân hàng Việt Nam và Trung Quốc không có gì đặc biệt so với các ngân hàng khác trên thế giới, nhưng tỷ lệ GTTT so với lợi nhuận (P/E) hay so với tổng tài sản của các ngân hàng hai nước này lại đặc biệt cao. Điều này cho thấy, có vẻ như chúng đang được định giá quá cao so với giá trị dựa trên khả năng tạo ra lợi nhuận. Trong đó, GTTT của các ngân hàng Việt Nam có vẻ phi lý hơn khi mà chúng bằng từ 50 - 70% tổng tài sản ước tính vào cuối năm 2007.

    Thực ra, nếu VCB tương đương mức bình quân của 20 ngân hàng có tổng tài sản từ 8,4 - 13,8 tỉ đô la, nghĩa là GTTT bằng 29,3% tổng tài sản thì giá trị của ngân hàng này chỉ khoảng 3,5 tỉ đô la; nếu tương đương 35 ngân hàng có tổng tài sản bình quân 13,04 tỉ đô la (bằng TTS ước tính vào cuối năm 2007 của VCB) thì con số chỉ là 2,81 tỉ đô la và 3,4 tỉ đô la so với 150 ngân hàng có TTS bình quân 21,5 tỉ đô la (tương đương với kế hoạch giai đoạn 2015 - 2020 của VCB).

    Mặt khác, nếu P/E của các ngân hàng Việt Nam ở mức hợp lý và dao động từ 15 - 20 thì giá trị của VCB chỉ vào khoảng 3 - 4 tỉ đô la. Thêm vào đó, ngoại trừ ngân hàng Trung Quốc và Rakyat - thực chất là một tổ chức tín dụng vi mô, GTTT của các ngân hàng còn lại chỉ bằng khoảng 1/5 TTS. Nếu ở mức này, giá trị của VCB chỉ vào khoảng 2,5 tỉ đô la. Nếu coi VCB có nhiều tiềm năng hơn và tỷ số này lên đến 1/3 con số cũng chỉ khoảng 4 tỉ đô la. Ngay cả khi giả định tỷ số giữa GTTT so với tổng tài sản của VCB tương đương với các ngân hàng Trung Quốc thì giá trị của nó cũng chỉ bằng phân nửa mức giá gấp 10 lần mệnh giá hay 100 nghìn đồng cho một cổ phiếu.

    So sánh với quy mô nền kinh tế và hệ thống tài chính toàn cầu cũng có được con số tương tự (bảng 2).

    Nếu xem quy mô ngành tài chính nói chung, ngân hàng nói riêng của Việt Nam so với mức bình quân chung của thế giới (so với GDP) thì giá trị của các ngân hàng Việt Nam chỉ vào khoảng 8 tỉ đô la và hệ thống tài chính là 14,5 tỉ đô la. Nếu xem tiềm năng các ngân hàng Việt Nam ở mức gấp đôi so với bình quân chung của thế giới (tương đương Malaysia hay Singapore) thì giá trị hệ thống ngân hàng chỉ vào khoảng 15 tỉ đô la và giá trị hệ thống tài chính khoảng 29 tỉ đô la, tương đương với 21% và 41% GDP năm 2007.

    Giả sử cho dù chỉ chiếm khoảng 15% tổng tài sản của hệ thống ngân hàng Việt Nam, nhưng VCB chiếm 25% thị phần lợi nhuận thì ứng với hai con số nêu trên, giá trị của ngân hàng cũng chỉ khoảng 2 - 4 tỉ đô la.

    Như vậy, cho dù tính toán như thế nào chăng nữa với những giả định lạc quan thì giá trị theo khả năng làm ra lợi nhuận của VCB cũng chỉ từ 3 - 4 tỉ đô la nếu dựa vào nền kinh tế hiện tại và chưa đến 7 tỉ đô la nếu dựa nào nền kinh tế năm 2010. Ngoài ra, nếu sử dụng mô hình chiết khấu lợi nhuận tiềm năng dựa trên nền kinh tế thì giá trị của VCB cũng cho con số tương tự.

    Cũng có người cho rằng VCB có nhiều bất động sản ở những vị trí rất đắc địa nên giá trị của nó phải cao hơn rất nhiều. Tuy nhiên, các tài sản này không phải là nguồn mang lại dòng tiền cho ngân hàng nên phải hết sức cẩn thận khi đưa vào tính toán. Hơn thế, nếu ai đã từng đến Singapore thì sẽ thấy các bất động sản của ngân hàng UOB là như thế nào, nhưng GTTT của ngân hàng này cũng chỉ bằng 20% tổng tài sản. Bao nhiêu năm nữa VCB mới có thể đạt được quy mô bằng 1/2 UOB, ngân hàng có tổng tài sản lên đến 105 tỉ đô la?

    Với những con số so sánh cho thấy phải chăng các đối tác chiến lược đã trả mức giá quá thấp?

    Huỳnh Thế Du
  4. kekhatgai

    kekhatgai Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/02/2007
    Đã được thích:
    3
    Tương quan Vietcombank và ngành ngân hàng Việt Nam

    Trên thực tế, giai đoạn từ năm 2003 đến 2006 ngành ngân hàng đã có bước tiến lớn. Tổng tài sản các ngân hàng thương mại đã tăng 30 ?" 40%, chỉ riêng năm 2006 vừa qua đã tăng 60 ?" 80%. Tăng trưởng tín dụng bình quân 27%, trong đó ngân hàng nhà nước 15%, ngân hàng TMCP 40%. Nhiều ngân hàng, đặc biệt khu vực ngân hàng cổ phần đã tăng trưởng doanh thu lợi nhuận ấn tượng.

    Thị phần lớn


    Vietcombank sở hữu những toà nhà lớn ở những vị trí rất đắc địa. Ảnh: A.Q

    7 ngân hàng thương mại quốc doanh hiện trong quá trình cổ phần hoá, với thị phần cho vay hiện tại chiếm 70%, thị phần tiền gửi 44%. Vietcombank (VCB) là thí điểm chính vì vậy đã gây sự chú ý đặc biệt cho giới đầu tư. Cơ hội cho nhà đầu tư sở hữu cổ phiếu của một trong những ngân hàng lớn nhất nước.

    Xem xét riêng VCB, hiện ngân hàng này chiếm 20% thị phần tiền gửi Việt Nam, chiếm 15% thị phần cho vay, 30% thị phần dịch vụ thanh toán quốc tế và thanh toán xuất nhập khẩu.

    VCB hiện sở hữu khoảng 800 máy ATM, tương đương 30% của toàn ngành. Ngân hàng này phát hành khoảng 33% số thẻ ghi nợ nội địa và 40% số lượng thẻ tín dụng quốc tế. Trên cả nước, có thêm khoảng 800 điểm chấp nhận thẻ VCB.

    Cổ phần hoá ngân hàng này được đặt ra mục tiêu từ năm 2004, nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được. Việc đấu giá cổ phiếu lần đầu (IPO) nhanh nhất cũng phải vào nửa cuối tháng 12.2007 (hạn chót mà chính phủ đặt ra cho ngân hàng này). Giá dự kiến nằm trong khoảng 127.700 - 178.780 đồng/cp (gấp 5 - 7 lần so với giá trị sổ sách 25.540 đồng/cp).

    Hiệu quả thua kém khối cổ phần

    Nếu xét về hiệu quả hoạt động thì nhiều ngân hàng thương mại cổ phần có hiệu quả hoạt động tốt hơn VCB. Chẳng hạn qua chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn sở hữu (ROE), VCB chỉ đạt 18% trong khi ngân hàng Á Châu (ACB) và ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (STB) là 33,92% và 25,67%.

    Những đối tác chiến lược dự kiến VCB bao gồm Nomura, Goldman Sachs và General Electric không phải là ngân hàng thương mại thuần tuý. Việc đầu tư vào VCB có thật sự hỗ trợ tốt cho VCB về mặt nghiệp vụ hay không, hay các ngân hàng này chỉ tìm kiếm cơ hội đầu tư sinh lời. Trong khi những ngân hàng thương mại nổi tiếng trên thế giới như Standard Chartered, HSBC, hay ANZ lại chọn những ngân hàng thương mại cổ phần cấp hai như ACB, STB, Techcombank những ngân hàng mà quyền chi phối của cổ đông nhà nước là rất nhỏ, hiệu quả hoạt động tốt.

    Vì vậy sự so sánh và cân nhắc trước cơ hội đầu tư VCB là điều cần thiết.

    Hoàng Yến
    (trưởng phòng phân tích công ty cổ phần chứng khoán Sao Việt

Chia sẻ trang này