1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Bàn về Phật học trong những ngày không buôn chứng ... (xin phép mod)

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi doquoccuong, 30/01/2011.

Có 2974 người đang online, trong đó có 15 thành viên. 04:34 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1764 lượt đọc và 30 bài trả lời
  1. NameoftheRose

    NameoftheRose Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    28/04/2010
    Đã được thích:
    7
    Hihihi,dòng đo đỏ của bác có thể nói khác đi thế này : Đó là lúc phần Con trong chữ CON NGƯỜi bị diệt vong,chỉ còn lại phần NGƯỜi[:D]>:)
  2. NameoftheRose

    NameoftheRose Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    28/04/2010
    Đã được thích:
    7
    Theo tôi,muốn nhìn thấy tính Phật bên trong khó lắm,đọc thì có vẻ như ta đã hiểu,chỉ cách 1 bước chân là tới nhưng đi mãi mà vẫn không tới[:D]Lục tổ Huệ Năng khi xưa là người mù chữ,ít học,vậy mà lại đắc đạo [-(

    “Dè đâu tánh tự nhiên vốn tự thanh tịnh, dè đâu tánh tự nhiên vốn chẳng sanh diệt, dè đâu tánh tự nhiên vốn nó đầy đủ, dè đâu tánh tự nhiên vốn không lay động, dè đâu tánh tự nhiên thường sanh muôn pháp.”
  3. skipchus

    skipchus Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    23/01/2010
    Đã được thích:
    0
    có thể bạn chưa nghiên cứu nhiều phật học :)
  4. skipchus

    skipchus Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    23/01/2010
    Đã được thích:
    0
    cái này đúng :), chúc bác ăn tết vui vẻ
  5. doquoccuong

    doquoccuong Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    25/01/2010
    Đã được thích:
    0
    cám ơn các bác góp ý. Em xin trả lời nhé:

    Đúng nhứ bác NamoftheRose nói, cái mong muốn đầu tiên của đại đa số những người mới bắt đầu tìm hiểu đạo Phật chính là tìm cho mình sự bình yên cho tâm hồn của mình (sự thanh tịnh về TÂM) do trong cuộc sống có nhiều phiền não (mà Đức Phật Thích Ca gọi là KHỔ). Ai chưa thấy cuộc đời là khổ thì thường khó chấp nhận các thuyết của nhà Phật


    Theo như bác Skipchus: đạo phật có thể lý giải 1 cách thuyết phục mọi sự vật sự việc tồn tại trên cõi đời, đây là điều tuyệt diệu nhất trong lịch sử hàng ngàn năm của loài người. Đúng đấy bác 7272 ạ.
    Cuộc sống mưu sinh hàng ngày đã làm cho hầu hết con người ko còn tg để có thể chiêm nghiệm về cuộc đời. Sau khi đi làm về em thường ghé cafe một mình để xem thông tin chứng khoán, sau đó có được những giây phút tự do thật sự để tự tìm hiểu về Nhân sinh quan và vũ trụ quan Phật giáo, đây chính là 2 chủ đề bao quát của con người đã, đang và tiếp tục nghiên cứu

    Vũ trụ quan: Vũ trụ được hình thành ? đã tồn tại được bao lâu ? đến baog giờ thì bị hủy diệt ? có các cõi khác không ?

    Nhân sinh quan : con người từ đâu đến ? và khi chết con người sẽ đi về đâu ? có tái sinh - luân hồi hay không (kiếp sau)? có nhân quả hay không ? có sự bình đẳng hay không trong xã hội loài người (tại sao có người tốt lại chịu nghèo khổ, có người ác thị lại giàu có, ....)

    Nhưng mục đích cuối cùng để học Phật là để tự mình giải thoát cho chính mình và có thể giúp đõ được người khác đi đúng đường. (Theo như bác SOLIDVNT: vấn đề với mỗi người là phải tự lo cho mìmh thôi)

    Theo quan điểm cá nhân, phật giáo không hẳn là một tôn giáo vì Triết lý của Phật giáo bao gồm cả nhân sinh quan và vũ trụ quan; cho nên Phật giáo chứa đựng triết lẫn khoa học. Phật giáo không ở trong triết và khoa học, mà ngược lại, nói cho đầy đủ là triết học và khoa học là hai môn ở trong kho tàng vô tận của Phật giáo.
  6. doquoccuong

    doquoccuong Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    25/01/2010
    Đã được thích:
    0
    Em cũng có nhận định như 2 bác. Em xin nói cụ thể một tý.


    Qua việc so sánh thế giới quan của Khoa Học và Phật Giáo bằng cách khảo sát mỗi một trong ba học thuyết căn bản của Phật Giáo, trước tiên là ý niệm về "Vô Thường" tiếp đến là "Duyên Khởi" và "Tánh Không". Sau đó, chúng ta sẽ đề cập đến vấn đề tại sao trái ngược với các tôn giáo độc thần, Phật Giáo bác bỏ quan niệm về sự hiện hữu của một vị "Thượng Đế" hay là một "Đấng Sáng Tạo". GS. Trịnh Xuân Thuận đã góp phần làm sáng tỏ một câu hỏi lớn mà khoa học ngày càng quan tâm: Với những khác biệt có vẻ cơ bản trong cả phương pháp và mục tiêu, như vậy có thể có một nền tảng chung để đối thoại giữa khoa học và Phật giáo hay không? Phật giáo có gì để nói về bản chất của hiện tượng khi đây không phải là mối quan tâm chính, mà là những mối bận tâm của những bộ môn khoa học?

    Khoa học và Phật giáo vốn có những phương thức khác biệt rất cơ bản trong việc nghiên cứu thực tại :

    Trên bình diện khoa học, tri thức và luận lý nắm giữ những vai trò then chốt. Khoa học thu lượm những hiểu biết về thế giới thực tại rồi cô đọng chúng lại thành những quy luật có thể kiểm chứng được. Bằng cách phân chia, xếp loại, phân tích, so sánh, và đo lường, nhà khoa học diễn giải những quy luật này thông qua một loại ngôn ngữ khá trừu tượng của toán học. Dĩ nhiên trong khoa học, trực giác không phải là không có chỗ đứng, tuy nhiên nó chỉ mang lại kết quả khi nào được hệ thống hóa trong một cấu trúc chặt chẽ của toán học mà hiệu độ được đảm bảo bằng quan sát và phân tích.

    Ngược lại, chính trực giác –hay kinh nghiệm nội tâm- lại đóng vai trò chủ yếu trong phương cách Phật giáo dùng để tiếp cận thực tại. Trong khi khoa học hướng ngoại thì Phật giáo hướng nội, dùng quán chiếu làm phương thức tiếp cận. Trong khi khoa học chỉ bận tâm về thế giới khách quan thì mối quan tâm chính yếu của Phật giáo là cái ngã tự thân.Thay vì chẻ nhỏ thực tại ra thành từng bộ phận khác biệt như phương pháp quy giản của khoa học, Phật giáo với phương thức tiếp cận toàn bộ sự vật mà mục đích là để hiểu chúng như một tổng thể nguyên trạng. Phật giáo không cần đến những thiết bị đo lường và cũng không cần nương tựa vào bất cứ phương tiện quan sát tinh vi nào vốn là xương sống của nền khoa học thực nghiệm. Nó thiên về định phẩm hơn là định lượng.


    Tuy nhiên sự khác biệt chính yếu giữa sự theo đuổi kiến thức trong khoa học và Phật giáo là do ở những mục tiêu rốt ráo của chúng. Mục tiêu của khoa học là tìm hiểu về thế giới hiện tượng. Trọng tâm chính yếu của nó là những kiến thức về vũ trụ vật lý, được xem như mang tính khách quan và có thể xác định số lượng, cũng như nhằm đạt đến việc kiểm soát thế giới tự nhiên.

    Ngược lại trong Phật giáo, kiến thức được thu nhận chủ yếu chỉ nhằm vào những mục đích trị liệu. Mục tiêu của Phật giáo vì thế không phải tìm hiểu vũ trụ vật lý cho lợi ích của riêng mình mà chỉ để nhằm giải phóng nhân sinh ra khỏi những khổ đau hệ lụy gây ra bởi sự dính mắc thái quá vào cái thực tại biểu kiến của thế giới ngoại tại. Những tra vấn mang tinh thần thực nghiệm được thúc đẩy bởi tính tò mò tri thức không phải là mục tiêu chính mà Phật giáo nhắm đến. Thay vào đó, họ muốn hiểu rõ bản tánh chân thật của vạn pháp để có thể xóa tan đi đám mây mờ vô minh và mở ra cánh cửa vào Giác ngộ và con đường giải thoát. Thay vì dùng viễn vọng kính, hạt gia tốc hay kính hiển vi, Phật giáo dùng tâm như là một khí cụ để nghiên cứu vũ trụ. Nó nhấn mạnh đến tầm mức quan trọng của sự giải thích bản tánh của tâm thông qua kinh nghiệm thiền quán trực tiếp. Trải qua hàng thế kỷ Phật giáo đã đề ra một phương thức tiếp cận sâu sắc và nghiêm ngặt liên quan đến những hiểu biết về những trạng thái tâm linh và bản tánh rốt ráo của tâm. Tâm đứng đằng sau mỗi một kinh nghiệm của đời sống. Nó khẳng định cách thế mà ta nhìn thế giới. Chỉ một thay đổi cực nhỏ trong tâm thức của ta, qua cách thức mà ta đối phó với những trạng thái tâm linh và nhận thức về người và vật như thế nào cũng đủ để thế giới của "ta" hoàn toàn đảo lộn. Như thế, thay vì chuyên chú hoàn toàn vào ngôi-thứ-ba, tức là lãnh vực của thế giới khách quan hiện tượng như là nền khoa học cổ điển, Phật giáo đồng thời cũng đặt trọng tâm của mình vào lãnh vực liên quan đến ngôi-thứ-nhất.

    Với những khác biệt có vẻ cơ bản trong cả phương pháp và mục tiêu, như vậy có thể có một nền tảng chung để đối thoại giữa khoa học và Phật giáo hay không?

    Phật giáo có gì để nói về bản chất của hiện tượng khi đây không phải là mối quan tâm chính, mà là những mối bận tâm của những bộ môn khoa học? Ta có một câu trả lời dứt khoát cho những câu hỏi này là có. Một trong những nhiệm vụ chính của triết học Phật giáo là nghiên cứu về bản chất của thực tại. Trong khi khoa học không phải là mối bận tâm chính của Phật giáo, nó cũng đã từng đặt ra những câu hỏi tương tự với những vấn đề được nêu lên bởi nền khoa học đương đại. Có thể nào những hạt rời bất khả phân là những khối cấu trúc cơ bản của thế giới hiện tượng? Có phải chúng thực sự hiện hữu hay chỉ là những ý niệm giúp ta hiểu biết về thực tại? Phải chăng những định luật vật lý là bất biến, có những hiện hữu tự thân như những quan niệm lý tưởng của Plato? Phải chăng có một thực tại chắc thật đằng sau những sắc tướng? Đâu là nguồn gốc ban đầu của thế giới hiện tượng, và cái thế giới chung quanh mà chúng ta cho là "thực" có thực sự hiện hữu? Đâu là mối liên hệ giữa động và tĩnh, giữa chủ thể và khách thể? Bản chất của không gian và thời gian là gì? Những triết gia Phật giáo trong suốt 2,500 năm qua đã không ngừng nghiên cứu, trăn trở về những vấn nạn này. Kinh văn Phật giáo phong phú với những bộ luận bàn thảo về tri thức cũng như lý giải về những cấp độ khác nhau của thế giới hiện tượng, kể cả những bộ luận về tâm lý học khám phá những lãnh vực khác biệt của ý thức và bản chất rốt ráo của tâm.

    Trong khi những phương pháp nghiên cứu của Phật giáo và khoa học nhằm khám phá thế giới hiện tượng thoạt nhìn có vẻ rất khác nhau, nhưng khi nhìn kỹ hơn người ta thấy rằng Phật giáo cũng như khoa học đều dựa vào phương pháp thực nghiệm để khám phá thực tại. Phương pháp phân tích của Phật giáo thông thường sử dụng 'suy nghiệm' cũng được dùng rộng rãi trong khoa học. Đây là những thí nghiệm tưởng tượng được tiến hành trong tâm thức, dẫn đến những kết luận khó có thể bác bỏ được, cho dù là những thí nghiệm này thực sự không hề được tiến hành. Kỹ thuật này thường được sử dụng bởi những chuyên gia hàng đầu trong khoa học, cụ thể như Einstein. Thí dụ, khi khảo sát về bản chất của không gian và thời gian, nhà vật lý tưởng tượng ra mình đang cưỡi lên một hạt ánh sáng. Thế là khi nghĩ đến trọng lực, lập tức y cảm thấy mình đang ở trong sự vận hành của gia tốc. Cũng một kiểu cách như vậy, những nhà Phật học dùng phép suy nghiệm để phân tích mổ xẻ thực tại. Phật giáo cũng giống với khoa học ở chỗ khuyến khích tinh thần hoài nghi trong việc xây dựng niềm tin. Đức Phật đã từng khuyến khích chúng ta không nên chấp nhận một cách mù quáng giáo thuyết của ngài nếu như không tự mình suy nghĩ thấu đáo. Ngài dạy rằng: "Giống như một người khôn ngoan biết đâu là vàng thật sau khi đã thử nghiệm bằng cách cắt ra, nung chảy hay chà xát, những lời dạy của ta cũng thế, chỉ được chấp nhận sau khi đã suy xét thấu đáo chứ không phải là do kính trọng ta." Nếu chúng ta xem "khoa học" mang ý nghĩa "một hệ thống kiến thức chính xác, chặt chẽ và có thể kiểm chứng được" hoặc như là "một loạt những quy luật và tiến trình liên hệ đến sự nhận ra và công thức hóa một vấn nạn, công thức dựa trên những giả thiết và dữ kiện được thu thập thông qua quan sát và thí nghiệm để kiểm chứng những giả thiết này" (từ điển Webster), thì Phật giáo có thể được mô tả như là một "khoa học quán tưởng" hay nói rõ hơn, "một khoa học về tâm". Thế nhưng ở đây, phạm trù nghiên cứu không phải chỉ đơn thuần là một thế giới vật chất "khách quan" mà ta có thể khảo sát, đo lường, tính toán một cách vật lý, một thế giới chỉ có thể được mô tả qua ngôn ngữ của phương pháp định lượng ngôi-thứ-ba, nhưng là một thế giới được nhân rộng ra bao gồm toàn thể phạm vi của kinh nghiệm sống "chủ quan" của con người bao gồm cả lãnh vực tâm thức chỉ có thể nhận thức được thông qua nội quan ngôi-thứ-nhất.

    Phật giáo là khoa học của sự Tỉnh Thức, thế nên cho dù Quả Đất có quay quanh Mặt Trời hay ngược lại, điều đó cũng không hề tạo nên bất kỳ hệ quả nào đối với nền tảng triết lý của nó. Phật giáo đã hiện hữu trên hành tinh này 2,500 năm rồi trong khi nền khoa học hiện đại chỉ mới bắt đầu từ thế kỷ thứ 16. Tuy nhiên bởi lẽ cả hai đều khao khát đi tìm chân lý, và để đạt mục tiêu này đều sử dụng đến những tiêu chuẩn mang tính chân xác, chặt chẽ và luận lý, những thế giới quan tương ứng của họ vì thế không thể đưa đến kết quả đối nghịch không thể vượt qua mà ngược lại cả hai có thể bổ sung nhau một cách hài hòa. Nhà vật lý Werner Heisenberg đã phát biểu quan điểm này một cách đầy thuyết phục như sau: "Tôi xem cái hoài vọng nhằm khắc phục những đối nghịch, trong đó một sự tổng hợp bao gồm cả nhận thức thuần lý lẫn kinh nghiệm thần bí về nhất thể, là cái 'mythos'(*), dù có được nói ra hay không, của thời đại chúng ta".

    Vô Thường giữa lòng thực tại: Phật giáo phân chia ra hai loại vô thường, thô và tế:

    Thô bao gồm tất cả những đổi thay hiển nhiên của cả con người và sự vật mà chúng ta chứng kiến trong cuộc sống hàng ngày: sự đổi mùa, núi mòn sông lở, quá trình biến đổi từ tuổi trẻ đến tuổi già, những tình cảm luôn biến chuyển trong ta.

    Thể vi tế của vô thường cụ thể như: trong mỗi sát na, bất cứ những gì có vẻ hiện hữu đều thay đổi. Vũ trụ không phải được tạo thành bởi những thực thể riêng biệt, rắn chắc mà ngược lại, giống như một dòng suối bao la của những sự kiện, và những dòng chảy năng động mà trong đó tất cả đều được nối kết và liên tục tác động lẫn nhau. Khái niệm về sự thay đổi không ngừng và khắp nơi trong Phật giáo tương ứng với chủ đề quan trọng về thuyết tiến hóa trong mọi lãnh vực khoa học của thế kỷ 20.


    Bây giờ hãy nhìn đến khoa vũ trụ học đương đại. Khái niệm về những thiên giới không hề biến đổi của Aristote và vũ trụ tĩnh lặng của Newton đã đi vào quá khứ. Mọi sự mọi vật đều biến đổi và chuyển động, tất cả đều vô thường, từ một hạt cơ bản cực nhỏ cho đến toàn thể vũ trụ, kể cả những dải ngân hà, tinh tú, hành tinh cũng như nhân loại. Vũ trụ không ở thể tỉnh, mà không ngừng trương giản do bởi những xung lực ban đầu nhận được từ vụ nổ sơ khởi. Cái vũ trụ năng động này được mô tả bởi những phương trình về luật Tương Đối Tổng Quát. Với lý thuyết "Big Bang", vũ trụ không còn là một cái gì đó thường hằng vĩnh cửu. Nó có một khởi đầu, một quá khứ, một hiện tại và một tương lai. Nó đang có một lịch sử. Theo những quan sát gần đây, nó sẽ trương giản bất tận, ngày càng lạnh giá hơn và cuối cùng chết trong trạng thái băng giá. Bên cạnh sự chuyển động trương giản, tất cả những cấu trúc của vũ trụ -những vẫn thạch, sao chổi, hành tinh, tinh tú, những dải ngân hà, nhóm thiên hà -tất cả đều không ngừng chuyển động và dự phần vào một khúc luân vũ mênh mông của toàn vũ trụ: chúng quay quanh trục của mình, quanh tinh thể khác, xúm lại hay dang ra khỏi nhau. Chúng cũng có một quá trình, được sinh ra, trưởng thành, rồi chết. Những tinh tú có một sinh mệnh kéo dài hàng triệu hoặc hằng tỷ năm.

    Thay đổi và tiến hóa cũng đi vào những lãnh vực khác của khoa học. Trong địa chất học, những đại lục mà chúng ta nghĩ rằng đã dính chặt vào vỏ Trái Đất bây giờ được biết là đã di động khoảng vài cm mỗi năm, tạo nên những núi lửa và động đất tại những vùng tiếp giáp của các thềm lục địa. Mặt Trái Đất luôn luôn thay đổi và tự tu sửa. Trong lãnh vực sinh học cũng thế, khái niệm về thuyết tiến hóa đã được nhà tự nhiên học Charles Darwin đưa ra vào năm 1859. Con người không còn là một cái gì đó thuộc dòng dõi thánh thần. Họ không là những hậu duệ của Adam và Eve do Thượng Đế sáng tạo ra như trước đây người ta đã nghĩ mà là sản phẩm của cả một chuổi dài tiến hóa được hình thành bởi sự lựa chọn tự nhiên. Đi ngược lại quá khứ, tổ tiên của con người từng là những động vật linh trưởng, những loài bò sát, cá tôm, những loài động vật không xương sống và những sinh thể đơn bào sơ khai.

    Định luật vô thường không phải chỉ có mặt ở trong thế giới vĩ mô mà ngay cả ở trong những lãnh vực nguyên tử và hạ nguyên tử (subatomic). Những hạt được biết là có khả năng tự sửa đổi bản chất của mình: quark có thể tự thay đổi gia hệ hoặc 'hương vị', proton có thể biến thành nơtron trong khi phát xạ pozitron và neutrino. Vật chất và phi-vật-chất có thể tiêu diệt lẫn nhau để trở thành năng lượng thuần khiết. Năng lượng chuyển động của một hạt có thể chuyển hóa vào trong một hạt khác và ngược lại, cụ thể như phẩm tánh của một vật thể có thể biến thành một vật thể. Những hạt điện tử trong những vật thể bao quanh chúng ta không bao giờ đứng yên một chỗ. Ngay chính trong khoảnh khắc này đây, có đến hàng tỉ những hạt phù du neutrino đi ngang qua thân xác chúng ta trong từng giây một. Do tính lượng tử bất định của năng lượng, khoảng không gian chung quanh ta đầy ắp một số lượng khó tưởng tượng nổi của những hạt 'ảo', hiện hữu phù du như những bóng ma. Chúng xuất hiện và biến mất liên miên; và đây chính là hình ảnh tuyệt vời nhất của tính vô thường vì chúng có một đời sống cực kỳ ngắn ngủi. Không còn nghi ngờ gì nữa: sự 'vô thường vi tế' của Phật giáo có mặt khắp nơi theo như cách mà nền khoa học đương đại mô tả về thực tại. Tâm Hà Lê Công Đa dịch


    -------------------------
    Khoa học bản chất là duy lý, đặt trên nền tảng quan sát, lý luận, chứng minh, kiểm nghiệm. Quan sát đòi hỏi phải qua trung gian ngũ quan : mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi, miệng nếm, tay sờ. Lý luận kiểm nghiệm thì cần khả năng trí tuệ. Tùy theo mức độ phát triển và tùy ngành khoa học, vai trò của ngũ quan và trí não có những tầm quan trọng khác nhau. Trong khoa học thực nghiệm, ở những giai đoạn ban đầu, quan sát bằng ngũ quan đóng vai trò chủ yếu trong những phát kiến. Archimède tìm ra sức đẩy của nước, Newton tìm ra trọng lực, Franklin tìm ra điện trong sấm chớp vân vân... tất cả đều do quan sát rồi tiếp theo là suy nghiệm. Trong khoa học thuần lý, trí não đóng vai trò chủ yếu, đưa ra giả thiết lý luận rồi kiểm nghiệm, thực hiện. Dù là khởi đầu bằng quan sát, hay khởi đầu bằng lý luận thì yếu tính của chân lý khoa học vẫn là sự tuyệt đối khách quan, chứng minh được, kiểm nghiệm được, thực hiện được.

    Trong khoa học, không có lòng tin mù quáng, mà chỉ có giả thiết được kiểm chứng gián tiếp hay trực tiếp. Những hiện tượng khoa học mà người ta thấy được thì đa dạng phức tạp, nhưng chân lý khoa học khi đã hiểu ra thì thực là đơn giản, có thể tóm gọn lại thành một công thức hay một câu.

    Tôn giáo nói chung dựa trên lòng tin. Tin ở trời, ở thượng đế, ở thần thánh... Tin vì không chứng minh được, không giải thích được. Ở những thời kỳ đầu tiên của lịch sử loài người, khi có quá nhiều sự kiện chung quanh mình không thể giải thích, không thể hiểu, người ta sẵn sàng tin. Vì thế người ta tin ở thần gió, thần mưa, thần sông, thần biển, thần đất vân vân. Trên hết cả, là thượng đế, là trời... tức là những đấng siêu phàm có khả năng thưởng phạt, quyết định vận mạng con người, vận mạng đất nước...

    Với sự phát triển khoa học, con người hiểu biết nhiều và do đó có thể giải thích nhiều điều bằng khoa học. Không còn thần mưa, thần gió, thần sấm nữa vì tất cả đều giải thích được là những hiện tượng tự nhiên do những yếu tố nóng lạnh, ẩm khô, điện từ di chuyển, thay đổi. Không còn cung Quảng và Hằng Nga, vì mặt trăng được biết là một hành tinh với những mẫu đất đá mà con người không thể sống. Vì những phát triển khoa học đã thay đổi một cách to lớn cuộc sống con người, tinh thần duy lý của khoa học càng ngày càng phát triển, lòng tin con người vào những yếu tố thần linh và siêu nhân giảm đi. Điều này thấy rõ tại các nước văn minh, nơi số tín đồ cũng như các tu sĩ truyền đạo giảm sút. Số người tham dự các hoạt động tôn giáo, như đi nhà thờ, rước lễ vân vân, bớt nhiều.

    Tìm hiểu suy nghĩ về những lời căn bản Phật dạy, ta thấy đặc tính duy lý, và tinh thần khách quan của khoa học. Hãy nghe lời đức Phật giảng cho chư tăng ở vùng Vesali, trên chặng cuối cuộc đời hành đạo của Ngài từ Beluva tới Mehavali :
    "Này các đệ tử ! Pháp mà ta nghiệm thấy đã nói cho các người rồi. Các ngươi hãy suy tưởng, hành Pháp và truyền giảng ra rộng rãi vì lòng thương thế giới, cho điều lành và hạnh phúc của thần và người"​
    Trong lời dạy trên, Phât không đòi hỏi lòng tin tuyệt đối nơi Pháp, Ngài chỉ kêu gọi các tăng già "suy tưởng", "hành pháp" và "truyền giảng". Suy tưởng để thấy là đúng, hành Pháp để có thể kiểm nghiệm, và truyền giảng là vì lẽ từ bi. Đức Phật đã truyền đạo như một nhà khoa học, đưa ra chân lý khoa học để cho người suy nghĩ, kiểm chứng và phổ biến.
    Đức Phật cũng không đòi hỏi phải tin tưởng tuyệt đối ở Ngài, mà được quyền nghi vấn.

    Hãy nghe lời Phật dạy ông A-nan-đà và chư tăng lúc Ngài gần viên tịch :
    "Này A-nan-đà! Có thể có người trong các người nghĩ rằng : Không còn lời thầy dạy nữa. Chúng ta không còn thấy nữa. Nhưng, này A-nan-đà, ngươi không được nghĩ thế. Pháp và Giới (Dhamma-vinaya) mà ta đã đặt định ra và giảng giải cho các ngươi, sẽ là thầy của các ngươi, sau khi ta viên tịch. Có thể có những tăng, mà trong đầu có nghi ngờ về Phật, về Pháp (Doctrine-Dhamma), về Đạo (Path-Magga), hay về phương cách tu tập (Method-patipadà). Này các tăng chúng, hãy tự nhiên mà hỏi đi. Đừng để sau này tự trách mình rằng : Lúc Thầy chúng ta còn mặt đối mặt với chúng ta, chúng ta đã không hỏi bậc Đại giác cho tường tận".​
    Sách chép rằng đức Phật đã nhắc lại những câu này ba lần cho các chư tăng.
    Không những nhắc nhở tự mỗi người suy nghiệm, không những khuyến khích mọi người đặt câu hỏi với mình, đức Phật còn tách sự tôn kính mình ra khỏi quá trình suy nghĩ mỗi người để cho kết luận được khách quan. Sau khi giảng pháp cho Kalamas, Ngài đã hỏi chư tăng rằng "Sau khi các ngươi đã thấu hiểu và ghi giữ điều ta giảng thì các ngươi có tự nhủ rằng 'Chúng ta tôn vinh Thầy chúng ta và vì kính trọng người, chúng ta kính trọng những lời người dạy' hay không ?" Chư tăng đáp : "Bạch thế tôn, không". Đức Phật liền nói "Này các đệ tử ! Điều các ngươi vừa nói phải chăng là vì chính các ngươi đã công nhận, nhìn ra và thấu hiểu đó chăng?". Chúng tăng trả lời "Bạch thế tôn, chính phải".

    Hiểu rõ tâm lý con người, Ngài tách bạch rất rõ Phật và Pháp, để cho chân lý Ngài tìm ra (tức là Pháp), và con người Ngài chỉ (tức là Đạo) thực sự phục vụ được chúng sinh, đức Phật đã nói với ông A-nan-đà khi nằm chờ giờ viên tịch trong rừng Sala giữa hai cây Sala như sau :
    "Người mà làm tròn nghĩa vụ lớn cũng như nghĩa vụ nhỏ, người mà ngay chính trong cuộc đời tuân theo pháp giới, thì chính là người vinh danh, tôn kính và thờ phụng bậc Đại Giác, Đại Toàn bằng cách xứng đáng nhất. Bởi thế, hỡi A-nan-đà, hãy kiên định thi hành những nghĩa vụ lớn và nhữngg nghĩa vụ nhỏ, hãy ngay chính trong đời, tuân theo pháp giới. Này A-nan-đà, đấy là cách ngươi phải tự tu tập".​
    Đặt vấn đề, suy nghĩ và chiêm nghiệmn khách quan, chính là đặc thù của khoa học.
    Ngày nay, ta không lạ gì tinh thần khoa học này. Nhưng thời đức Phật cách nay trên hai ngàn năm trăm năm, khi con người còn bị bao vây bởi vô số điều không hiểu biết và mê tín, thì trí huệ này chính là trí huệ bậc đại giác.

    Trong một buổi giảng khác cho chư tăng về cách thức tập luyện cho một người muốn tìm phương giải thoát, đức Phật nói rằng một người mà tâm lý trong lành, cuộc đời thanh bạch trọn vẹn thì tức là tu tập viên mãn, và có thể coi như một người đã tắm rửa sạch nội tâm. Có người Bà la môn tên là Sundarika Bhàradvàja bèn hỏi đức Phật :
    "Ngài Gotana có đi tắm ở sông Bàhuka không ?". Phật trả lời : "Này người Bà la môn ! Sông Bàhuka có gì tốt ? Sông Bàhuka có thể làm gì cho người ?". Người Bà la môn đáp : "Bạch Ngài Gotana, sông Bàhuka người ta tin là sông thánh. Nhiều người có những hành động xấu xa ghê tởm (pàpa) đã được nước sông Bàhuka rửa sạch". ​
    Phật liền dạy rằng nước sông không thể rửa sạch sự xấu xa của con người, và nói :
    "Hởi người Bà la môn ! Tắm ở đây (trong Pháp và Giới) sẽ cho mọi người yên lành. Nếu người đừng nói dối, đừng sát sinh, đừng trộm cắp, đừng xấu xa, thì đi đến sông Gayà làm gì ? Giếng sau nhà người cũng là sông Gayà đó !"​
    Nhìn thẳng vào vấn đề, tìm ra phương kế giải quyết thích đáng, không dựa vào những tiền đề chủ quan, những tin tưởng mù quáng dễ dàng, là cách nhìn khoa học của đức Phật dạy trong chuyện kể trên.
    Đức Phật xuất gia vì nhìn thấy cảnh sinh lão bệnh tử bao trùm cuộc đời và muốn giải cứu chúng sinh. Trong quá trình tu tập học đạo, Ngài đã suy nghĩ, thể nghiệm và sau cùng giác ngộ tìm ra chân lý giải quyết khổ nạn cuộc đời. Tóm tắt lại là tứ diệu đế (khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế) và bát chánh đạo (chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định). Trong tiến trình giải quyết khổ, vai trò mỗi người là chủ yếu. Như Phật nhắc nhở nhiều lần :
    "Do mình việc xấu sinh
    Vì mình mà bị bôi xấu
    Chính mình việc xấu ngưng
    Tự mình tiếng xấu giải
    Trong sạch hay dơ bẩn tùy thuộc ở mình
    Không ai tẩy sạch được cho người khác"
    (Dhammapada, 165) ​
    Trong nỗ lực tự giải cứu này, kết quả cao thấp tùy cá nhân. Ở mức toàn hảo là trở thành bậc đại giác, như hoa sen nở giữa chốn bùn lầy.
    Suy nghĩ cho kỹ, lời Phật dạy mỗi người phải tự cứu cũng là một chỉ dẫn khoa học, kết hợp biết và làm, lý thuyết với hành động, giải quyết việc người mà không phục vụ việc thần. Vì thế, Phật không quan tâm giải thích những vấn đề siêu hình, không dựa trên những yếu tố thần linh để thuyết phục, xoa dịu hay giải quyết những vấn đề con người. Phương thức giải quyết khổ nạn Phật chỉ ra là triệt để và đơn giản, trên nguyên lý nhân quả, như trong quan hệ vận hành của những hiện tượng khoa học.

    Một cách rất tổng quát, ta đã nhìn ra tính chất khoa học trong một số lời Phật dạy nguyên thủy và qua một vài ý niệm cơ bản trong Phật pháp. Sự nhận định này không vì yêu cầu vinh danh hay đề cao đức Phật và Phật giáo. Vì như lời Phật dạy ông A-nan-đà đã dẫn ở trên, vinh danh, tôn kính và thờ phụng đấng Thế ton cách cao quý nhất chính là tuân theo pháp giới. Mặt khác, cũng vì hiểu rằng Phật giáo là đạo cứu khổ, mà tiến trình cứu khổ là dựa trên nỗ lực cá nhân, chứ không vì ân phúc huyền bí, nên tự thấy không cần đề cao Phật giáo. Ngoài ra, nói đức Phật có tinh thần khoa học hay nói Phật giáo có tính chất khoa học thì thật ra cũng không phải là một cách đề cao (trích bác sĩ Trần Xuân Ninh).

    ----------------------
  7. doquoccuong

    doquoccuong Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    25/01/2010
    Đã được thích:
    0
    Phật Giáo là một triết học, khoa học, hay là thần học? Ðây là một thắc mắc của đại đa số nhiều người ?

    Ðạo Phật không thuộc lãnh vực nào cả ngoài một mục đích là giúp cho chúng sanh thoát mê thành ngộ, hết khổ được vui, và đưa họ thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi, đạt đến chân như tịch tịnh (Niết Bàn). Con đường tu học của Ðạo Phật là Trung đạo, nghĨa là không gò bó trong khổ hạnh, không xa xỉ vô ích. Triết lý của Phật giáo bao gồm cả nhân sinh quan và vũ trụ quan; cho nên Phật giáo chứa đựng triết lẫn khoa học. Phật giáo không ở trong triết và khoa học, mà ngược lại, nói cho đầy đủ là triết học và khoa học là hai môn ở trong kho tàng vô tận của Phật giáo. Vì sự hạn hẹp về khuôn khổ của bài viết, chúng tôi chỉ trình bày một vài sơ điểm để chứng minh tại sao Phật giáo là một nền tảng bao trùm khoa học.

    Như chúng ta đã biết, cách đây 25 thế kỷ, Ðức Phật đã thị hiện tại trung Ấn, nói ra những pháp vô thượng thậm thâm vi diệu mà trong thời gian đó loài người chỉ biết nương tựa, cầu phúc, bám chỉ vào các thần như thần lửa, thần gió, thần rắn, thần đá, thần núi, thần sông v.v. Khoa học vào thời đó chưa tượng hình. Một vài con số đơn sơ được nặn ra để đơn thuần tính đếm; giấy chưa có, họa chăng người ta chỉ dùng bằng vỏ lá cây. "Trời tròn, đất vuông" hoặc "Mặt trời quay chung quanh trái đất" vẫn là quan niệm cố hủ, không thay đổi của loài người cho đến thời Galileo và được sự kiểm chứng của khoa học sau này. Thế nhưng, Ðức Phật đã nói: Vũ trụ không nhỏ, có đến tam thiên đại thiên thế giới (ba ngàn đại thiên thế giới) Một ngân hà là một tiểu-thiên thế giới, một ngàn tiểu-thiên thế giới là một trung-thiên thế giới, một ngàn trung-thiên thế giới là một đại-thiên thế giới. Và, ba ngàn đại thiên thế giới như thế trong vũ trụ bao la này. Với sự giác ngộ của Ðức Phật, vũ trụ trong mắt Ngài như chúng ta nhìn một dòng chữ trên trang giấy. Sự sự vật vật không ngừng biến đổi trong chu kỳ Thành (cấu thành, sinh ra) - Trụ (tồn tại) - Hoại (hư hỏng, băng hoại) - Diệt (mất đi); bốn trạng thái này không bao giờ tách rời bất cứ một sự vật nào trong vũ trụ theo chu kỳ biến diệt của nó, chỉ có sự khác biệt là nhanh hay chậm mà thôi. Ngày 9 tháng 11, 1994, lúc 4g39 chiều, tại viện Gesellschaft fur Schwerionenforschung ở Ðức, các khoa học gia đã tìm thêm một nguyên tố mới gồm có 110 nguyên tử. Một điều đáng chú ý là nguyên tố này có đời sống vô cùng ngắn ngủi, nó chỉ tồn tại trong khoảng 1/1000 giây đồng hồ.

    Hãy lấy ví dụ: một cục đá mà chúng ta cứ tưởng là nó trường tồn mãi. Không, nó không tồn tại mãi! Ban đầu, núi lửa phun lên thạch nham lỏng, gặp nhiệt độ thấp hơn tạo thành đá, rồi bị hao mòn qua những tác động của mưa, nắng, gió, bão... để thành những hạt cát. Những hạt cát này tiếp tục chịu những chi phối trên để trở thành bụi... và, những hạt bụi chỉ là sự kết hợp của các phân tử, nguyên tử, điện tử, hạt nhân, lượng tử...Sự băng hoại này đòi hỏi một thời gian dài mà mắt của chúng ta không thể nhìn thấy rõ được. Ví dụ khác nữa là nước. Vì có ba trạng thái khác nhau nên các khoa học gia gọi danh từ đúng gọn là H2O (kết hợp của Hidrogen và Oxigen). Tại nhiệt độ thấp dưới 0oC, nước ở dạng đông đặc. Với nhiệt độ từ trên 0oC đến dưới 100oC, nước ở dạng lỏng. Trên 100oC, nước ở dạng hơi. Vì vậy, sau khi dày công nghiên cứu nhiều thí nghiệm về trọng lượng hóa chất, một nhà hóa học đã kết luận: "Không có vật nào tự nhiên sinh ra và tự nhiên mất đi, mà nó chỉ biến từ dạng này sang dạng khác." Và, đó cũng là tinh ý của câu " Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc" trong Bát Nhã Tâm Kinh của Phật giáo vậy.

    Suy diễn rộng thêm một chút nữa, chúng ta thấy trái đất chúng ta ở là một thực thể trong muôn vạn thực thể trong vũ trụ này, nó được cấu tạo bởi nhiều yếu tố, hóa chất và khoáng chất khác nhau. Mặc dù chúng ta không thấy nó lớn thêm lên hay nhỏ dần bớt bằng cặp mắt kiếng màu này, nhưng thực sự nó đang biến chuyển theo sự thay đổi không ngừng của từng yếu tố ti vi tạo nên nó. Những biến chuyển này không những chỉ từng giây, mà là từng phần tỉ tỉ giây; Ðức Phật gọi đó là sát-na biến chuyển hay sát-na vô thường. Sự thay đổi này bao gồm luôn cả không gian và thời gian. Con người cũng vậy, chúng ta đang sống trong sự chết chóc, hủy diệt. Từng tế bào trong cơ thể (dễ thấy nhất là tế bào da) chết đi, và tế bào khác sinh ra. Trái đất quay chung quanh mặt trời không cố định, có lúc nó đi gần mặt trời, có lúc nó đi xa hơn. Hơn nữa, các khoa học gia ước tính là quỸ đạo bầu dục của trái đất quanh mặt trời ngày càng thu hẹp lại, năng lượng mặt trời ngày càng bị giảm dần...

    Giả sử khi nhân duyên không còn nữa, tất cả mọi sự vật đều tan rã để bảo hòa trở về các thành phần nguyên tố (hiện nay, các khoa học gia đã tìm ra tổng cọng là 118 nguyên tố trong bảng hóa học tuần hoàn); hoặc xa hơn nữa, chúng tự tách ra để trở thành các đơn vị nhỏ như hạt nhân, điện tử, lượng tử, không lẽ chúng ta nói là vũ trụ tận diệt hay sao? Tận diệt là do chúng ta không nhìn thấy, chứ không phải là chúng mất đi! Trong kinh Ðại Bát Nhã có nói chư pháp vốn bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm là thế.

    "Có thì có tự mảy may

    Không thì cả thế gian này cũng không".

    Cho nên nhà bác học trứ danh Robert Eistein có nói: "Nếu có một tôn giáo nào gần gũi với khoa học, thì đó chỉ là Phật giáo mà thôi." Câu nói này đúng, nhưng không đủ; mà phải nên nói rằng: Khoa học chỉ là một môn học nhằm phục vụ, khảo nghiệm, chứng minh giáo lý của Ðạo Phật. Nếu ai đã nghiên cứu Phật giáo thì Thuyết Tiến hóa của nhà bác học Darwin cũng là một sự chứng minh trung thực cho học thuyết Nhân Duyên trong Ðạo Phật, không ai có thể chối cãi. Ðó chỉ nói về mặt Thế gian mà khoa học còn bị vướng mắc vì chưa đủ phương tiện để trả lời câu hỏi: "Có bao nhiêu hành tinh, hệ mặt trời, ngân hà trong vũ trụ? Vũ trụ rộng bao xa?" mặc dù có hệ thống Humble Telescope giúp sức; huống hồ về mặt Xuất Thế gian thì khoa học bị tắc nghẽn.

    Hãy đi sâu thêm một chút nữa về sự ứng dụng của khoa học trong lãnh vực tâm linh. Trong toán học, mặt phẳng chỉ dùng để diễn tả góc cạnh, đó là hệ thống hai chiều (2-dimensional); khi diễn tả một sự vật có bề rộng, dài và cao, thì phải đưa nó vào hệ thống không gian ba chiều (3-dimensional). Ðây là hệ thống hình học cao nhất hiện có để giúp các khoa học gia nghiên cứu đồ hình không gian (hệ ba chiều dịch vị, chuyển hoán v.v.) Tuy nhiên, họ không thể nhìn thấy một thế giới khác của các sinh vật siêu hình như ma quỷ, mặc dù ma quỷ đang hiện hữu trên trái đất của chúng ta. Rõ ràng đây là thế bí của khoa học. Loài sinh vật ở thế giới siêu hình đó nhìn thấy chúng ta một cách rõ rệt. Họ có hình thể, nhưng chúng ta không thể trông thấy họ bằng mắt trần, hoặc diễn tả họ qua hệ thống hình học. Thế thì làm cách nào chúng ta giao dịch với họ? Một nhà toán học người Ðài Loan đã khởi sự nghiên cứu đưa dạng thức không gian bốn chiều (4-dimensional) vào toán học để nghiên cứu sự vật trong thế giới siêu hình này, nhưng không thành công.

    Muốn nghiên cứu về thế giới siêu hình đó, thiết nghĨ nên lập hệ thống sáu chiều (6-dimensional). Ba chiều thật (real) và ba chiều ảo (imaginary). Chúng ta có tạm gọi mô hình này là "Mô hình phức". Thế nhưng, toán học biện chứng không thể phỏng dạng mô hình phức trên được, mà cần phải có một Siêu nhiên tâm học để giúp ta bước vào ngưỡng cửa của lãnh vực siêu nhiên và hòa nhập với thế giới này; đó là, mỖi một thí sinh muốn nghiên cứu phải đạt đến trình độ tu chứng, đại thông. Một điều đáng chú ý là khoa học chỉ dựa trên thực tiển và xác nhận bằng sự chứng minh qua con số. Một vũng nước trên đường nhựa trong mùa hè oi bức khi chúng ta lái xe là một ảo ảnh tựa như tấm gương; thế nhưng tấm gương này không phản chiếu sự vật như một tấm gương mà chúng ta thường dùng soi mặt. Ảo ảnh đơn thuần như thế mà khoa học còn phải đặt nhiều giả thuyết để đi đến kết luận tạm thời là do sức nóng trên đường nhựa mà tạo nên mảng kiếng, huống hồ đưa khoa học đi vào thế giới thần bí để khảo sát, tìm tòi? Thực chất, muốn đi vào thế giới huyền bí này, con người không còn phải vướng vào khoa học, mà phải vượt qua lãnh vực khoa học để đi đến vô chấp, vô ngã, hòa hợp với thiên nhiên, vũ trụ. Ví như qua sông thì dùng thuyền, đến bờ bên kia thì phải vứt thuyền, dùng chân để tiếp tục leo lên trên đỉnh núi. Luyến tiếc không chịu bỏ, cứ mang thuyền theo là một trở ngại lớn trên đoạn đường còn lại. Phật giáo gọi là đoạn đường khai mở trí huệ (giới - định - huệ) để đi đến trình độ vô ngại, đại thông. Khoa học muốn thực chứng được điều này thì phải buông đì những con số, cởi đi quan niệm lý luận để bước vào thế giới siêu nhiên của vũ trụ. Cũng giống như khi chúng ta nhìn bức tranh 3-chiều: bức tranh được chụp/vẽ như là cả hàng ngàn quả bóng cầu trên một tờ giấy. Khi nhìn thẳng vào bức tranh đó, chúng ta không thể phân biệt được hình gì trên bức tranh. Thế nhưng, khi chúng ta hơi nheo một con mắt, và nhìn một cách rất mơ hồ, thì chúng ta thấy một cầu thủ đang đá một bóng cầu trên sân bóng v.v.

    Vậy, tu chứng trong Phật giáo là một cực điểm của khoa học nhưng không còn bị vướng mắc khoa học. Khoa học dùng "động" để quan sát điểm. Phật giáo chủ trương dùng tĩnh để quán chiếu sự vật. Khoa học thể hiện tính xô xát, tò mò. Phật giáo mang tính chất tịch lặng và giải thoát. Tâm thức không còn bị giao động thì trạng thái Chân Như hiển hiện, như bóng trăng trong ao không gợn sóng. Ví như khi chúng ta chưa bao giờ ăn một chiếc bánh bao, thành thử khi ăn, chúng ta thường tỉ mỉ để ý xem cái bành bao được làm bằng nhân gì. Khi chúng ta đã quen thuộc với thứ bánh đó rồi, thì chúng ta chỉ có việc ngấu nghiến rồi nuốt vào bụng mà thôi.

    Tương tự, Ðức Phật và các vị ******** đã tu đến trình độ vô ngại, thấu rõ về lý tánh của các pháp, thì không còn muốn tò mò tìm xem nhân duyên sinh diệt của các pháp đó làm gì nữa. Khi chưa tu tập thì ước mơ tìm hiểu; nhưng khi chứng ngộ rồi thì sự bám víu đó tự nhiên tiêu tan. Ðó không là trường hợp tối thượng của Phật giáo trên khoa học, thì là gì?

    Trong sự cấu thành của sự vật, khoa học nói về sự xúc tác còn Ðạo Phật quan niệm về Nhân duyên. Hai thứ khí Hidrogen và Oxigen khi gặp nhiệt độ thấp sẽ trở thành nước đá, ở nhiệt độ thường sẽ thành nước lỏng. Trong Phật giáo, sự cấu thành các pháp đều do nhân duyên; nước do ba nhân duyên hợp thành (Hidrogen, Oxigen và nhiệt độ); con người do nhân duyên sinh lực của cha mẹ (noãn cầu, tinh trùng), thần thức (A-lại-Da thức, hay Vô thức, hoặc linh hồn) và tứ đại (đất, nước, gió, lửa) mà hợp thành v.v. Thiếu một trong những nhân duyên, sự vật không thể có được.

    Ðó chỉ mới nói về Sự, còn bàn về Lý thì không tài nào khoa học đạt được! Hơn nữa, dùng nhân thuyết luân hồi trong Phật giáo để giải thích tại sao khi sinh ra, cùng một lứa tuổi, nhưng con người thông minh, ngu dốt, lanh lợi, đần độn, sung sướng, khổ cực v.v. khác nhau, thì rất là dễ dàng. Thế nhưng khoa học vẫn bị tắt nghẽn muôn đời, muôn kiếp...

    Ðức Phật thị hiện tại chốn Sa bà này cũng vì một nhân duyên lớn: Khai thị chúng sanh ngộ nhập tri kiến. Ðối với chúng sanh, sự ra đời của Phật giáo như là một đóa hoa đàm chỉ nở một lần trong mấy vạn năm. Sống trong thế giới uế trược, phiền não, bệnh hoạn này, Ðạo Phật là một phương thuốc vô cùng diệu dụng trị tất cả mọi căn bệnh của chúng sanh. Chúng ta, nay gặp được Ðạo Phật còn quý hơn gặp kim cương, vàng bạc. Không lo nghiên cứu, học hỏi, tu học theo phương pháp của Ðức Phật chỉ dạy, chỉ tham vọng theo tính tò mò tìm hiểu về sự tương quan giữa Phật giáo và khoa học không là một uổng phí sao? Không khác gì một người đang bị trúng tên độc, thầy thuốc hiện ở trước mặt, nhưng người bị trúng tên không cho vị y sĨ này chữa bệnh cho mình, lại không chịu rút mũi tên ra, đòi phải tìm hỏi cho ra ai đã bắn tên độc và bắn từ chỗ nào, khi đó mới chịu cho chữa bệnh. Ðợi tìm ra nguyên nhân, ông ta đã chết mất!?

    Nói về nhân sinh trong Phật giáo là nói về đề tài vô tận trong triết học... " Nhân chi sơ tánh bản thiện" là Phật tánh. Con người khi mới bắt đầu được sinh ra là một con người toàn thiện, chưa bị ô nhiễm bởi thế tục. Dần dà theo thời gian khôn lớn, trưởng thành, con người chịu nhiều tác động bên ngoài (mưa, nắng, nóng, lạnh không điều hòa, ngoại thương...) và những ảnh hưởng của nội tâm (vui, buồn, giận, thương, ghét, vinh, nhục, thắng, thua, mất, được, đau ốm, gầy gụa, bệnh hoạn, chết chóc v.v.) đã tạo cho con người trở nên cau có, xảo quyệt, tính toan, thủ đoạn để vật lộn với cuộc sống, giành phần tồn sinh. Thắng thì kiêu ngạo, ngã mạn nổi lên. Thua thì chán nản rồi tìm cách trả thù. Không bằng được người thì tìm cách gian lận cướp giựt. Tham, sân, si, mạn, nghi, từ đó bộc khởi. Vô minh thêm lan tràn, Phật căn bị che lấp. Vì thích thú và yêu thương vợ con, tiền bạc, của cải quá (ái), nên tìm cách giành giựt, chiếm đoạt chúng về mình (thủ), rồi cho rằng chúng là của mình (hữu). Không hiểu rằng tiền bạc, vợ con, của cải... có được từ KHÔNG. Cho nên mới vùi đầu trong trầm luân, ái dục; để rồi trở thành "tâm tựa ác nguyên, hình vi tội tẩu". Ðó là quan niệm ái - thủ - hữu trong Phật giáo. (Một dịp nào đó, chúng tôi sẽ trình bày chi tiết hơn.)

    Tóm lại, đứng về Sự, khoa học đã một phần nào chứng minh được thực tế, gần gũi với quan niệm của Phật giáo; đứng về Lý, khoa học hiện đang còn mù tịt ở phía sau. Vì, mục đích của khoa học, triết học là cầu tri kiến. Trái lại, mục đích của Phật pháp là lìa tri kiến. Triết học sở trường về lý trí, nghĩa là dùng lý trí để đi đến chân lý. Mặt khác, Phật học xem lý trí là "tri sở chướng" trên con đường tu đạo giải thoát. Triết học dùng lời nói, sách vở; Phật học chủ trương xa lìa ngôn ngữ: "chánh pháp nhãn tàng, Niết bàn diệu âm, thực tướng vô tướng, pháp môn vi diệu, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật". Dùng văn tự, đồ thị, ngôn ngữ, công thức để biểu thị chân lý thì tạm được; nhưng dùng để đạt đến chân lý tuyệt đối thì không thể nào, cũng như dùng ngón tay để chỉ mặt trăng. Ðó là khuyết điểm của ngành triết học và khoa học vậy. Triết lý của Triết học tùy theo thời gian và hoàn cảnh để thay đổi cho phù hợp với nhân sinh. Phật học là chân lý, sự thật, tuyệt đối, muôn đời bất di, bất dịch, tồn tại vĩnh viễn, siêu việt với không gian và thời gian. Trải qua vô số kiếp từ thời Ðức Phật A-Di-Ðà, và cách đây hơn 2500 năm kể từ khi Ðức Thích Ca thành đạo dưới cội Bồ Ðề, giáo lý của Ngài vẫn muôn một y nhất, không bao giờ thay đổi. Chưa bao giờ có cựu ước Phật học hay tân ước Phật học... Khoa học chỉ tạo cho chúng ta thêm tính tò mò, mang thêm gánh nặng trên quãng đường tu học giải thoát mà thôi! Ðó là lý do tại sao Ðức Phật chú trọng về nhân sinh hơn vũ trụ. Mục đích của đạo Phật là tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn (tự độ mình, rồi độ chúng sanh hoàn toàn thành tựu rốt ráo). Do đó, đừng mong cầu sở học của khoa-triết để nghiên cứu Phật giáo trên con đường tu học giải thoát, mà nên dùng vô ngại tâm để đạt đến Niết Bàn. Nếu hiểu được rằng dùng Khoa học cho môi sinh trong cuộc sống làm người tạm bợ hiện tại của mình; dùng Phật giáo, không phải vì tính hiếu kỳ, mà cho sự tu học, khai mở trí huệ, thực chứng, thoát sinh tử luân hồi là con đường chân chính. Ðó mới là không phụ ân đức của Ðấng Từ Phụ đã vì khổ đau của chúng sanh mà nhập thế.

    Phật giáo không phải là Thần giáo. Vì, thần giáo là một giáo phái mà trong đó tín đồ phải tôn thờ và phục tùng vị giáo chủ của mình. Tín đồ dù có tu tập cách mấy cũng không bao giờ đạt đến địa vị ngang hàng với vị giáo chủ, và phải chịu sự chi phối, thưởng, phạt của vị giáo chủ ấy. Khác hẳn điều trên, trong Phật giáo, Ðức Phật không chiếm địa vị độc tôn. Ngài nói: "Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành". Nội câu nói đó đã đủ thể hiện tinh thần bình đẳng của Phật giáo. Lạy Phật, niệm Phật, phúng tụng kinh chú trong nghi lễ Phật giáo chỉ là phương tiện bồi bổ, trợ duyên, cách thức nhiếp tâm trên con đường tu học để trở thành chánh đẳng, chánh giác; chứ không phải tin Phật, tụng kinh là mong cầu Ðức Phật ban phước, cứu độ...

    Niên niên đồng trụ khai hoa dị.

    Nhất thất nhân thân vạn kiếp nan (phục).

    Ðó là lời thúc giục chúng ta hãy nên mau mau tu học kẻo "một phút sẩy chân ngàn đời ân hận, quay đầu trở lại chín suối ngậm ngùi."

    Phật ở đâu xa Phật ở lòng
    Cõi lòng thanh tịnh tợ hư không
    Mùi hương phảng phất sen thơm ngát
    Át cả bùn nhơ chốn bụi hồng.
    ​
  8. doquoccuong

    doquoccuong Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    25/01/2010
    Đã được thích:
    0
    Quan niệm của Phật Giáo về vũ trụ như sau: thế giới chúng ta đang sống không phải là duy nhất và cũng không phải là trung tâm vũ trụ. Ngoài thế giới chúng ta đang sống còn có rất nhiều thế giới khác, và Phật giáo phân loại các thế giới thành 3 loại: Tiểu Thiên Thế Giới, Trung Thiên Thế Giới, và Đại Thiên Thế Giới. Danh từ thế giới trong Phật - giáo chỉ một thiên thể (thí dụ như trái đất) hoặc một tập hợp các thiên thể được coi như thuộc một nhóm (thí dụ như thái-duơng-hệ mà trái đất là một hành tinh trong đó). Vậy, một ngàn thế giới họp thành một Tiểu Thiên Thế Giới, một ngàn Tiểu Thiên Thế Giới họp thành một Trung Thiên Thế Giới, và một ngàn Trung Thiên Thế Giới họp thành một Đại Thiên Thế Giới. Vậy, lấy đơn vị là một hệ thống tương tự như hệ thống Thái Dương Hệ và gọi là thế giới thì Tiểu Thiên Thế Giới gồm có khoảng một ngàn thế giới, Trung Thiên Thế Giới gồm khoảng một triệu thế giới, Đại Thiên Thế Giới gồm khoảng một tỷ thế giới v.v... Đó là quan niệm về vũ trụ của Phật Giáo từ hơn 2500 năm về trước. Nhưng sau đó 22 thế kỷ, vào thế kỷ thế 17, Tây phương vẫn còn chưa thoát khỏi quan niệm tối tăm về trời tròn đất vuông, trái đất được coi là trung tâm vũ trụ, và rằng mặt trời quay xung quanh trái đất như đã viết trong Thánh Kinh. Những khám phá mới, xác thực về vũ trụ của các khoa học gia như Copernicus (các hành tinh quay xung quanh mặt trời) và Galileo (trái đất quay xung quanh mặt trời), vì không phù hợp với thánh kinh, nên đều bị quyền lực tôn giáo đương thời lên án.
    Trở lại quan niệm về vũ trụ của Phật Giáo, chúng ta thấy rằng quan niệm này hầu như tương hợp hoàn toàn với những kiến thức ngày nay của những nhà thiên văn (astronomers) hay những nhà vật-lý-học về thiên thể (astrophysicists), và đã đi trước khoa-học nhiều thế kỷ. Một Tiểu Thiên Thế Giới có thể so sánh với quan niệm hiện đại về một thiên hà (galaxy) gồm có cả triệu ngôi sao và những hành tinh có thể có sinh vật trên đó. Thí dụ như giải ngân hà (Milky Way) hay M31, hay chòm sao (constellation) Andromeda. Một Trung Thiên Thế Giới có thể so sánh với một chùm thiên hà (galactic cluster) thí dụ như chùm Coma Berenices, và một Đại Thiên Thế Giới có thể so sánh với cái mà Hannes Alfven gọi là siêu thiên hà (metagalaxy) ở trong Đại Vũng (Big Dipper) của Tiểu Ursa (Minor Ursa) trong đó có ít ra là cả triệu thiên hà. Cho tới nay, vì những giới hạn tự tại của những dụng cụ quan sát cho nên các khoa học gia chưa thể đi xa hơn trong việc khảo sát vũ trụ. Nhưng không phải vì những giới hạn kỹ thuật này mà vũ trụ cũng bị giới hạn theo, và nay chúng ta đã hiểu tại sao Đức Phật lại "bỏ ngỏ" quan niệm về vũ trụ hữu hạn hay vô hạn. Điều này chứng tỏ Đức Phật đã thấy rõ khả năng vô tận của con người, và rằng Phật Pháp không phải là những giáo điều cứng nhắc không bao giờ thay đổi. Và đây cũng chính là tinh thần khoa học hiện đại, không có gì có thể coi như là vĩnh cửu, bất biến.
    Nói đến quan niệm về vũ trụ của Phật Giáo thì chúng ta không thể bỏ qua Kinh Hoa-Nghiêm, phẩm Thế Giới Thành Tựu. Trong phẩm này, Bồ Tát Phổ Hiền tuyên thuyết về 10 đặc tính của các thế giới: nhân duyên khởi, chỗ trụ nương, hình trạng, thể tánh, trang nghiêm tánh, thanh tịnh tánh, Phật xuất hiện, kiếp trụ, kiếp chuyển biến sai biệt, và môn vô sai biệt. Để cho vấn đề tương hợp với khoa học được rõ ràng, sau đây tôi xin luận về hai điểm: hình trạng và kiếp trụ các thế giới. Chúng ta hãy xét đoạn kinh văn sau đây:
    Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử! Thế giới hải có nhiều hình tướng sai khác, hoặc tròn...hoặc hình như nước xoáy....hoặc hình như hoa ... có vi trần số hình sai khác như vậy."
    Rồi trong phẩm tiếp theo, phẩm Hoa Tạng Thế Giới, Phổ Hiền Bồ Tát lại tuyên thuyết: "Chư Phật tử! Tất cả thế giới chủng đó hình trạng đều khác nhau: hoặc hình núi Tu Di, hoặc hình sông, hoặc hình xoay chuyển, hoặc hình nước xoáy, hoặc hình trục xe... hoặc hình hoa sen... có vi trần số hình trạng như vậy." ("Kinh Hoa- Nghiêm", Thích Trí Tịnh, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản).
    So sánh với những hình trạng của các chòm sao, giải thiên hà, ngân hà khám phá bởi khoa học ngày nay chúng ta thấy Phật giáo đã mô tả hình trạng của chúng một cách vô cùng chính xác. Thí dụ như các hình như bánh xe, nước xoáy chúng ta có thể quan sát được trong các chòm sao như Cetus, Pegasus và Hercules, hình sông là giải ngân hà (Milky Way) và nhiều thiên hà khác, hình dạng như hoa là những khối tinh vân trong khoảng không gian liên-thiên-hà (intergalactic clouds of gas) có chứa hàng tỷ ngôi sao v.v... Thật tôi không thể tưởng tượng được ở một thời chưa hề có kính thiên văn, dù thô sơ nhất, mà Đức Phật và các Đại Bồ Tát đã có những hiểu biết chính xác về vũ trụ như trên. Nếu không phải vì đã giác ngộ hoàn toàn, nắm vững cơ cấu huyền bí của vũ trụ, thì làm sao có thể biết được những điều như trên. Và chúng ta cũng nên nhớ là những điều đức Phật và các Bồ Tát chọn để tuyên thuyết cho người đời chẳng qua cũng chỉ là một nắm lá trong tay so với số lá cây trong rừng.
    Tiếp theo, về kiếp trụ của các thế giới, Kinh văn viết rằng:

    "Lúc đó Phổ Hiền Bồ-Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử! Nên biết thế giới hải có thế giới hải vi trần số kiếp trụ, hoặc có a-tăng-kỳ kiếp trụ, hoặc có vô-lượng kiếp trụ, hoặc có vô biên kiếp trụ, hoặc có vô đẳng kiếp trụ, hoặc có bất-khả-sổ kiếp trụ, hoặc có bất khả xưng kiếp trụ, hoặc có bất khả tư kiếp trụ, hoặc có bất khả lượng kiếp trụ, hoặc có bất khả thuyết kiếp trụ,... có vi trần số kiếp trụ như vậy."
    Rồi trong bài kệ để tuyên lại nghĩa này Bồ Tát Phổ Hiền có giải thích bằng một câu: "Hoặc chỉ một kiếp hoặc vô số, Bởi những tâm nguyện đều chẳng đồng." Chỉ một câu "bởi những tâm nguyện đều chẳng đồng" cũng đã giải quyết vấn đề "thiên sai vạn biệt" trong vũ trụ. Thật là đầy đủ, thật là rốt ráo, thật là chính xác. Nếu chúng ta đi sâu vào một chút trong đoạn kinh văn trên, chúng ta sẽ thấy Phật Giáo đã đi trước khoa học như thế nào.
    Phật giáo phân biệt: Tiểu Kiếp có 16 triệu 8 trăm ngàn năm, Trung Kiếp có 336 triệu năm, và Đại Kiếp có 1 tỷ 344 triệu năm. Theo khoa học hiện nay thì một ngôi sao (coi như là một thế giới) mà chất lượng (mass) càng nặng thì đời sống của ngôi sao càng ngắn. Do đó có những ngôi sao chỉ "sống" được từ 1 tới vài tỷ năm và người ta đã tính được rằng một ngôi sao có chất lượng nhẹ hơn những ngôi sao trên khoảng 90 phần trăm thì ngôi sao này có thể sống tới hàng ngàn tỷ năm. Điều này rất phù hợp với câu kệ trên của Phổ Hiền Bồ Tát, có thế giới chỉ tồn tại một kiếp, có thế giới tồn tại vô số kiếp v.v....
    Thứ đến, những danh từ như a-tăng-kỳ, vô lượng, vô biên,... bất khả thuyết có vẻ như mơ hồ và không rõ ràng như những con số trong thời đại khoa học. Thật ra không phải vậy, vì trong phẩm A-Tăng-Kỳ, Kinh Hoa Nghiêm ta đọc được như sau, tôi xin đánh số cho nó rõ ràng hơn:
    Phật nói: Này thiện nam tử!
    1. Một trăm Lạc Xoa làm một Câu Chi.
    2. Câu Chi lần Câu Chi làm một A-Giu-Đa
    3. A-giu-Đa lần A-Giu-Đa làm một Na-Do-Tha
    4. Na-Do-Tha lần Na-Do-Tha làm một Tần-Bà-La và tiếp tục như vậy tất cả là 123 lần, trong đó số 104 là A- Tăng-Kỳ, số 106 là Vô Lượng, số 108 là Vô Biên, số 110 là Vô Đẳng, số 112 là Bất-Khả-Sổ, số 114 là Bất-Khả- Lượng, và số 120 là Bất-Khả-Thuyết.
    Chúng ta biết rằng khoa học ngày nay dùng ký hiệu lũy thừa để viết những con số lớn. Thí dụ như 1 triệu là con số 1 với 6 con số 0 đằng sau, 1 000 000, theo ký hiệu điện toán được viết như sau: (10^6) hay 106 và đọc là 10 lũy thừa 6; 1 tỷ gồm có 9 số 0 và được viết là 109 (billion), lớn hơn nữa là 1012 (1 ngàn tỷ hay trillion), 1015 (1 triệu tỷ hay zillion) và khoa học chưa có những danh từ riêng để chỉ những con số lớn hơn. Tiếng Việt thì chỉ tới số tỷ là cao nhất.

    ​
    Theo Kinh Phật thì 1 Lạc Xoa là 100 ngàn, nghĩa là 105. Như vậy 1 Câu Chi là 10 triệu, nghĩa là 107; 1 A- Giu-Đa là 100 ngàn tỷ, nghĩa là 1014; 1 Na-Do-Tha là 10 tỷ tỷ tỷ, nghĩa là 1028. Tiếp tục tính ra ta sẽ thấy 1 A- Tăng-Kỳ là khoảng, nếu chỉ lấy 9 số lẻ, 10(8 x 10^31), nghĩa là con số 1 tiếp theo bởi hơn 7000 tỷ tỷ tỷ con số 0 ở đằng sau, một con số vô cùng lớn nhưng vẫn có một tên riêng. Chúng ta có thể suy ra:
    Vô Lượng ~= 10^(3 x 10^32), Vô Biên ~= 10^(1.13 x 10^33),...và Bất-Khả-Thuyết ~= 10^(4.6 x 10^36) nghĩa là con số 1 tiếp theo bởi khoảng hơn 4 tỷ tỷ tỷ tỷ con số 0 đứng đằng sau.
    Những con số khoa học hiện đại dùng tới có lẽ chỉ vào khoảng 10^40 nghĩa là chỉ có 40 con số 0 đứng sau. Chúng ta thấy ngay rằng, ngay cả về phương diện toán số, Phật giáo đã đi trước khoa học khá xa về sự biểu thị chính xác những con số và đã có quan niệm về những con số vô cùng lớn, lớn ngoài mức tưởng tượng của các khoa học gia hiện đại.
    Trên đây tôi đã trình bày sơ lược, sơ lược vì còn rất nhiều chi tiết tôi chưa nói tới, những sự tương đồng giữa Phật Giáo và khoa học hiện đại trong một số quan niệm về vũ trụ, và chứng tỏ rằng những tư tưởng Phật Giáo đã đi trước khoa học nhiều thế kỷ, và rằng Phật giáo cũng vô cùng chính xác trong một số nhận định. Nhưng Phật Giáo không phải chỉ có những tương đồng với khoa học trong bộ môn thiên văn như vừa trình bày ở trên, hay với môn Vật lý các hạt nhỏ (particle physics) như đã trình bày trong cuốn The Tao of Physics của Fritjoff Capra, mà còn nhiều tương đồng khác trong các bộ môn như sinh học (bioscience), vật lý hạt nhân (nuclear physics), triết lý khoa học (philosophy of science), tâm lý học (psychology), phân tâm học hay tâm lý trị liệu (psychotherapy), di truyền học (genetics) v.v..., và nếu khảo sát kỹ thì trong bộ môn nào, tư tưởng Phật Giáo cũng đi trước khoa học khá xa. Cũng vì vậy mà những bộ óc khai phóng, tiến bộ nhất của nhân loại hiện nay càng ngày càng phải tìm về những chất liệu trong Phật Giáo với hi vọng giải quyết những bí tắc trong việc mở mang kiến thức loài người. Ngoài ra, cái tinh thần từ bi hỉ xả và bản chất khoan dung của Phật giáo cũng lần lần đi vào đầu óc của những con người tiến bộ trong thời đại khoa học.
  9. doquoccuong

    doquoccuong Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    25/01/2010
    Đã được thích:
    0
    Tương quan Phật giáo với Triết học và Khoa học

    Phật giáo dạy chúng ta sự chứng ngộ bản thân bằng thể nghiệm tâm linh (empirisme, transcendal) chứ từ chối sự tham dự thuyết minh bằng Duy Lý học và Duy Lý tính (rationalisme, rationalite) của Lý tính (raison), chúng ta biết vậy mà cầu chứng ngộ mà thôi.

    Đạo Phật là đạo giác ngộ, chỉ rõ nguyên nhân đau khổ hiện tại là do vô minh cấu tạo, muốn thấy hạnh phúc phải lấy trí giác và từ bi làm căn bản.
    Vậy Phật tử chúng ta phải tìm hiểu Giáo pháp, cùng nhau tu học để bảo vệ niềm tin chân chánh. Chúng ta cần phải hiểu qua ý nghĩa mục đích của Phật pháp là một giáo dục, nhờ đó mà con người có thể tự giải thoát. Đồng thời chúng ta cũng tìm hiểu sự tương quan giữa triết học Phật giáo, triết học Tây phương và triết học Đông phương với khoa học như thế nào?
    I. Phật giáo
    Trước hết, Phật tử chúng ta cần hiểu Phật giáo là gì? Phật giáo là con đường tiến chung cho nhân loại, chúng sanh trong pháp giới bao la. Phật giáo không riêng gì về một ngành khoa học nào, Phật giáo bao gồm tất cả, như trong Bát chánh đạo nếu khai triển toàn diện các bộ môn học, chính các bộ môn ấy là phương tiện giải thoát và đưa nền văn minh hiện đại trên đường hướng như thật đạo. Đó là Bát chánh đạo:
    - Chánh tri kiến: Bộ môn Khoa học như thật (giải thoát).
    - Chánh tư duy: Bộ môn Triết học như thật.
    - Chánh ngữ: Bộ môn Ngôn ngữ học như thật.
    - Chánh nghiệp: Bộ môn Chính trị học như thật.
    - Chánh mạng: Bộ môn Xã hội học như thật.
    - Chánh tinh tấn: Bộ môn Đạo đức học, Luật học như thật.
    - Chánh niệm: Bộ môn Đạo học, Tâm lý học và Phân tâm học như thật.
    - Chánh định: Bộ môn Tôn giáo học và Thiền học như thật.
    Tất cả tám con đường chân chánh này hỗ tương liên hệ mật thiết với nhau, tương dung tương nhiếp với nhau đưa đến sự giải thoát toàn diện cá thể và tập thể cho con người và xã hội. Phật giáo cũng không hẳn chỉ nằm gọn trong những kho tàng Kinh, Luật, Luận. Phật giáo là chân lý. Điều chúng ta cần phải hiểu giáo lý của đức Phật ví như chiếc bè đưa người qua sông, Chánh pháp còn phải bỏ đi huống là phi pháp: “Tri ngã thuyết pháp, như phiệt dụ giả, Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp” (Kinh Kim Cang).
    Phật giáo xây dựng cho con người từ khả năng thông thường đến tiến bộ văn minh như thấy từ sự mê mờ chuyển thành khai sáng. Phật giáo không chỉ đóng khung trong phạm vi mà Phật giáo là những phương thuốc thần diệu để chữa bịnh mê mờ đau khổ của chúng sanh. Phật giáo ra đời hóa giải tất cả mâu thuẫn tranh chấp thiên hình vạn trạng để quy trình về một mối trung đạo.
    Vậy Phật giáo là tất cả mọi chân lý, nền tảng của tất cả mọi triết học và khoa học nhân loại.
    II. Phật giáo và Triết học
    Trước khi đề cập đến triết học, chúng ta phải xác định giữa nền triết học Đông và Tây như thế nào? Triết học Đông chủ trương tổng hợp để đi đến bản thể. Triết học Tây chủ trương đi từ phân tích đến bản thể.
    Tất cả những khái niệm gì có ở trong triết học Âu Tây chúng ta đều thấy có ở trong Phật giáo. Phật giáo chúng ta có Thiền tông chủ trương chứng nghiệm bản thân bằng tịch tịnh, bằng vô ngôn. Tây Âu đã thấy giá trị của Zen Nhật Bản. Toàn bộ giáo lý Phật giáo có mười mấy tông phái và tám vạn bốn ngàn pháp môn. Bởi lẽ, thời đức Bổn Sư Thích-ca còn tại thế dạy chúng ta cũng “tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên” mà vận dụng từng pháp môn trong 84.000 pháp môn để diệt trừ 84.000 phiền não mà thôi. Bàn đến triết học Phật giáo, chúng ta thấy thuyết thứ nhất về sự chuyển hóa từ bản thể nội tại (être immanent) đến cõi vạn hữu vạn pháp, là thuyết Duyên khởi nghiệp cảm. Chúng ta phải cảm nhận rằng Phật giáo là một triết thuyết nội tại (philosophie de I’immanence). Duyên khởi Nghiệp cảm căn bản lý thuyết là Tứ diệu đế và Thập nhị nhân duyên.
    Về triết học siêu hình, Phật giáo không đặt vấn đề siêu hình ngoại tại tức là không đặt vấn đề nguyên lý siêu hình, hữu ngã hay vô ngã là không nói các chuyện mà Nho giáo gọi là Thái cực, nhà triết học Hégel gọi là Tuyệt đối ý (idée absolue), Bà-la-môn gọi là Brahma.
    Trong Nghiệp cảm duyên khởi căn bản lý thuyết là Tứ diệu đế và Thập nhị nhân duyên. Căn bản này là căn bản chung cho cả triết học Phật giáo (système philosophique Bouddhique) nói chung.
    Tứ diệu đế là bốn đế. Đế là gì? Là chân lý căn bản của một học thuyết Triết học Phật giáo. Khổ đế là chơn lý thứ nhất, cũng như Karl Jaspers gọi là Giới cảnh mà jaspers gọi là (situation limité) hàm ý gì?
    Phật giáo lo cho con người trước nên nói ngay về con người. Phật giáo nói ngay về con người hiện hữu rồi chuyển hóa các “dòng sinh mệnh của mình do Nghiệp, xem Nghiệp biết người”. Cũng như nhà triết học Sartre nói rằng con người là tổng số những hành vi của mình (I’homme est la somme de ses actes… I’homme n’est qe sa biographie), câu nói sau phát sinh từ nhà triết học Nietzshe, Sartre, lấy làm ý tưởng của mình. Cũng như Hégel đã nói: hiện hữu đã là hiện hữu (être, c’est avoir été) nghĩa là khi con người đã chết, thì yếu tính cuộc đời người ta mới hiện ra, Phật giáo gọi là Cận tử nghiệp và cổ nhân Á Đông nói cái Quan Định luận. Theo quan điểm của Phật giáo, vì Dục mà gây Nghiệp, vì Nghiệp mà Khổ. Con người khổ, đó là một chân lý không ai chối bỏ được, nó hiển nhiên như một định lý toán học, chính cái khổ ấy mà nó hữu hạn hóa cuộc đời nhân sinh. Vậy chúng ta phải tìm cho ra lý do của sự khổ rồi diệt khổ, chỉ có thế mà thôi. Karl Jaspers cũng nói rằng cái chết, cái đau thương… cũng là những sự kiện nó hữu hạn hóa nhân sinh, những sự kiện ấy nó nằm trong cái “đế” mà Jaspers gọi là Giới cảnh (situation limité) như đã trình bày trên đây.
    Tập là gì? Tập là sự tập hợp. Tập hợp những yếu tố mà ta gọi là cái “dây tương quan”, nó ràng buộc tất cả những “thực thể” (entité) tích lũy trong cái dòng nhân sinh cá nhân (biệt nghiệp), hay đoàn thể (cộng nghiệp). Nhưng đã biết Tập là gì thì phải diệt dục đi, diệt cái “dây” nghiệp. Muốn thế, phải theo một kỷ luật là Bát chánh đạo.
    Vậy Phật giáo chúng ta có bốn đế căn bản, bốn chân lý căn bản (vérités fondementables, fomdements) thì nhà triết học Heidegger cũng có những đế, nghĩa là chân lý căn bản của triết thuyết của ông mà tiếng Pháp gọi là existentiaux, tiếng Việt chúng ta tạm dịch là “hiện hữu tính”. Hiện hữu tính là cái yếu tính của cái mà nhà triết học Heidegger gọi là Dasein, tiếng Pháp là Réalité humaine (nhân thể), Sartre gọi là Pour-soi mà chúng ta tạm gọi là tự tính (nói rộng ra, Nhân sinh tính ấy là tính chất của nhân sinh là:
    1. Đế thứ nhất: Sự khổ, sự cô đơn (déréliction). Tại sao vậy, văn thi Việt Nam chúng ta thường nói: “Con người bị ném ra giữa chợ đời…” thật đúng để tả cảnh con người hình như bị “Thượng đế” bỏ rơi ra đó. Đó là một chuyện phi lý, phi lý cũng như ở Phật giáo chúng ta, chúng ta nói rằng con người khổ, muốn tránh khổ mà cứ theo lời tà, sự ác thì khác nào như ong dại, đập đầu vào cửa kính để tìm lối thoát thân, cầu yên vui trong cảnh sắc thanh, cũng như lỗi mê lầm tưởng rằng uống nước mặn, hòng mong đỡ khát.
    Vì sao khổ? Vì dục vì nghiệp? Vậy tại sao có dục, có nghiệp? Chính tại vì vô minh, hay tại có thức là đầu mối của sai biệt! Tại sao? Nếu chúng ta bạch với Phật tổ, thì Ngài sẽ dạy đại khái rằng Nhân sinh là thế, vạn hữu là thế, con người là khổ thì lo diệt khổ.
    2. Đế thứ hai: Tức là tập đế của Phật giáo nêu nguyên nhân của sự khổ mà nhà triết học Heidegger gọi là sự chết. Chính vì cái đế ấy mà trong triết học Heidegger có cái lý rằng con người là Tứ hướng (être-pour-la-mort) rất ngộ nghĩnh.
    3. Đế thứ ba: Tức là diệt đế của Phật giáo mà Heidegger gọi là Thời chất - tiếng Pháp gọi là Temporalité. Thời gian đây không phải là thời gian của âm lịch, dương lịch mà là thời thức (conscience du temps) hay ý thức thời (temps de la conscience), Heidegger gọi là Bản thể thời (temps ontolo gique), cái tâm con người nó hướng ngoại, phóng thể, hướng thượng để đi cho đến bản thể, thời gian chỉ hiện hữu với ý thức con người mà thôi. Về phương diện Thời chất (temporalité) của Heidegger gọi vấn đề Xuất chất (ek-stase) gồm ba giai đoạn: Quá khứ, hiện tại và tương lai liên tục với nhau gây ra vấn đề Sử tính (historicité) trong cá nhân, chúng ta thấy cái “dòng” vô hình ấy nó “giữ” cái nhất tri trong cuộc đời cá nhân một kiếp hay luân hồi, cũng như giai thoại Nageséna trong kinh Milindapanha. Trong giai thoại đó, thầy Nagaséna chứng minh rằng: cô con gái lớn về nhà chồng tức là cái “thực thể”, cô gái bé (entité) nhỏ con ngày xưa đã lớn lên, thì trước sau gì, quá khứ hay hiện tại hay tương lai (conscience du temps) bé con và nàng thanh nữ về nhà chồng là một người và luôn thể, thầy Nagaséna nói thể để chứng minh rằng một danh sắc hoàn thành một nghiệp thì danh sắc khác sẽ chiếu tính chất nghiệp đó mà phát sinh trong tái sinh. Có thể hiểu, thời tính này là cái thời gian sinh học mà y học hiện đại xác định bằng một thuật ngữ mới: tuổi sinh học.
    4. Đế thứ tư: Là Đạo đế của Phật giáo thì Heidegger gọi là Sự tự do (liberté). Đây là sự Tự do của tất cả học thuyết Hiện sinh thường đề cập tới. Con người không tù hãm, không phụ thuộc vào bản chất tiên thiên (essence à priori), cái mà Nho giáo gọi là Minh đức, Lão giáo gọi là Đạo, Hégel gọi là Lý tính. Con người có tự do hành trình của ý thức, có hai cực, đúng như Dostoeivsky thường nói là “cực” thấp nhất là cõi cơ thể hữu chất mà Sartre gọi là Facticité và “cực” cao nhất là “cõi” mà Phật giáo chúng ta gọi là Niết-bàn, Nho giáo gọi là Thiên lý… và triết học Phật, Lão Trang gọi là Chân không (Chân không chứ không phải là cái không đối với cái Có trong đời sống thông thường) và là cái tự do tuyệt đối và toàn diện (liberté absolue et intégrale). Cái tự do ấy nó biến thể: con người phải sử dụng cái tự do ấy để sống một đời sống Chân sinh (vie authentique) còn nói đến quá trình hiện tượng hóa (phéno ménolo gique) về con người theo Phật giáo, thì cái mà quá trình ấy nó nằm gọn trong quá trình Thập nhị nhân duyên.
    Chúng ta biết rằng khi mâu thuẫn nội tại (contradiction interne immanence) phát sinh, thì vô minh hiện ra (sau khi niệm phát khởi). Thế quá trình diễn hành là gì? Nếu không phải là chuyển và diễn! Bản thể, vì vô minh, hành, động, phải chuyển đã, rồi cái “dây” hành trình mới khởi, và mọi tương quan hiện hữu. Khi thức hiện ra là có chất: chấp chủ-khách, trong-ngoài, không-có, thiện-ác… Nói tóm lại là chấp Nhị nguyên tánh (dualité) của chính chủ thể ý thức của vạn hữu (Nhị nguyên tánh ấy hữu tức là đối đãi với chủ thể ý thức: Sujet connaissant, sujet conscient, đối với các tâm vọng động, vọng niệm…). Vì chấp (do thức) cho nên chấp có tâm, có vật, có tinh thần, vật chất, có hình, có tên nghĩa là có danh sắc cấu tạo luôn cả yếu tính hay bản chất các vật (essence, être; nature). Và Lục nhập ra đời. Lục nhập là năm giác quan và trí để biết cõi khách giới hiện tượng, cõi mà nhà triết học Kant gọi là Phénomène. Platon gọi là Khả giác (monde sensible) (hiện tượng đây không phải là Phénomène) của Husserl, giáo tổ Hiện tượng luận hiện đại (Phénomèologie Husserlienne). Và đồng thời, chủ thể ý thức Xúc tức là tiếp xúc với khách giới (nhiên giới, vật giới, tha nhân giới). Việc đó gây ra Thọ là cảm giác. Đã “gặp” rồi thì thương, yêu, mến, quý tức là Ái. Đã thích thì chủ thể muốn giữ làm của riêng cho nên Thủ, để mà có Hữu mà có, mà cất, mà giấu. Sự sống (sanh) cứ thế tiếp diễn ra mà luân chuyển (luân hồi) cho đến già và chết là Lão Tử.
    Như vậy, Phật giáo dạy chúng ta sự chứng ngộ bản thân bằng thể nghiệm tâm linh (empirisme, transcendal) chứ từ chối sự tham dự thuyết minh bằng Duy Lý học và Duy Lý tính (rationalisme, rationalite) của Lý tính (raison), chúng ta biết vậy mà cầu chứng ngộ mà thôi.
    Lại nữa, nhà triết học Herakleitos chủ trương thế giới Hữu hình hay Vô hình luôn luôn biến động di dịch như dòng nước chảy. Nó không bao giờ như nhau trong khoảnh khắc trước sau. Sự biến dịch này là một luật, một đặt tính thiên nhiên chung cho thế giới Vô hình và vật Hữu hình. Nhà Tâm lý học william James cũng nói “Sinh hoạt hiện tượng Vật lý và Tâm lý như dòng nước chảy mà các phần tử không đứng bên cạnh nhau, song liên tiếp thâm nhập với nhau…”.
    Herakleitos đồng quan niệm như đức Phật, không thừa nhận quyền lực của siêu nhiên. Ông cho họ cùng chung trong vấn đề biến dịch cũng như các loại hữu tình sinh mệnh khác kể cả Thượng đế. Nhà triết học Herakleitos với tư tưởng biến dịch của ông đã nhận thức về chơn lý vô thường như trong giáo lý của đức Phật dạy “Vạn vật vô thường biến chuyển” (everything is impermanent).
    Hai tư tưởng triết học chuyển dịch giống nhau, Herakleitos giác ngộ các hiện tượng di dịch biến động, đồng quan điểm với triết thuyết vô thường của đức Phật. Tuy nhiên, chúng ta phải lưu ý rằng Herakeitos không tìm ra cái “tánh Chơn thường trong các pháp vô thường biến dịch”.
    Đồng thời Herakleitos còn tin tưởng mạnh mẽ vào thuyết Nguyên nhân (cause) và Kết quả (effect). Cho nên, ông cảm thấy hành động của một người có thể gây ảnh hưởng đến bản tánh và vận mệnh của họ trong hiện tại và tương lai. Thượng đế và thần linh không liên hệ gì đến nhân quả của con người. Triết thuyết này rất giống với triết lý Karma (nghiệp báo) của Phật giáo. Đức Phật thường nhấn mạnh do hành động (action) của con người mà quyết định vận mệnh tồn vong, sang hèn, tốt xấu của họ, chứ không phải sự định đoạt của Phạm thiên, Thượng đế hay Thần linh chúa tể nào khác.
    Cũng như tư tưởng của Arthur Schopenhauer giống triết học khổ đế và tập đế của Phật học. Ông Schopenhauer quan niệm đời sống đầy đau khổ. Cái khổ não không những đưa đến cho loài người mà cả các loài khác nữa. Ông suy nghiệm và biện chứng, đầu mối và nguồn gốc của khổ não là vì con người tham sống, thích sống và yêu sống (The Will to life). Quan điểm của ông Shopenhauer chỉ nhận thức kết quả đau khổ sầu não của nhân loại và một phần cái nguyên nhân tại sao con người khổ não. Tư tưởng của ông đến đây bị cắt đứt, ông không tìm ra lối thoát để hướng dẫn nhân loại làm sao để vượt qua vòng đai quằn quại đau khổ. Tuy thế Arthur Shopenhauer đã giác ngộ một phần nào về chân lý Diệu đế của Phật giáo.
    Ta thấy rằng, Arthur Shopenhauer chỉ nhìn cuộc đời như bể khổ mà nhân loại đang hụp lặn giữa dòng nước chảy vô biên, giữa đại dương mênh mông không còn cách nào sống được và cũng không đủ nghị lực bơi vào bờ để thoát chết. Phật giáo cũng quan niệm cuộc đời là bể khổ như sống trong nhà lửa mà nhân loại đang hụp lặn. Tuy nhiên, Phật giáo đã tìm lối thoát và đã hướng dẫn phương pháp để thoát ly cảnh giới đau khổ, đó là bốn chân lý Khổ, Tập, Diệt, Đạo.
    Tư tưởng nhà triết học Von Hartmann chủ trương, triết học của sự sống (philosophy of life) trình bày qua tư tưởng của ông những sắc thái lạc quan, ông tin tưởng qua những sắc thái lạc quan, ông tin tưởng triết học phải là một thứ cung cấp cho đời sống cần nâng cao tinh thần trí thức, dần dần đưa đến chỗ hoàn toàn hiểu biết. Ông tin tưởng tâm linh và trí tuệ con người có thể tiến đến hoàn hảo. Con người không thể nhắm mắt để tham sống, chuộng sống, mến sống mà con người phải có nghị lực chiến thắng tâm tham muốn đen tối phẩm cách hóa sinh hoạt nhân loại đến chỗ cứu cánh. Ông cũng tin tưởng tâm linh và trí tuệ con người có thể tiến đến hoàn hảo.
    Tư tưởng của Hartmann tiến xa hơn Arthur Shopenhauer một bước là ông quan niệm khổ não của con người có thể tiêu diệt khi con người có một nhận thức cao trở về vô ý thức (unconscious) nơi phát xuất đầu tiên. Tư tưởng này cũng như Diệt đế trong Tứ diệu đế của Phật giáo, đức Phật đã dạy: “Nhờ trí tuệ, nhờ sự hiểu biết chơn chánh trong Bát chánh đạo của nguyên lý Tứ diệu đế, không tạo thêm nhân tội lỗi nữa, đồng thời thực hiện tâm niệm và hành động tốt đẹp thiện mỹ”. Cũng như trong Duy thức học nói Alaya (A-lại-da) dần dần huân tập thiện tánh đến khi nào nó được thuần tịnh. Ác khí trong thức A-lại-da sẽ bị đánh đuổi. Lúc bấy giờ, thức ô trược được chuyển thành trí sáng suốt.
    Tuy nhiên ông Hartmann không nhận chân được lối thoát và chỉ vẽ cho nhân loại đến một mục đích cụ thể. Tư tưởng của ông đặt ra như là một giả thuyết đau khổ toàn diện nhân loại mà ông đề cập đến chỉ còn trong tư tưởng mơ mộng, mờ mịt thiếu lối thoát trong tương lai.
    Đối với Phật giáo, đức Phật vạch rõ con đường đi và mỗi cá nhân tự giải thoát “hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi” ngay bây giờ cho đến khi nào xiềng xích khổ não không còn vướng víu vào mình được, chứ không phải đến khi nào toàn diện nhân chủng thoát ly một lần như Hartmann tưởng tượng.
    Phật giáo khuyên con người ngăn ngừa cái hậu quả không tốt do việc làm, lời nói, ý nghĩ gây ra. Nếu tự ta đủ khả năng chận đứng tất cả những chướng ngại làm ngăn chặn bước tiến tinh thần hữu lý thì chúng ta sẽ được giải thoát trong tương lai, và ngay cả trong đời hiện tại này như đức Thế Tôn đã dạy: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”.
    Các triết gia đề cập trong bài này có những quan điểm tư tưởng giống triết học Phật giáo bằng cách này hay cách khác hoặc sâu hoặc cạn, một triết gia người Pháp là Henri Bergson cũng có nhiều điểm tương tự giữa tư tưởng triết học của ông với tư tưởng Phật giáo.
    Bergson nhấn mạnh tư tưởng triết học của ông và giải thích sự sống như một dòng biến chuyển (flow of events) hơn là một đồ vật (a set of things) đặt một chỗ. Quan niệm này giống Phật giáo, quan niệm vũ trụ tràn đầy trạng thái biến chuyển. Quan niệm Bergson như đức Phật đứng về quan niệm tâm lý hơn vật lý.
    Lại nữa, Bergson nói: “Chỉ có con người mới có lý trí, mà cũng chỉ có con người mới có trí tuệ hơn các loài khác”. Ông quan niệm trí năng hoặc trí tuệ vừa làm cho nhân loại tiến tới tốt đẹp cao thượng mà cũng là cái vừa có tính cách làm hư xã hội, gây ý nghĩ băn khoăn, chán nản, lo âu.
    Quan niệm và trí năng của Bergson giống như cái lokikacitan (Thế tục tâm) trong Phật giáo. Thế tục tâm là gì? Thế tục tâm là cái trí năng của phàm tục phân biệt theo tục lụy trần thế. Nhưng Bergson phiền trách cái trí năng của nhân loại như một loại dụng cụ để chứng minh chân lý, mà ông hiểu rằng ngoài cái trần tục tâm có một cái tâm thanh tịnh trí tuệ sáng suốt. Đức Phật chỉ cho nhân loại hiểu có hai thứ tâm. Một là tâm phân biệt đứng trên phương diện tác dụng của tâm mà nói; tâm vô phân biệt đứng trên cái thể của tâm mà nói. Cái tâm trước gọi là cái tâm phàm phu hay thế tục tâm (lokakicita), còn tâm sau gọi là xuất thế tâm hay Thánh tâm (lokakicita racitam) tuyệt đối.
    Phật dạy con người muốn trở về trí huệ thanh cao (supramudane mind) cần phải rèn luyện tâm linh, tập trung tư tưởng hướng về thiền Nageséna (Jhara) để dần dần ly trừ ảo tưởng chấp ngã “tự tịnh kỳ ý” (kinh Pháp cú). Còn Bergson nhận chân trí huệ là dụng cụ để chứng minh chân lý. Nếu ông Bergson hiểu thêm lên một tầng trí tuệ nữa thì cũng không phiền trách cái trí tuệ của con người.
    Con người có một khả năng tự tác, tự đào tạo con người mà Phật giáo gọi là tự giác, tự ngộ. Bergson chủ trương trực giác. Qua cuộc khảo sát ấy con người có tự do ý chí. Con người mất tự do tức là con người thiếu khả năng tiến tới chân lý. Phật giáo dạy cho chúng ta biết rằng chấp ngã là một tai hại như sợi dây ràng buộc, trói con người tù túng một chỗ. Cần dẹp cái tâm trạng quan niệm chấp trước đó để tự giải thoát về cái ngã thực tướng. Cũng như Bergson nói con người phải có tự do ý chí. Có cái hoàn cảnh tự do chính là lúc mà chính là sự hành động biểu dương cái chơn tướng của mình vậy. Tuy nhiên, Phật tử chúng ta cũng nên hiểu rằng tự do không có nghĩa là làm theo sở thích ý muốn của cá nhân mình, vì sở thích của con người nhiều khi sai lầm, không hợp với chân lý, với lẽ phải chung. Ý niệm của Bergson muốn mỗi con người phải được tự do ý niệm, nhưng ông không vạch rõ ý niệm tự do như thế nào để đạt đến cái chơn ngã. Vì con người hiện nay thường lợi dụng danh từ tự do cho nên đôi khi họ làm cho đời sống họ không còn ý nghĩa của nhân luân nữa. Đối với Phật giáo, đức Phật không những tôn trọng tự do ý chí, mà còn nói cho mọi người phải được tự tại. Nhờ tinh thần tự tại, con người mới đủ điều kiện căn bản phát huy khả năng trí tuệ vô biên, dập tắt được những tính xấu, tham ô, dục vọng. Ngài còn đưa ra phương pháp làm cho con người được tự tại giải thoát như trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo Bồ-đề.
    III. Khoa học và Phật giáo
    Đi vào lãnh vực khoa học, chúng ta nhận thấy khoa học chỉ căn cứ vào hiện tượng để tìm chân lý, hoặc nói cách khác khoa học chỉ nương vào hiện tượng của vật bên ngoài để phân tích nghiên cứu tìm hiểu muôn vật để giúp thêm vào những phát minh nào đó.
    Trong thực tại, chúng ta nhận thấy có nhiều vấn đề khoa học không thể giải quyết được như vấn đề giá trị con người thức giả, vì khoa học bao giờ cũng có tính chất chuyển biến và chính một vài nhà thông thái đã chú ý nói rõ tính cách chuyển biến thích hợp đáp ứng theo nhu cầu của nhân loại trong một thời đại chứ chưa phải là chơn lý tuyệt đối.
    Tuy nhiên, khoa học cũng có những điều trùng hợp tương quan với Phật giáo như: khoa học toán, vật lý, điện tử hiện tại… với một trình độ tinh vi nhất đã giúp cho yếu lý này phát minh như người ta thường nói rằng tinh thần Phật giáo rất khoa học thì ngày nay khoa học toán, vật lý, điện tử giúp chúng ta thiết lập định đề (Postulat) ấy là tinh thần (seprit) và vật chất (matère). Không phải là hai thực thể (entités) riêng biệt nữa mà là khí (énergie) loãng là năng lực tinh thần (ý chí) và khí cô đọng là vật chất hai thực thể lý và khí trong quan điểm triết học Trung Quốc thời cổ đại.
    Về Phật giáo, cái lượng tử mà chúng ta đề cập ấy là cái nguyên tử (khái niệm không khả giác) hay lượng tử là nguyên tử hay nhân của nguyên tử. Nói một cách khác, lượng tử là A-lại-da hay chủng tử tàng chứa trong A-lại-da, chúng ta có thể kết luận rằng về “mặt” vô lậu chủng tử và “mặt” hữu lậu chủng tử là hai phương diện của một thực thể. (entité ontologique chứ không phải là thực thể tâm lý là entitépsychologique) cũng như Âm Dương là hai mặt của thực thể Thái cực, cũng như cái Dasein (mức thấp) của Heidegger có hai mặt chủ thể ý thức và “khách giới” đối tượng, cũng như cái cơ cấu Chủ khách tính (structurenéoticonoematique) của Husserl là Giáo tố hiện tượng luận hiện đại, khi mà con người, sau khi “loại” (réductiong phénomenologique) của lớp eidos đạt đến Chủ tính thuần túy và Khách tính thuần túy (ở mức thuần túy gọi là apodicticité) và nếu chúng ta lấy một ẩn dụ là đồng xu hai mặt dẫn dụ cho cái thức của Duy thức luận có hai mặt Chân và Vọng.
    Hai ba ngàn năm về trước, khi các bậc A-la-hán và Bồ-tát đặt vấn đề tế vi chủng tử thì bên Âu Tây vào thời tiền Socratique (époques présocratique) có hai triết gia đặt một cách phôi thai vấn đề nguyên tử (atomes) làm khởi điểm (đúng như các triết tư tưởng gia hiện đại quan niệm) cho khoa học vật lý toán điện hiện đại: hai ông Héracclite và Epicure đã quan niệm như sau:
    a- Yếu tính vạn hữu và vạn hữu là động (người ta không bao giờ tắm hai lần trên một dòng sông)
    b- Vạn hữu lúc nào cũng đương chuyển động, sanh thành (devenir, trái lại Parménide và nhóm triết gia Eléates (540 trước Tây lịch) thì lại cho rằng sự chuyển động của vạn hữu chỉ là sản phẩm của ảo ảnh và vạn hữu bất động (ông ta có nói một câu bất hủ và mờ tối là: Hữu thể hiện hữu, còn phi hữu thể không hiện hữu (L’être est, et le Mon-être n’est pas).
    Đến Démocrite (là cha đẻ của phái Duy vật cổ sơ) (640 TTL), giáo chủ của phái nguyên tử luận (atomisme), ông đưa ra lý thuyết vạn vật phát sinh từ nguyên tử. Hiện tượng là một khối bất phân (masse indivisable ou ou ato), nguyên tử là một lượng tử (corpuscule) lưu hành trong cõi không rỗng (le vide). Démocrite cho rằng hữu trong vạn hữu hiện ra như sau này: những thuộc tính khả giác như mùi, vị, sự nóng, sự lạnh, màu sắc… là những cái khả giác của những hữu bên trong, hay sau cái khả giác ấy tiềm ẩn một thực tại: là những nguyên tử. Vạn hữu phồn tạp chỉ là những sự tập hợp (argégat) những nguyên tử đồng bản chất, chỉ có thứ tự, quan trọng, dung tích, kích thước… là khác thôi. Mỗi một lượng tử (corpuscule) ấy không có một tính khả giác nào, và chỉ có các chiều dài, ngắn, cao, thấp… mà thôi. Nghĩa là nó có Hình và Lượng to hay nhỏ (grandeur et fon ne). Mỗi một nguyên tử như vậy tự nó, nó hiện hữu (đúng như cái en-do của Sartre), nó không do đâu mà phát sinh cả và nó không bao giờ chết (ils sont impérissables) đúng như chúng ta đã nói tới lượng tử trong vấn đề luân hồi.
    Như vậy, Démocrite đã chứng minh lượng tử không bao giờ diệt (hay nguyên tử). Phật giáo quan niệm hình hài cụ thể khi chết có thể tan ra nhưng chủng tử (nhất là tâm tư không bao giờ diệt), đúng như TT. Mật Thể đã viết trong thế giới quan Phật giáo, xb 1967: “Trong vũ trụ chẳng có cái gì là mất hẳn, từ một hiện tượng này qua một hiện tượng khác, chỉ là một sự thay đổi về hình thái, cho nên mất rồi lại có. Người ta chết đi rồi tập hợp một đời sống khác và theo Phật giáo nhân sinh là một cuộc tập hợp của quá khứ, rồi do tập hợp hiện tại làm nguyên nhân cho cuộc tập hợp về tương lai. Cái chủ lực làm ra tập hợp ấy là nghiệp thức”. Vấn đề nghiệp quả và luân hồi cùng vấn đề lượng tử, chúng ta thấy chúng nó không siêu hình một chút nào, mà trái lại có thể thuyết minh bằng những nguyên lý khoa học, phát sinh từ 2500 năm về trước với Démocrite trong vấn đề nguyên tử và đương tiến hành ngày nay dưới nhãn hiệu vật lý điện tử hiện đại mà kinh Phật càng ngày càng thể hiện rõ bố cục cấu tạo.
    Và cách đây 2500 năm, đức Phật Thích-ca dùng Thiên nhãn minh nhìn thấy trong chén nước có vô số vi trùng nhưng lúc đó khó mà người ta tin được. Ngày nay, bác sĩ Pasteur đã phát minh ra kính hiển vi mới nhìn thấy vi trùng trong chén nước, điều đó chứng minh lời nói đức Phật đúng với khoa học thực nghiệm chính xác.
    Ông Ostwald là một nhà hóa học Đức đề xướng thuyết Động năng (energism). Ông quả quyết không vật kiện gì là cứu cánh vững chắc mang danh là chất cứng đại (solìd matìere) mà không bị tan vỡ. Các khoa học gia ngày nay cho rằng tất cả vũ trụ vật thể liên quan đến luồng sóng sức mạnh. Luồng sóng này có hai loại: luồng sóng kết hợp gọi là sắc chất, luồng sóng phân tán gọi là quang tuyến hay ánh sáng (những vật thể to lớn khi đem nghiền nát thành mảnh nhỏ đến khi như vi trần). Đó là kết quả luồn sóng phân tán và tự do tung hoành trong không gian. Về Phật giáo, đức Phật thuyết minh học thuyết Vô thường biến chuyển, sự cấu tạo vũ trụ vật lý do các nguyên tố: đất, nước, gió, lửa, hư không (không khí), linh thức (giác tính hay linh tri).
    Tất cả sáu công năng trên đang bay biến tràn đầy vũ trụ nên gọi là Lục đại Duyên khởi, lại tự nó làm nguyên nhân cho nhau mà sinh ra vạn hữu. Tính chất công năng của sáu đại ấy rất tinh tế không phải là hình thức thô sơ, hay những nguyên tố điện tử của nhà khoa học.
    Theo Phật giáo sáu yếu tố khác nhau là quan niệm có một bản thể bình đẳng như nhất gọi là Không tướng hay chân không, như trong Bát-nhã Tâm kinh ghi “Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt” vậy. Nhưng nhà khoa học chưa giải thích được vấn đề giá trị con người. Đành rằng phát minh khoa học có phần giúp ích cho đời sống nhân loại rất nhiều, chẳng hạn khoa học không gian đã sáng chế phát minh lên đến sao Hỏa, sao Mộc, tính được vòng quay của quả địa cầu, những phương tiện truyền tin tối tân, di chuyển tiến bộ vượt bậc v.v… hoặc khoa học đã tìm được nhiều thế giới hữu hình khác. Chúng ta cũng thường được nghe trong kinh A-di-đà, đức Thế Tôn đã nói có rất nhiều thế giới “tam thiên đại thiên thế giới”. Cách đây 2500 năm, lời nói của đức Phật người ta khó mà tin được, ngày nay nhờ khoa học không gian để chứng minh lời nói của đức Phật là đúng với sự thật.
    Ngày nay, các nhà khoa học hiện đại đã xác nhận những sự tương quan Phật học, khoa học như:
    Nhà vật lý Hoa kỳ Albet Einstein (1879-1955) khám phá thuyết tương đối được giải Nobel về vật lý đã nói: “If there is any religion that would cope with modern scientific needs it would be Buddhism” (Nếu có một tôn giáo nào có thể đương đầu với khoa học hiện đại thì tôn giáo đó phải là Phật giáo). Nhà thi sĩ, ký giả Anh, tác giả tập thi ca “Ánh sáng Châu Á” diễn tả cuộc đời và giáo lý của đức Phật xuất bản năm 1879 đã phát biểu: “I have often said, and I shall again, that between Buddhism and modern science there exists a close inellectual bond” (Tôi đã thường nói và tôi sẽ nói mãi, nói nữa giữa Phật giáo và khoa học hiện đại có quan hệ tinh thần khắn khít). (Sir Edwin Arnoid). Nhà toán học, vật lý và triết học gia Pháp là Blaise Pascal (1623-1662) đã viết “Con người vĩ đại hơn sức mạnh mù quáng của thiên nhiên vì lẽ cả đến khi nghĩ rằng con người bị hủy diệt bởi những sức mạnh ấy, con người vẫn giữ được cao cả hơn bằng sự hiểu biết các sức mạnh ấy”. Lại nữa, Phật giáo mang sự thật xa hơn nữa: Phật giáo cho thấy bằng phương thức hiểu biết, con người có thể kiểm soát được mọi trạng huống của mình. Con người có thể ngưng, thoát khỏi bị nghiền nát bởi sức mạnh thiên nhiên và sử dụng những luật của sức mạnh thiên nhiên để tự mình đứng lên chống đỡ.
    Luật gia Anh Christmas Humpreys đã diễn tả: “Buddhism is, on the contrary, a system of thought, a religion, a spiritual science and a way of life, which is reasonable, practical and all-embracing. For 2500 years it has satisfied the spiritual needs of nearly one-third of mankind. It appeals to the West, insists on self-reliance coupled with tolerance for the other's points of view, embraces science, religion, philosophy, psychology, ethics and art, and points to man alone as the creator of his present life and sole designer of his destiny” (Phật giáo, ngược lại, là một hệ thống tư tưởng, một tôn giáo, một tinh thần khoa học, một lối sống hữu lý, thực dụng và bao quát. Trong 2500 năm, Phật giáo đã thỏa mãn nhu cầu tinh thần của gần một phần ba nhân loại. Tôn giáo này lôi cuốn Tây phương; nhấn mạnh về lòng tự tin đi đôi với sự bao dung đối với quan điểm của người khác; bao quát khoa học, triết học, tâm lý học, đạo đức và mỹ thuật; chỉ rõ con người là kẻ sáng tạo ra chính cuộc đời này của mình và là kẻ thiết kế duy nhất của số phận mình).
    Nhưng một số phương diện khác khoa học đã đi lầm, đã quá lợi dụng vật chất phát minh ra nhiều cơ khí giết chết người gây họa chiến tranh tàn khốc cho nhân loại và khoa học dù tài giỏi đến đâu cũng không thể gạt khỏi những hạt lệ thương tâm của lòng người thiếu phụ nhất là bà mẹ Việt Nam đang quằn quại rên rĩ thương tiếc đau thương cho những đàn con không mồ xương thây, không trọn mấy mươi năm về trước.
    Nhiều nhà bác học ở Âu Tây đã kết tội khoa học văn minh vật chất chỉ đưa con người đến chỗ chết, đưa người ta vào con đường khủng hoảng trụy lạc. Bác sĩ, Allexis Carcel đã từng than thở: “Nếu các nhà khoa học của thế kỷ trước đây chịu khó nghiên cứu tâm hồn con người, thì văn minh không bị khủng hoảng như ngày nay”.
    Heidegger nhà triết học trứ danh người Đức đã phủ nhận sự vắng mặt của Thượng đế và sự phục hồi Nội tính thể, kêu gọi chúng ta trở về với tư tưởng thiền định (pensée médiante) và từ bỏ tư tưởng tính toán của tổ chức kinh doanh, mỹ thuật, kỹ nghệ, cơ khí, chính trị, khoa học… để tự cứu mình và giải thoát lấy mình đúng như lời Phật dạy: “Các người hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”. Lời thuyết pháp tuy vắn tắt nhưng cũng đủ khẳng định rằng đạo Phật đầy tinh thần độc lập và tự chủ.
    Tóm lại: Triết học và khoa học đối với Phật giáo có một phần tương quan nhưng cũng có dị biệt. Phật tử chúng ta phải tìm hiểu, nghiên cứu, nhận định đúng đắn những điểm tương quan và điều dị biệt để ứng dụng đạo Phật theo tinh thần Chân-Thiện-Mỹ và luôn luôn lấy hành động làm khởi điểm, lấy học tập, kinh nghiệm làm phương tiện và lấy tu chứng làm cứu cánh giải thoát. (Nguyên Lam)
  10. doquoccuong

    doquoccuong Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    25/01/2010
    Đã được thích:
    0
    Phật giáo là một triết lý hay tôn giáo?

    Sự giác ngộ của đức Phật không phải là sản phẩm của một tri thức thuần tuý.
    Xã hội Aán độ thời đức Phật tại thế, có nhiều người có học thức theo đuổi tri thức chỉ đơn giản phục vụ cho nhu cầu lợi ích của riêng họ. Những người này chất chứa trong họ đầy những kiến thức lý thuyết. Thực tế, một vài vị trong số họ du hành từ thành này sang thành khác thách thức mọi người tranh luận và sự cảm xúc kích động lớn nhất của họ là đánh bại đối phương trong những đợt tranh luận bằng miệng như thế. Song đức Phật dạy rằng những hạng người như thế thì không gần với sự giác ngộ chân lý bởi vì mặc sự thông minh sáng suốt và tri kiến của họ họ không có chân trí tuệ để điều phục tham lam, sân hận, si mê. Trong thực tế, những người này thường rất tự hào và vô minh. Những quan niệm về bản ngã của họ làm quấy nhiễu cái không khí tôn giáo.
    Theo đức Phật, con người ta trước hết phải tìm hiểu được nguồn tâm của chính mình. Điều này được thực hiện thông qua sự tu tập định, mà chính nhờ định con người ta mới có được nguồn trí tuệ uyên thâm bên trong hoặc là sự giác ngộ thâm uyên. Và nguồn trí tuệ này đạt được không phải bằng con đường tranh biện triết lý hoặc là tri thức thế gian mà là bằng con đường nhận thức yên lặng về bản chất vô minh của tự ngã.
    Phật giáo là một triết lý sống chân chánh nhằm mang lại một cuộc sống hòa bình va an lạc, hạnh phúc cho mỗi chúng sinh hiện hữu trên cuộc đời này. Phật giáo là một phương pháp đoạn trừ những khổ đau trong cuộc sống và tìm ra con đường giải thoát, giác ngộ. Giáo lý của đức Phật không chỉ hạn hẹp trong một phạm vi quốc gia hay chủng tộc nào. Đó cũng không phải là một tín ngưỡng hay là một niềm tin suông. Đó là một lời dạy cho toàn thể vũ trụ. Đó là một hệ thống giáo lý dành cho tất cả mọi thời đại. Mục đích của những lời dạy ấy là nhằm phục vụ với tinh thần vị tha, vô ngã, thiện chí, hòa bình, giải thoát, tự do khỏi tất cả những khổ đau của cuộc đời.
    Giải thoát, tự do trong Phật giáo là để phục vụ cho lợi ích của cá nhân. Chúng ta phải tự cứu lấy chính bản thân mình cũng như chúng ta phải ăn, uống và ngủ nghỉ cho chính bản thân. Lời khuyên được đức Phật đưa ra nhằm chỉ cho nhân loại con đường hướng đến sự giải thoát; chứ đức Phật không bao giờ dự định đưa ra những lời khuyên nhằm lấy đó xây dựng nên một hệ thống học thuyết hay là một triết lý. Khi Ngài được mọi người hỏi đến hệ thống học thuyết nào Ngài thuyết giảng, đức Phật đáp lại rằng Ngài không thuyết giảng bất cứ hệ thống học thuyết nào và bất cứ những điều Ngài thuyết giảng là kết quả của những kinh nghiệm mà chính bản thân Ngài đã kinh qua. Do đó, giáo lý của Ngài không đưa ra một hệ thống học thuyết nào cả. Học thuyết không thể mang con người tiến lại gần sự hoàn thiện về mặt tâm linh. Những học thuyết chính là những kiết sử trói buộc tâm thức con người và cản trở sự tiến bộ về mặt tâm linh. Đức Phật nói: “Những bậc trí không tin vào những học thuyết đã được thông qua. Họ chỉ tin vào những gì đã kinh qua mà bản thân họ đã thấy và nghe”.
    Những học thuyết là sản phẩm của tri thức và đức Phật hiểu được những sự hạn chế của tri thức nhân loại. Ngài dạy rằng sự giác ngộ không phải là sản phẩm của tri thức. Người ta không thể đạt được sự giải thoát bằng cách tham gia vào một khóa học cung cấp tri thức. Lời phát biểu này dường như phi lý song đó là chân lý. Giới trí thức có khuynh hướng bỏ ra nhiều thời gian quý giá của mình cho việc nghiên cứu, cho những phân tích nghiên cứu và dự kiện. Họ thường dành rất ít hoặc không có thời gian cho việc hành trì.
    Một tư tưởng gia vĩ đại (một triết gia, khoa học gia, siêu hình học gia v.v…) cũng có thể hóa ra là một người tri thức ngu muội. Vị ấy có thể là một con người khổng lồ về tri thức, có khả năng cảm nhận những ý kiến một cách nhanh nhẹn và bày tỏ những cảm xúc rõ ràng. Nhưng nếu vị ấy không chú ý đến hành động của mình và những hậu quả của nó và nếu vị ấy chỉ hướng đến việc thành đạt những ham muốn và ý định của bản thân mình dù bất cứ giá nào thì lúc đó, theo đức Phật, vị ấy là một con người trí ngu muội, một con người cấp dưới có tri thức. Một con người như thế sẽ thực sự ngăn cản sự tiến bộ về mặt tâm linh của vị ấy.
    Những lời dạy của đức Phật bao hàm nguồn trí tuệ thiết thực không thể bị hạn cuộc trong một học thuyết hay một triết thuyết nào bởi vì triết lý đề cập chủ yếu đến vấn đề tri thức chứ nó không quan tâm đến vấn đề chuyển dịch tri thức thành những hành động được hành trì hằng ngày trong cuộc sống.
    Phật giáo chú trọng đến việc hành trì và giác ngộ. Triết gia có thể nhìn thấy những khổ đau và những thất vọng của cuộc đời song không giống như đức Phật, ông ta không đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm vượt qua những khổ đau của chúng ta vốn là một phần của bản chất vô thường của cuộc đời. Triết gia chỉ đẩy những tư duy của mình đến chỗ bế tắc. Triết lý thì hữu dụng bởi vì nó làm giàu và phong phú thêm sự tưởng tượng về mặt tri thức và xua tan lòng tự tin mang tính giáo điều khiến cho tâm không thể tiến bộ xa hơn nữa. Xét đến mức độ đó, phật giáo đánh giá cao triết học, song triết học đã thất bại trong việc làm dịu đi cơn khát tâm linh.
    Nên nhớ rằng mục đích chính yếu của Phật giáo là đạt được sự thanh tịnh và giác ngộ. Sự giác ngộ đánh bại sự vô minh vốn là cội nguồn của sanh tử. Tuy nhiên, sự đánh bại vô minh này không thể đạt được ngoại trừ chỉ bằng tu tập lòng can đảm tự tin của chính chúng ta. Tất cả mọi nỗ lực khác, đặc biệt những nỗ lực chỉ thiên về mặt tri thức thì không có hiệu quả. Đây là lý do tại sao đức Phật kết luận: “Những câu hỏi siêu hình này không mang lại lợi ích, chúng không liên quan đến Chánh pháp; chúng không đưa đến chánh hạnh, hoặc là ly tham, hoặc là sự thanh tịnh không có các tham ái, không đưa đến sự tĩnh lặng, không đưa đến tri kiến chân thật, cũng không đưa đến trí tuệ cao hơn, Niết bàn”. (Trung Bộ Kinh-Kinh Malunkyaputta). Trong lĩnh vực suy cứu siêu hình học, đức Phật quan tâm nhiều hơn đến một giáo lý chứa đựng một sự hiểu biết thiết thực về Bốn Chân Lý (Tứ Thánh Đế) mà Ngài đã khám phá ra: đó là khổ đau là gi, nguồn gốc của khổ đau là gì, sự đoạn tận của khổ đau là gì và làm thế nào để vượt qua khổ đau và chứng đắc sự giác ngộ cuối cùng. Những chân lý này là những vấn đề thực tế phải được liễu tri hoàn toàn và chứng đắc hoàn toàn bởi những ai thực sự kinh qua sự giải thoát, giác ngộ.
    Giác ngộ là sự chấm dứt, xoá sạch gốc rễ của vô minh; đó là một lý tưởng sống của người Phật tử. Hiện nay chúng ta có thể chứng kiến rõ ràng rằng sự giác ngộ không phải là một hành động mang bản chất tri thức. Thái độ chỉ suy cứu, tư biện trái ngược với sự giác ngộ và không có sự quan hệ gần gũi thân tình với cuộc sống. Đây là lý do lý giải tại sao đức Phật chú trọng nhiều hơn đến kinh nghiệm cá nhân. Thiền định là một hệ thống khoa học thực tiễn để chứng minh Chân lý có được nhờ vào kinh nghiệm bản thân. Nhờ thiền định, ý chí cố gắng vượt khỏi những điều kiện mà nó đã đặt lên tự ngã và đây là sự giác ngộ của ý thức. Siêu hình học chỉ trói buộc chúng ta trong một khối tư tưỏng và ngôn từ rối rắm và lộn xộn.
    PHẬT GIÁO LÀ TÔN GIÁO BI QUAN, TIÊU CỰC?Phật giáo không bi quan cũng không lạc quan mà Phật giáo là một tôn giáo thiết thực.
    Có một số nhà phê bình cho rằng Phật giáo là tôn giáo bệnh hoạn, u sầu, yếm thế, luẩn quẩn xung quanh mặt đen tối và bóng râm của cuộc đời, một kẻ thù của những thú vui vô tội, và là một kẻ giẫm đạp không có cảm giác lên những niềm vui ngây ngô của cuộc đời. Họ cảm thấy Phật giáo như là một tôn giáo bi quan, như là một sự nuôi dưỡng một thái độ tuyệt vọng đối với cuộc đời, là một sự khích lệ mang tính mơ hồ, một cảm giác tổng quan rằng khổ đau và tội lỗi ngự trị trong những lợi ích của con người. Những nhà chỉ trích này căn cứ quan điểm của họ trên Chân lý thứ nhất rằng tất cả các pháp hữu vi trong trạng thái đau khổ. Dường như họ quên rằng đức Phật không chỉ dạy nguyên nhân và sự chấm dứt khổ đau mà ngài còn dạy phương pháp để chấm dứt khổ đau. Trong bất kỳ trường hợp nào, liệu có một bậc đạo sư nào tán thành đời sống thế tục này và khuyên chúng ta hãy chấp lấy nó không?
    Nếu bậc thầy sáng lập của tôn giáo này-đức Phật- là một con người bi quan như thế thì người ta không mong đợi nhân cách của Ngài phải được miêu tả bằng những đường nét mộc mạc hơn là đã được vẽ như trước đây. Hình ảnh đức Phật chỉ là một sự nhân cách hóa của tình thương, hoà bình, chân thành, hy vọng và thiện chí. Nụ cười hấp dẫn và toả rạng của đức Phật, được cho là huyền bí và khó hiểu, là tấm gương hoàn hảo nhất của giáo lý của Ngài. Đối với những con người lòng đầy lo lắng và nản lòng, nụ cười giác ngộ và niềm hy vọng của Ngài là chất cam lồ bổ dưỡng và êm dịu vô tận.
    Đức Phật rải tình yêu thương và lòng từ bi của Ngài trong khắp tất cả các phương hướng. Một con người như thế khó lòng mà gán cho là một con người bi quan. Và khi thanh kiếm của những bậc vua chúa và hoàng tử hạnh phúc lắng nghe ngài, họ nhận ra rằng sự chinh phục chân thật duy nhất là sự chinh phục của tự ngã và cách tốt nhất để chiến thắng được con tim của nhân loại là dạy họ biết cách trân trọng Pháp-Chân lý.
    Đức Phật tu tập tính hài hước của Ngài đến mức cao độ đến nỗi những đối thủ không đội trời chung với Ngài được làm nguôi giận với một sự thoải mái vô cùng. Thường thì họ không thể không mỉm cười chính họ. Đức Phật có một ảnh hưởng rất tuyệt vời; ngài lau chùi sạch sẽ những hệ thống độc tố vô cùng nguy hiểm của họ và sau đó họ trở thành nhiệt tình theo gót chân Ngài. Trong các bài thuyết giảng, thảo luận và hội thoại của Ngài, Ngài xác nhận sự tự tin và thái độ bình tĩnh khiến Ngài được mọi người kính trọng và yêu mến. Làm thế nào chúng ta có thể kết tội cho một nhân vật như thế là bi quan, tiêu cực?
    Đức Phật không bao giờ mong đợi chư đệ tử Ngài thường xuyên suy nghĩ liên miên về nỗi khổ đau của cuộc đời và sống một cuộc sống khổ đau và bất hạnh. Ngài chỉ dạy sự thật khổ đau để mà Ngài có thể chỉ cho nhân loại làm thế nào để vượt qua nỗi đau khổ này và tiến đến con đường của hạnh phúc. Để trở thành một con người giác ngộ, người ta phải có niềm hoan hỷ, một trong những yếu tố mà đức Phật yêu cầu chúng ta phải tu tập. Niềm vui hay sự hỷ lạc hầu như đâu phải là bi quan.

Chia sẻ trang này