1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Các chiên gia thế giới "mổ xẻ" sự mất giá của VND, cắt nghĩa "cơn say" tăng trưởng của VN

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by LHF2D, Nov 16, 2010.

Có 3162 người đang online, trong đó có 89 thành viên. 18:02 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. Có 1 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 1)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. LHF2D

    LHF2D Thành viên rất tích cực

    Joined:
    May 17, 2010
    Likes Received:
    0
    Các bác bình "loạn" đi chứ:

    IMF, WB "can" Việt Nam đánh đổi ổn định lấy tăng trưởng

    Tác giả: VEF
    Bài đã được xuất bản.: 1 giờ trước

    (VEF) - "Tập trung ổn định vĩ mô, tái điều chỉnh chiến lược theo hướng tăng trưởng bền vững, thì chẳng có lý do gì Việt Nam không đạt được tăng trưởng như 20 năm qua", đại diện IMF bình luận trong cuộc bàn tròn trực tuyến hôm 12/11 trên VEF.

    LTS: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2010, lựa chọn nào trong chính sách điều hành năm tới đã được đại diện WB, IMF và Viện Kinh tế Việt Nam mổ xẻ, phân tích trong cuộc bàn tròn với chủ đề "Điểm nghẽn nào cản trở kinh tế Việt Nam" hôm 12/11, do Diễn đàn Kinh tế Việt Nam - báo VietNamNet thực hiện.
    Trong phần 1 đã được đăng tải hôm 15/11, ông Benedict Bingham, đại diện thường trú cao cấp của Quỹ tiền tệ quốc tế tại Việt Nam, đã "mổ xẻ" nguyên nhân dẫn tới sự mất giá của tiền đồng. Theo ông, Chính phủ phải nỗ lực hơn nữa để đưa ra những chính sách mạnh nhằm hồi phục lại niềm tin của những người tiết kiệm tiền đồng.


    Ở phần 2 của bàn tròn, bà Victoria Kwakwa, Giám đốc World Bank Việt Nam, đã cắt nghĩa việc Việt Nam quá tập trung vào con số tăng trưởng, không phải do áp lực từ phía WB mà do truyền thống từ lịch sử nền kinh tế tập trung của Việt Nam, một nền kinh tế quá tập trung vào kế hoạch, vào mục tiêu, vào thành tích.


    Diễn đàn Kinh tế Việt Nam trân trọng giới thiệu tiếp tới bạn đọc phần 2 với nội dung chính xoay quanh câu chuyện tăng trưởng của Việt Nam.
    [​IMG]

    Nhà báo Việt Lâm: Thưa ông Trần Đình Thiên, là nhà tư vấn kinh tế cho chính phủ, ông nhận thấy tư duy từ bỏ việc chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá đã có hay chưa?

    Ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam:
    Với câu hỏi này là tôi muốn bổ sung vào cách trả lời của bà Victoria. Thực tế mà nói, nước nào cũng muốn tăng trưởng cao cả, nhưng vấn đề là tăng trưởng tốn bao nhiêu nguồn lực, câu hỏi này bà Victoria đã trả lời.


    Thực tiễn cho thấy rằng, Việt Nam chúng ta tăng trưởng khá tốn vốn, vì 8, 9 đồng bỏ ra mới được 1 đồng tăng trưởng. Cái thứ hai là rất tốn tài nguyên, cái thứ ba là rất tốn lao động rẻ tiền.


    Như vậy, làm thế nào để thay đổi tăng trưởng. Tại sao lại ưu tiên tốc độ tăng trưởng mà không ưu tiên cái khác, nền kinh tế cần tăng trưởng cao nhưng nhà nước với tư cách điều hành thì ưu tiên cái nào là chính, hay tốc độ cao có phải là ưu tiên của Chính phủ không.


    Chúng ta thấy chính phủ VN hay ưu tiên tăng trưởng, khi nào thấy bất ổn thì lại ưu tiên ổn định vĩ mô. Khi tăng trưởng thấp chính phủ lại đổ tiền ra ưu tiên tăng trưởng, lúc ấy chính phủ đã hy sinh, đánh đổi cái ổn định bằng cái tăng trưởng, coi tăng trưởng làm mục tiêu trực tiếp.


    Tôi thấy nền kinh tế vẫn cần tăng trưởng cao, nhưng để thực hiện mục tiêu đó nhà nước phải ưu tiên cho ổn định vĩ mô chứ không phải ưu tiên việc đổ tiền ra để đạt được mục tiêu tăng trưởng.


    Khi nhà nước giúp cho ổn định vĩ mô, lòng tin sẽ tốt và doanh nghiệp sẽ đầu tư nhiều, lúc đó nền kinh tế sẽ tăng trưởng cao.
    Nếu nhà nước không lo ổn định mà cứ lo tăng trưởng thì cũng giống như nhiều trường hợp làm đường rất nhiều nhưng mấy ngày sau có cái hố, ô tô đi gặp phải đổ nhào ngay.


    Như vậy cách tư duy về mục tiêu của nền kinh tế đến mục tiêu gắn với chức năng của Nhà nước không phải hoàn toàn đồng nhất. Trong nền kinh tế nhiều bộ phận chức năng, mỗi ông làm một việc để cho nền kinh tế đạt được mục tiêu tăng trưởng cao một cách hợp lý, khi đó phân bổ nguồn lực mới hợp lý được, phân bổ vai vế khi đó mới hợp lý được.


    Ai đóng vai anh hề là anh hề, ai đóng vai vua là vua, ai đóng vai quan là quan, ai dân là dân chứ nếu không ai cũng thích vai vua cả thì không được.


    Tôi cho điều này là không khó thực hiện, vấn đề là nhà nước làm đúng chức năng của mình trong nền kinh tế thị trường.


    Nhưng cái khó là ở chỗ Nhà nước có đủ năng lực để làm việc đó tốt không? Thì đúng như vị đại diện IMF nói, khi Việt Nam vào WTO cái là mọi thứ phức tạp hơn, mình phải rèn luyện, ngày nào cũng phải tập thể dục thì mới khỏe được chứ!


    Phải nâng cao năng lực thường xuyên chứ cứ nghĩ rằng như thế là ổn rồi thì sẽ rất khó. Nền kinh tế thế giới bây giờ ngày càng phức tạp, nền kinh tế mở của Việt Nam cũng ngày càng phức tạp, vì vậy năng lực quản trị của Nhà nước cũng phải được nâng lên.


    Đó là vấn đề hiện nay đang đặt ra và tôi nghĩ rằng khi chúng ta xác định thay đổi mô hình tăng trưởng, thay đổi vai trò của các khu vực kinh tế thì điều này cũng đã hàm ý rằng sẽ có một sự chuyển dịch cơ bản để đáp ứng câu trả lời chất lượng hay tốc độ.


    Chúng ta không được phép bỏ cái nào cả, nếu bỏ tốc độ thì làm sao đuổi kịp thể giới được.

    Bà KwaKwa, Giám đốc Ngân hàng thế giới tại Việt Nam:


    Tôi muốn bổ sung thêm một điểm nhận định những điều mà ông Trần Đình Thiên vừa nêu, đó là về sự hy sinh như ông nói, đánh đổi ổn định để tăng trưởng có vẻ chỉ được áp dụng trong ngắn hạn thôi, còn về dài hạn, chính sự ổn định của nền kinh tế mới là tạo nền tảng cho tăng trưởng.
    Vậy nên nếu chúng ta tập trung vào các yêu cầu và những vấn đề cơ bản để ổn định vĩ mô, cuối cùng, chúng ta sẽ đạt được mục tiêu tăng trưởng.


    Những bất ổn vĩ mô về mặt lâu dài sẽ tạo ra tác dụng tiêu cực lên tăng trưởng.


    Theo cách đó, nếu chúng ta xử lý một số vấn đề mang tính cơ cấu giúp mang lại chất lượng cho tăng trưởng, có thể sẽ rất khó trong ngắn hạn nhưng trong dài hạn, chính điều ấy mới nuôi dưỡng tăng trưởng nhanh hơn trong thời gian dài hơn.


    Tôi muốn nhấn mạnh rằng chúng ta cần phải có những hành động ngay từ bây giờ.


    Có thể ngay bây giờ làm không dễ dàng nhưng đó là sự đầu tư dài hạn cho tương lai.
    [​IMG]

    Nhà báo Việt Lâm: Thưa ông Trần Đình Thiên, ông nghĩ sao về các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô vừa được Quốc hội thông qua, liệu có gì mâu thuẫn giữa việc chúng ta đặt ra mục tiêu tăng trưởng 7,5 % và lạm phát dưới 7%, trong khi theo nhận định của các chuyên gia kinh tế thì đối với các nước khác, lạm phát 7% là một vấn đề rất lớn, ông bình luận gì?

    Ông Trần Đình Thiên:


    Các mục tiêu này dự kiến cho một nhiệm vụ cho nên phải căn cứ vào thực tiễn năm nay để đặt ra cho năm nay.
    Tôi thấy Việt Nam muốn tăng trưởng cao không khó, Việt Nam chắc muốn tăng trưởng 10% cũng được, cho nên theo tôi hiện nay đà tăng trưởng của Việt Nam rất tốt.


    Chúng ta xuống đáy vào tháng 1/2009, từ đó đến nay hết năm 2010, cứ tháng sau tăng hơn tháng trước, đà tăng rất tốt nên việc đạt được mức tăng 7,5% là không khó cho nên ta mới cần tập trung vào những việc khó. Chứ nếu cứ tập trung vào việc dễ rồi việc khó bỏ đó là nguy hiểm.
    Việc khó bây giờ là ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát.


    Câu chuyện là thế này, Tôi vẫn nói cái quan trọng nhất để tăng trưởng chính là lòng tin, mà lòng tin trực tiếp ngay ở chỉ số CPI.
    Cho nên để làm được việc tăng trưởng tốt trong dài hạn chứ không phải chỉ một năm rồi sau đó vất vả tốn bao nhiêu tiền để chống lạm phát, mục tiêu sang năm là cố gắng kéo lạm phát xuống thấp hơn nữa.


    Ở đây tôi muốn nói hai vấn đề.


    Thứ nhất là Việt Nam hiện nay chỉ quan tâm đến mỗi chỉ số CPI, tôi cho rằng về mặt ổn định vĩ mô cần quan tâm đến giá của các tài sản như giá chứng khoán, giá đất đai, giá vàng... những cái này là giá vốn, ta rất ít để ý nhưng thực ra nó rất bất ổn, còn đang bất ổn hơn cả CPI nhưng chưa được quan tâm đúng mức.
    Vì vậy để ổn định vĩ mô không chỉ quan tâm đến chỉ số CPI rồi kéo nó xuống mà còn phải ổn định giá của các loại tài sản.


    Điểm thứ hai tôi muốn nói là nếu đặt mục tiêu kéo lạm phát xuống 5% có khó không, đương nhiên là khó nhưng phải cố để làm được việc ấy.


    Câu hỏi là cơ sở nào để làm được việc ấy?


    Tôi nói có hai yếu tố giúp Việt Nam mà nếu quyết tâm làm thì vẫn có thể ổn định được:


    Thứ nhất là hãy bớt chi tiêu ngân sách đi! Tức là không thể duy trì mức chi tiêu ngân sách năm nào cũng 42, 43% GDP, chúng ta phải quyết tâm hạ chi tiêu ngân sách xuống.


    Ngoài ra còn phải cắt giảm các hạng mục đầu tư công để quản trị hiệu quả. Làm cái này bằng cách để các chi tiêu ấy có thể kiểm soát được. Hiện nay chúng ta chi tiêu quá nhiều dự án, nên không quản trị được, vừa kém hiệu quả vừa tốn kém. Đó chính là dư địa chính sách lớn nhất để chúng ta kéo lạm phát xuống.


    Cái thứ hai là chúng ta nên bớt tham vọng tăng trưởng, chúng ta nén nó lại, nén chưa chắc đã thấp nhưng chúng ta không cần cố mục tiêu tăng trưởng cao. Chúng ta phải cố ổn đinh, lúc đó tăng trưởng 5 hoặc 6% vẫn tốt. Nếu ổn định thì sang năm nó sẽ tăng trưởng tốt hơn vì lòng tin tốt.
    Tức là chuyển hướng mục tiêu ưu tiên của Chính phủ, lúc đó chúng ta sẽ có những thay đổi rất mạnh trong tương quan tăng trưởng nhanh và ổn định.
    Giống như yêu cô nào nhưng nhìn cô ấy ít thôi, nhìn cô khác nhiều hơn thì lập tức cô ấy dễ tán hơn.

    Ông Bernedict Bingham, Đại diện thường trú cao cấp của IMF tại Việt Nam


    Tôi cũng đồng ý với nhận định của ông Trần Đình Thiên ở chỗ là nếu như chúng ta có thể chuyển đổi được ưu tiên giữa tăng trưởng và chất lượng, chúng ta tập trung vào việc điều hành thì mục tiêu tăng trưởng của chúng ta hoàn toàn có thể đạt được. Vấn đề không phải ở thiếu vốn, thách thức là tạo ra một môi trường vĩ mô ổn định cho các nhà đầu tư..


    Còn về lạm phát thì tôi đồng ý mục tiêu 7% là vẫn quá cao, Chính phủ Việt Nan cần có mục tiêu tham vọng hơn, phải gửi tới các nhà đầu tư thông điệp rằng chính phủ cam kết quyết liệt hơn trong việc giảm lạm phát xuống bằng mức trung bình với các nước trong khu vực Châu Á là 3 hoặc 4%.


    Không những thế tôi nghĩ Chính phủ Việt Nam cần phải quyết liệt hơn nữa đối với việc chi tiêu cho các Doanh nghiệp nhà nước, cần phải gây sức ép cho họ để giảm lạm phát hơn nữa thì mới có thể tạo dựng được lòng tin trong nhà đầu tư và nhân dân.


    Về thâm hụt công, một mục tiêu tham vọng hơn cũng là cần thiết. Chính phủ cũng phải gửi thêm một thông điệp nữa cho nhà đầu tư rằng Việt Nam cam kết giảm thâm hụt công, Tôi đồng ý với ông Thiên rằng kỷ luật trong chi tiêu ngân sách sẽ giúp giảm thâm hụt nhà nước một cách đáng kể.


    Vơi việc tập trung nhiều hơn vào ổn định vĩ mô, tái điều chỉnh chiến lược theo hướng tăng trưởng bền vững hơn là tăng trưởng bằng con số trên giấy, tôi cho rằng chẳng có lý do gì Việt Nam không đạt được tăng trưởng như 20 năm qua.
    [​IMG]

    Nhà báo Việt Lâm: Trở lại với đầu tư công, đã bao giờ Ngân hàng thế giới nói với Chính Phủ Việt Nam là chúng tôi thấy các ông chi tiêu chưa hiệu quả, có cần phải vay thêm nhiều tiền như thế từ World Bank hay không?

    Bà Victoria KwaKwa, Giám đốc Ngân hàng thế giới tại Việt Nam:


    Chúng tôi vẫn làm việc với Chính Phủ Việt Nam về thương thảo các khoản vay, các chính sách của chúng tôi phụ thuộc vào bản thân các dự án cải cách của chính phủ. Chúng tôi luôn bàn thảo với chính phủ xem chương trình cải cách của họ như thế nào, đưa ra biện pháp nào là hợp lý. Chúng tôi cố gắng gây ảnh hưởng bằng cách đối thoại với chính phủ, tư vấn và phân tích chính sách. Đương nhiên, vấn đề hiệu quả trong đầu tư và chi tiêu công là vấn đề lớn trong các đối thoại của chúng tôi.


    Trong những năm gần đây chúng tôi tiến hành nhiều hoạt động như chương trình cải cách đầu tư công, trong đó chúng tôi hỗ trợ chương trình kích thích kinh tế của chính phủ. Hoạt động này tập trung rất mạnh vào việc cải thiện tính hiệu quả của đầu tư công. Chúng tôi đã làm xong phần 1 và chuẩn bị thực hiện phần 2 cuối năm nay.


    Các bạn thấy Ngân hàng thế giới đã và đang làm việc với chính phủ Việt Nam về đầu tư công và tính hiệu quả của chi tiêu công. Chúng tôi còn làm việc cả về quản lý tài chính công nữa.


    Chúng tôi thảo luận với chính phủ những nguyên tắc đang được sử dụng trên phạm vi toàn cầu để đánh giá chất lượng của quản trị chi tiêu công. Chính phủ tự đánh giá phương diện quản trị tài chính công của mình trên tương quan với các nước khác. Chúng tôi còn phối hợp với chính phủ thực hiện các Đánh giá tài chính tổng quan. Ngân hàng có nhiều công cụ để thảo luận với chính phủ Việt Nam trong hai vấn đề đặc biệt quan trọng là tính hiệu quả của đầu tư và chi tiêu công.

    Nhà báo Việt Lâm: Nếu Chính phủ Việt Nam đề nghị World Bank cấp khoản vay cho đường sắt cao tốc thì bà nghĩ sao?

    Bà Victoria KwaKwa, Giám đốc Ngân hàng thế giới tại Việt Nam:


    Chúng tôi sẽ xem liệu dự án lớn này có nhận được sự đồng thuận trong xã hội hay không. Để dự án được thông qua ở cấp lãnh đạo, nó phải nhận được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân.


    Bên cạnh sự đồng thuận đó, chúng tôi cũng sẽ tự mình chủ động đưa ra những phân tích về mặt kinh tế: xem việc đầu tư này có hiệu quả hay không, chúng ta có đủ nguồn lực để đầu tư cho dự án hết sức lớn và tốn kém này hay không


    Dự án đường sắt cao tốc sẽ tiêu tốn rất nhiều tiền trong khi chúng ta còn rất nhiều lĩnh vực khác phải quan tâm như giáo dục, y tế. Chúng ta phải cân nhắc xem liệu có nên đánh đổi như thế hay không.


    Nhưng điều quan trọng hơn cả vẫn là những đánh giá và phân tích kinh tế, liệu dự án này có mang lại lợi nhuận kinh tế hay không.


    Hầu hết các dự án chúng tôi đang hỗ trợ ở Việt Nam hiện nay như các dự án cơ sở hạ tầng, chúng tôi đặt ra tiêu chuẩn ít nhất phải thu được 12% lợi nhuận. Nếu bắt tay vào dự án này, mức lợi nhuận của nó cũng phải đạt được như trên.


    Và vấn đề đặt ra là nếu đem tiền đầu tư cho dự án này thì có lẽ sẽ chẳng còn nhiều tiền để đầu tư cho các dự án khác nữa, nên chúng tôi sẽ phải hết sức cân nhắc cẩn trọng xem có nên đổ hết tiền hết vào một dự án lớn như vậy hay không.
  2. LHF2D

    LHF2D Thành viên rất tích cực

    Joined:
    May 17, 2010
    Likes Received:
    0
    Thế này mà nhiều bác cứ đòi ôm cổ xyz:

    Quản lý DNNN, bao giờ đứa trẻ “to xác” mới lớn?

    Tác giả: Thanh Vân (Tổng hợp)
    Bài đã được xuất bản.: 17/11/2010 10:30 GMT+7


    (VEF) - Không có những điều chỉnh kịp thời về công tác nhân sự, không có chứng cứ xác thực để đánh giá ai hoàn thành nhiệm vụ và ngược lại, nên mới chỉ có khoảng 4-5% lãnh đạo các DNNN bị thay thế do không hoàn thành nhiệm vụ.
    LTS: Việc giám sát, nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN, các tập đoàn đang trở thành vấn đề “nóng” hiện nay, qua thực tế khối này đang hoạt động chưa thực sự hiệu quả, thậm chí còn gây sai phạm nghiêm trọng như Vinashin.
    Quyết định rót hàng nghìn tỷ đồng cho 5 tập đoàn, tổng công ty nhà nước khiến dư luận thêm băn khoăn, ngỡ ngàng, khi sự minh bạch, rõ ràng trong quản lý, giám sát các tập đoàn, DNNN còn nhiều lỗ hổng lớn.
    Diễn đàn Kinh tế Việt Nam - Báo VietNamNet giới thiệu cùng bạn đọc một số quan điểm về vấn đề này. Mọi ý kiến trao đổi, mời bạn đọc gửi về địa chỉ email: [email protected]. Xin trân thành cảm ơn.

    Tiến cử người tài, chuyện viển vông

    Báo SGTT dẫn lời Phó Vụ trưởng vụ Đổi mới doanh nghiệp (Văn phòng Chính phủ) Phạm Tuấn Anh, cho biết, một trong những rào cản trong công tác cán bộ tại nhiều DNNN hiện nay là lãnh đạo được dùng như công chức, viên chức, chỉ được thay thế khi đến tuổi về hưu, hoặc có vi phạm nghiêm trọng.
    Do vậy, nhiều doanh nghiệp, dù tìm được người tài cũng khó tiến cử vì không thay nổi nhân sự cấp cao hiện hành.


    [​IMG]



    Vinashin là một bài học đắt giá về quản lý DNNN.

    Kết quả điều tra do Viện Nghiên cứu kinh tế Trung ương vừa công bố cho thấy, trong khối DNNN, đại diện chủ sở hữu tham gia hoạt động quản lý, điều hành chỉ mang tính hình thức; thành viên hội đồng quản trị, hội đồng thành viên (HĐQT/HĐTV) có người đang đồng thời là cán bộ của bộ, UBND cấp tỉnh và cơ quan quản lý nhà nước khác.
    Điều đó có nghĩa, những nhân sự chủ chốt này ít dành thời gian, nguồn lực cho hoạch định chiến lược, quản lý, giám sát, đảm bảo hiệu quả của các doanh nghiệp này.


    TS. Trần Viết Cường, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết, tỷ lệ các chuyên gia từ bên ngoài (chuyên gia kinh tế độc lập, nhà khoa học, tổ chức tư vấn, kiểm toán…) tham gia HĐQT/HĐTV của các DNNN gần như rất ít ỏi, đặc biệt không có trường hợp nào với các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, do vậy không đảm bảo tính độc lập, khách quan và điều kiện để thực hiện chức năng bảo đảm lợi ích các bên có liên quan trong quản trị doanh nghiệp.
    Kết quả điều tra cũng cho thấy, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, HĐQT không có thẩm quyền bổ nhiệm tổng giám đốc, thiếu cơ sở và chưa thường xuyên giám sát, đánh giá về cả HĐQT và những người giữ vị trí điều hành.


    “Vậy nên có số thành viên HĐQT/HĐTV, tổng giám đốc, giám đốc bị đánh giá “không hoàn thành nhiệm vụ là không đáng kể”, ông Cường dẫn giải.


    Thiếu cơ sở để đánh giá

    Một trong những nguyên nhân được nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng, trên thực tế, 68% doanh nghiệp không ban hành các văn bản, quy chế, cơ chế với nội dung cần thiết là cơ sở để đánh giá kết quả hoạt động của HĐQT/HĐTV.


    Đó là hạn chế cả về phương diện quản trị doanh nghiệp và thiếu cơ sở để giám sát, đánh giá về những người giữ chức danh đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại DNNN.


    Do vậy, trong các doanh nghiệp này không thể có những điều chỉnh kịp thời về công tác nhân sự, không thể có các chứng cứ xác thực để đánh giá ai hoàn thành nhiệm vụ và ngược lại. Đây là lý do giải thích kết quả điều tra là chỉ có 5,1% doanh nghiệp cho biết đã có trường hợp thành viên HĐQT/HĐTV, chủ tịch công ty bị thay thế do không hoàn thành nhiệm vụ.


    Tương tự, HĐQT/chủ tịch công ty cũng không thể có cơ sở để đánh giá tổng giám đốc hay giám đốc do mình bổ nhiệm. Điều này cũng tương ứng với tỷ lệ chỉ có 4,1% doanh nghiệp đã từng xảy ra trường hợp tổng giám đốc bị HĐQT thay thế do không hoàn thành nhiệm vụ.


    “Trong khi đó, công tác giám sát, đánh giá nội bộ bị buông lỏng, không hiệu quả, trông chờ vào giám sát từ bên ngoài”, ông Cường nói và giải thích, một trong những nguyên nhân là do nhiều kiểm soát viên vẫn là người nội bộ, ăn lương của doanh nghiệp nên tính chất khách quan sẽ khó đảm bảo.


    TS. Trần Thị Thanh Hồng, Văn phòng Trung ương Đảng, lo ngại, tình trạng kém chất lượng trong giám sát nội bộ các DNNN hiện nay, không những làm giảm hiệu quả của doanh nghiệp đó mà còn làm giảm hiệu lực giám sát từ bên ngoài.


    “Các giám sát phần lớn thông qua báo cáo định kỳ của tập đoàn với chủ sở hữu, do vậy nội dung, độ tin cậy của báo cáo rất quan trọng. Một trong những nguyên nhân khiến cho sai phạm của Vinashin nghiêm trọng, là do sự không trung thực trong báo cáo của tập đoàn với chủ sở hữu”, bà Hồng dẫn chứng.


    [​IMG]
    Minh bạch để trưởng thành.

    Ban kiểm soát doanh nghiệp, lập cho vui

    Dẫn một câu chuyện khác về phân bổ lương và quyền hạn của ban kiểm soát trong doanh nghiệp, báo SGTT cho thấy một thực tế là ở nhiều doanh nghiệp hiện nay, việc lập ra ban kiểm soát chỉ là cho đủ các vai vế theo quy định.


    Những báo cáo của trưởng ban kiểm soát tại đại hội cổ đông cũng rất sơ sài, hầu hết là khen ngợi thay vì đưa ra các ý kiến phản biện theo hướng xây dựng.
    Không ít báo cáo còn cho rằng, hội đồng quản trị và lãnh đạo doanh nghiệp đã tạo điều kiện tốt cho ban kiểm soát hoạt động thay vì khẳng định việc hợp tác là trách nhiệm của mỗi bên theo luật định.


    Theo quy định của luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thực hiện luật này, ban kiểm soát thực chất là một công cụ giám sát hội đồng quản trị và những người điều hành doanh nghiệp.


    Ban kiểm soát đại diện cho lợi ích của cổ đông và công ty. Ban này thực hiện việc kiểm soát toàn bộ hệ thống tài chính và việc thực hiện các quy chế của công ty. Ban này cũng có thể thực hiện việc kiểm tra bất thường và can thiệp vào hoạt động của công ty khi cần.


    Thực chất ban kiểm soát thay mặt chủ sở hữu để giám sát các hoạt động điều hành doanh nghiệp giúp cho việc bảo toàn và sinh lời vốn của chủ sở hữu, đem lại lợi ích cho các cổ đông.


    Tuy nhiên, với mức lương tương đương trưởng phòng lấy nguồn trả lương từ doanh nghiệp, ban kiểm soát mất đi sự độc lập cần phải có. Những người trong ban kiểm soát trở thành nhân viên dưới quyền của hội đồng quản trị và những người điều hành doanh nghiệp.


    “Thậm chí kiểm soát viên được xếp theo hệ thống lương hành chính lại đòi kiểm soát được hoạt động của các tập đoàn! Trách nhiệm cao mà quyền lợi thì ít nên không làm được”, ông Hoàng Nguyên Học, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), nói với SGTT.


    Ông Học cho rằng, cần tách sự phụ thuộc của ban kiểm soát vào doanh nghiệp trước hết từ việc trả lương. Lương của ban kiểm soát hiện do hội đồng cổ đông quyết định. Theo ông Học, ở những tập đoàn, tổng công ty nhà nước và những doanh nghiệp nhà nước đang giữ cổ phần chi phối, ban kiểm soát đang giám sát việc sử dụng, sinh lời của phần vốn nhà nước thì chủ sở hữu phải là người trả lương cho ban kiểm soát.
  3. LHF2D

    LHF2D Thành viên rất tích cực

    Joined:
    May 17, 2010
    Likes Received:
    0
    Nay đọc cái tin này thì thấy các bác ko làm ko được, mà làm vụ này thì động chạm tới khá nhiều anh.
    Sóng chứng khoán lên hay xuống các bác?

    http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/...hoi-lo-in-tien-polymer-Phoi-hop-dieu-tra.html

    Thứ Sáu, 26/11/2010, 07:09 (GMT+7)
    Nghi án hối lộ in tiền polymer: Phối hợp điều tra
    TT - Ngày 25-11, Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng cho biết đã phối hợp với cơ quan tư pháp Thụy Sĩ để làm rõ thông tin Công ty Securency (Úc) đưa hối lộ trong hợp đồng cung cấp chất nền in tiền polymer của VN.

    Công ty Securency International, một công ty con do Ngân hàng Trung ương Úc sở hữu, là công ty hiện cung cấp vật liệu polymer để in tiền ở Úc và gần 30 quốc gia khác trên thế giới, trong đó có VN. Khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng liên quan đến Công ty Securency, có trụ sở tại Thụy Sĩ, cơ quan chống tội phạm nước này đã vào cuộc điều tra vụ việc.

    Ngoài ra, Văn phòng chống tội lừa đảo Anh, cảnh sát liên bang của Úc, Ủy ban chống tham nhũng Malaysia cũng tiến hành điều tra đối với các cá nhân liên quan. Cảnh sát các nước đã đồng loạt tiến hành nhiều vụ khám xét bắt giữ tại Malaysia, Thụy Sĩ, Anh, Úc liên quan tới các nhân viên của Securency bị tình nghi dính líu đến nghi án chi các khoản hoa hồng khổng lồ để có được hợp đồng in tiền ở các quốc gia khác ngoài Úc.

    Trao đổi với Tuổi Trẻ, đại sứ Thụy Sĩ tại VN Jean Hubert Lebet xác nhận Thụy Sĩ và VN đã hợp tác thông tin trong vụ án này. Theo ông đại sứ, phía VN đã chủ động đề nghị Thụy Sĩ cung cấp thông tin. Sau khi xem xét trên cơ sở pháp lý, Thụy Sĩ đã đồng ý hợp tác và hai bên đã có các văn bản giấy tờ, hồ sơ trao đổi về vụ việc.

    Đại sứ Jean Hubert Lebet cũng cho biết do hai nước chưa có hiệp định về tương trợ tư pháp nên khi mỗi quốc gia có yêu cầu về một vấn đề cụ thể thì đều thông qua con đường ngoại giao và các cơ quan trong nước sẽ xem xét để đáp ứng. Tuy nhiên, ông Jean Hubert Lebet cũng nói có một số trường hợp Thụy Sĩ yêu cầu VN giải trình về cá nhân cụ thể nhưng chưa nhận được câu trả lời hoặc có sự chậm trễ trong trả lời.

    Liên quan đến vụ việc này, phó chánh văn phòng Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng, ông Phạm Anh Tuấn xác nhận phía Thụy Sĩ đã khởi tố vụ án liên quan đến vụ việc tại Công ty Securency.

    Ông Tuấn cho biết theo Luật tương trợ tư pháp, Viện KSND tối cao là đầu mối để phối hợp với các quốc gia có tội phạm hay hành vi phạm tội liên quan đến người VN. Về vụ Securency, Thủ tướng đã giao việc này cho Viện KSND tối cao tiến hành thực hiện. Được biết, Viện KSND tối cao đang nghiên cứu những tài liệu được các cơ quan tư pháp Thụy Sĩ chuyển đến, xác minh vụ việc này.

    Năm 2007, Thanh tra Chính phủ kết luận thanh tra Ngân hàng Nhà nước và kiến nghị cơ quan điều tra vào cuộc xem xét hai nội dung về việc giải quyết hợp đồng giấy in tiền và trách nhiệm quản lý quỹ quản lý dự trữ ngoại hối. Thông báo của Thanh tra Chính phủ về kết luận thanh tra Ngân hàng Nhà nước nêu rõ hồ sơ trình Bộ Chính trị về đề án bộ tiền mới, Ngân hàng Nhà nước đề xuất sử dụng cả tiền cotton và polymer nhưng khi trình Thủ tướng phê duyệt đề án chỉ đề xuất dùng giấy polymer.

    Mặc dù việc sử dụng tiền polymer không gây hậu quả xấu về kinh tế nhưng thống đốc Ngân hàng Nhà nước (khi đó là ông Lê Đức Thúy) khi thực hiện đề án đã không đưa ra thảo luận trong tập thể lãnh đạo và Ban cán sự Đảng Ngân hàng Nhà nước là vi phạm quy chế làm việc.

    Thông báo của Thanh tra Chính phủ cũng nêu việc ông Lê Đức Minh (con trai ông Lê Đức Thúy) có hơn hai tháng làm việc cho Banktech (một công ty con của Công ty TNHH Phát triển công nghệ) và việc hai công ty này tham gia quá trình thực hiện bộ tiền mới và cung cấp vật tư, thiết bị cho việc in tiền tuy không trái với quy định của pháp luật nhưng đã gây nghi ngờ về sự khách quan, minh bạch, làm ảnh hưởng đến uy tín của thống đốc.

    Theo thông tin từ tờ The Age và một loạt báo chí Úc, Công ty Securency bị điều tra vì có các khoản chi hoa hồng để có được hợp đồng in tiền ở Uganda, Nam Phi, Ấn Độ, VN...

    MINH QUANG

    Ngân hàng Trung ương Úc bán Securency

    Báo The Age (Úc) ngày 25-11 đưa tin Ngân hàng Trung ương Úc đã quyết định bán công ty con Securency (Ngân hàng Trung ương có 1/2 quyền sở hữu và kiểm soát kể từ năm 1996). Việc bán Securency sẽ khiến Úc không có kiểm soát về các nguồn cung vật liệu sản xuất tiền mặt của quốc gia và 150 nhân công ở Victoria cũng đối mặt với tương lai bất định.


    HN

    Ôm thì nặng bụng, đứt ruột mà bán đi :((:((:((
    -----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

    http://tuoitre.vn/The-gioi/348957/U...nguoi-trong-vu “lai-qua”-in-tien-polymer.html

    Thứ Bảy, 21/11/2009, 16:46 (GMT+7)
    Úc buộc thôi việc hai người trong vụ “lại quả” in tiền polymer


    TTO - Các quan chức tại công ty Securency thuộc Ngân hàng trung ương Úc (RBA) hôm 20-11 vừa phải thôi việc để cảnh sát điều tra hành vi hối lộ nhiều quốc gia nhằm giành hợp đồng in tiền polymer.

    >> Úc điều tra vụ “lại quả” để giành hợp đồng in tiền polymer

    “Vào ngày 23-5-2009, các lý lẽ buộc tội trên báo The Age của Úc cho rằng các khoản tiền lớn đã được dùng làm khoản hoa hồng “lại quả” cho quan chức chính phủ nước ngoài”, Bob Rankin, Chủ tịch Hội đồng quản trị RBA, nói: “Chúng tôi xem xét các cáo buộc đó rất nghiêm túc và tham chiếu với cơ quan Cảnh sát liên bang Úc, buộc những người liên quan dừng làm việc trong quá trình điều tra này”.

    Ngày 19-11, cảnh sát đã khám xét nhà của giám đốc điều hành Myles Curtis tại Mont Albert North và thư ký John Ellery tại Roxburgh Park. Họ cũng thực hiện lệnh khám xét trụ sở của công ty này tại thành phố Melbourne.

    Hội đồng quản trị cũng ra lệnh cho Securency ngay lập tức đình chỉ các hoạt động marketing ở nước ngoài và đề nghị công ty kiểm toán KPMG xem xét lại từng thoả thuận của công ty này với các đại lý ở nước ngoài. Tối 20-11, Securency tiết lộ các kiểm toán viên đã phát hiện ra khoản trả cho bên trung gian đã được một nhân viên nâng lên từ năm 2007.

    Luật pháp của Úc nghiêm cấm các công ty hối lộ cho các quan chức hay công ty nước ngoài do chính phủ quản lý để giành được ưu đãi về kinh doanh. Người bị buộc tội có thể bị phạt tù đến 10 năm, chưa kể các chi phí phạt khác.

    PHAN ANH (theo The Age)
  4. LHF2D

    LHF2D Thành viên rất tích cực

    Joined:
    May 17, 2010
    Likes Received:
    0
    Các bác oánh nhau thì bà con chết hết, biết nghe bác nào đây?

    http://vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/2010/11/3BA2364B/

    Chuyện các ông Thống đốc lên diễn đàn Quốc hội

    Chủ nhật, 28/11/2010

    Sự phân vai không rõ ràng khi phát ngôn về tỷ giá, lãi suất giữa Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đương nhiệm với Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia được đại biểu Quốc hội đem ra chất vấn Thủ tướng.


    Theo đại biểu Nguyễn Thị Bạch Mai, Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia do Thủ tướng thành lập có chức năng chủ yếu là tư vấn, giám sát chính sách, thế nhưng ngày 4/11 vừa qua tại Hà Nội, Chủ tịch Ủy ban Lê Đức Thúy lại đứng ra công bố về tỷ giá, lãi suất, một việc mà theo bà Mai lẽ ra thuộc trách nhiệm phát ngôn của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

    Tại buổi họp này, Chủ tịch Ủy ban Lê Đức Thúy tuyên bố chủ trương để lãi suất vận hành theo cơ chế thị trường. Nhưng theo bà Mai, tuyên bố này không những không hạ nhiệt thị trường mà còn khiến đôla, giá vàng có biểu hiện bất thường.

    "Tôi đề nghị Thủ tướng có ý kiến về tình hình trên, đặc biệt đối với những phát ngôn, những thông tin cần được minh bạch, công khai và chính xác, có trách nhiệm để không mang lại những hiệu ứng tiêu cực đối với thị trường", bà Mai chất vấn Thủ tướng trên diễn đàn Quốc hội sáng 24/11.

    Bà Mai là một người ngoại đạo với ngành ngân hàng. Chất vấn của bà cũng chỉ đề cập một phần câu chuyện nên không phải ai cũng có thể hiểu ngọn ngành. Nhưng với những người trong ngành, đây thực sự là vấn đề đáng lưu tâm. Bởi câu chuyện không chỉ gói gọn trong việc ông Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính được nói cái gì hay ông Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phải nói cái gì, mà nằm ở chỗ lời nói của ông nào là thông điệp chính thức của Chính phủ.

    Buổi họp của Thường trực Chính phủ với các bộ trưởng diễn ra tối 3/11 khi thị trường vàng và ngoại tệ đang lên cơn sốt, giá đôla tự do cao hơn ngân hàng tới gần 1.500 đồng. Sáng hôm sau, khi Ngân hàng Nhà nước chưa phát đi bất cứ thông điệp gì với thị trường thì Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia bất ngờ mời phóng viên đến trao đổi về kết luận của buổi họp.


    Ngay khi bắt đầu, Chủ tịch Ủy ban Lê Đức Thúy nhấn mạnh đây là công việc đột xuất không có trong kế hoạch của Ủy ban và ông phải gặp báo chí theo yêu cầu của Thường trực Chính phủ nhằm truyền đạt chủ trương mới về vấn đề lãi suất, tỷ giá. Ông cho biết Chính phủ đồng ý để Ngân hàng Nhà nước bơm ngoại tệ mạnh tay hơn để phục vụ các nhu cầu nhập khẩu thiết yếu, thay vì chỉ nhỏ giọt như thời gian qua. Cùng với việc bơm ngoại tệ, ông cho biết Chính phủ chủ trương để lãi suất tiền đồng vận hành theo cơ chế thị trường, thay vì yêu cầu các ngân hàng hạ lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp như trước đây. Điều này đồng nghĩa với việc “chấp nhận lãi suất trên thị trường tăng lên”.

    Việc Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia công bố những thông tin chính sách thay cho Ngân hàng Nhà nước khiến nhiều người thắc mắc, song đa phần đều tin tưởng vì ông Lê Đức Thúy từng đảm đương vai trò Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lại là người có tài diễn thuyết nên ông được Chính phủ chọn để phát đi thông điệp nhạy cảm cũng không phải là việc quá khó hiểu.

    Tuy nhiên, thị trường thực sự nhiễu thông tin khi vài ngày sau đó, Ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất cơ bản (từ 8% lên 9%) nhưng lại "bật đèn xanh" để Hiệp hội Ngân hàng thống nhất với các thành viên khống chế lãi suất huy động tiền đồng không quá 12% một năm. Về việc bơm ngoại tệ cho thị trường, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cũng chỉ dè dặt tuyên bố sẵn sàng hỗ trợ cho các nhu cầu thiết yếu, chứ không cam kết bán mạnh tay hay đáp ứng đủ nhu cầu. Mà thực tế nhiều ngày sau đó, lượng bán cho ngân hàng cũng rất khiêm tốn.

    Sự nhiễu loạn thông tin đã dẫn tới hệ quả nhiều ngân hàng phá vỡ thỏa thuận, âm thầm đẩy lãi suất vượt 12% một năm, tỷ giá trên thị trường tự do có giảm đôi chút nhưng vẫn neo ở mức cao trên 21.000 đồng. Doanh nghiệp thì căn cứ vào tuyên bố bơm mạnh ngoại tệ để căn vặn ngân hàng không chịu bán đủ nhu cầu, thậm chí có đơn vị đòi chủ tịch, tổng giám đốc ngân hàng ký xác nhận không có nguồn để bán.


    Trả lời đại biểu Nguyễn Thị Bạch Mai, Thủ tướng *************** cho biết ông đã đề nghị Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước hợp tác với nhau, làm đúng chức năng nhiệm vụ của mình trên tinh thần có lợi cho đất nước, cho nền kinh tế.

    "Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia cũng nguyên là Thống đốc Ngân hàng. Khi tôi kiêm nhiệm Thống đốc Ngân hàng thì 2 đồng chí này làm Phó Thống đốc. Trong cuộc họp tôi có nói các đồng chí phối hợp với nhau, họp báo nói thế nào, trình bày thế nào để chủ trương về kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô, điều hành tỷ giá lãi suất phù hợp với cơ chế thị trường, phù hợp với điều kiện nước ta. Còn cách nói, cách diễn đạt mỗi đồng chí có thể có chỗ này, chỗ khác thì chúng ta rút kinh nghiệm", Thủ tướng nói.

    Sau lời giải thích của Thủ tướng, đại biểu Mai không chất vấn thêm, Quốc hội cũng không có đại biểu nào đề cập tới vấn đề này. Nhưng thị trường kỳ vọng một thông điệp rõ ràng hơn thế, rằng Chính phủ chấp nhận để lãi suất tiền đồng theo cơ chế thị trường nhằm giảm áp lực với tỷ giá đồng đôla, hay vẫn muốn lãi suất vận hành hợp lý nhằm hỗ trợ sản xuất kinh doanh. Gần như "bất lực" trước nạn loạn cào cào lãi suất tiền đồng, Hiệp hội Ngân hàng đã có văn bản gửi Thủ tướng mong muốn nắm rõ hơn chủ trương của Chính phủ.

    Trong lúc chờ thông điệp chính thức, các ngân hàng vẫn âm thầm đẩy lãi suất huy động lên cao, khiến dòng tiền chạy loạn từ nơi này đến nơi khác. Có nơi đã đưa lãi suất huy động lên 15% và phần đông trong số khách hàng lũ lượt kéo đến gửi tiền những ngày qua là "giật" được từ ngân hàng khác.

    Lãi suất cho vay cũng bị đẩy lên ngưỡng mới và đang tiệm cận mức kỷ lục của năm 2008, vượt qua khả năng chịu đựng của nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nơi đang chắt chiu vượt khó nhằm duy trì công ăn việc làm cho hàng triệu lao động. Hôm qua, Hiệp hội Thép đã chính thức lên tiếng về chuyện doanh nghiệp hội viên phải vay với lãi suất 19%. Nhiều người đang tính tới chuyện nếu có tiền thà đi gửi ngân hàng còn hơn đầu tư sản xuất kinh doanh không lợi nhuận.

    Song Linh

    ------------------------------------------------

    Ý kiến!

    Tôi cho rằng, phát biểu của Chủ tịch UBGS Tài chính Quốc gia là tốt cho thị trường, để hạn chế lạm phát đương nhiên phải để lãi suất tự điều chỉnh theo cơ chế thị trường, nghĩa là phải chấp nhận lãi suất cao hơn một chút. Không thể điều hành CSTT theo kiểu "mệnh lệnh hành chính" được, nếu cứ "mệnh lệnh hành chính" thì các NHTM sẽ lại nghĩ ra đủ trò để "lách luật" thôi.

    Theo quan điểm của cá nhân tôi, có lẽ để trấn an dư luận, tạo niềm tin cho người dân nên CP đã uỷ quyền cho Chủ tịch UBGS Tài chính quốc gia phát biểu. Tôi cho rằng suy luận của ĐBQH Mai: “Từ tuyên bố trên, tỷ giá không hạ nhiệt, giá Đô la, giá vàng có biểu hiện bất thường, mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã bơm ngoại tệ can thiệp thị trường và cho nhập khẩu vàng để bình ổn” là suy diễn. Lãi suất hiện nay đang méo mó, kể cả lãi suất huy động lẫn lãi suất cho vay. Giờ nếu chúng ta có vài tỉ đồng mang đến NHTM nào cũng đều có thể đàm phán lãi suất tiền gửi cao hơn lãi suất niêm yết. Đằng nào cũng đàm phán được lãi suất tiền gửi cao, đằng nào trên thực tế LSCV cũng cao,... thế thì tại sao chúng ta không để cho nó tuân theo "quy luật thị trường", qua đó kiềm chế được lạm phát???

    ( Nam )

    Về vai trò của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

    Ở nước ta, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và Chủ tịch Ủy ban giám sát Tài chính quốc gia cùng là thành viên Chính phủ mà có ý kiến khác nhau thì cũng phải xem lại.
    Ở các nước phát triển, Thông đốc Ngân hàng Nhà nước không phải là thành viên của Chính phủ, không chịu sự chi phối của Chính phủ mà chỉ phối hợp với Chính phủ trong chính sách tiền tệ mà thôi.

    ( Vũ Thiện Toàn )

    Đau đầu khi kinh doanh hiện nay

    với tình hình này đúng là co tiền đi gởi tiết kiệm sướng nhất, khỏi đau đầu lại an toàn. Có ai hiểu được lòng dân đang đau khổ thế nào khi lãi suất tăng, lạm phát tăng, người nghèo càng nghèo thêm.

    ( lưu nguyễn Trà Giang )

    Hình ảnh minh hoạ

    Cũng khéo thay cho người viết bài, hình ảnh minh hoạ thật "rõ nét". Nhưng chỉ tiếc rằng những hình ảnh trên không nhìn về một hướng, giá như các hình trên cùng nhìn về một hướng thì đã có một chính sách tiền tệ ổn định hơn trong những tháng cuối của năm 2010 và các năm tiếp theo. Được như vậy thì người dân sẽ đỡ khổ hơn vì không phải chống chọi với lãi suất tăng cao của các tháng cuối năm như thế này.

    ( huynq )

    vai trò của NHNN

    Đúng là phải phân rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của từng ban bộ. Ai là người có tuyên bố chính thứuc? Tránh phát ngôn không chính thức gây hoang mang cho xã hội. Nếu quy định lãi suất trần thì phải có biện pháp cực mạnh với những NH cố tình vượt trần.

    ( Lương Thị Thu Hiền )

    y kien

    Tôi cho rằng mọi người hãy nhìn nhận những công việc của thủ tướng quá nhiều công việc mà thủ tướng làm được như thế là tốt lắm rồi một mình thủ tướng không thể quán xuyến đến chi tiết tùng tổng công ty được nhưng vẫn thẳng thấn nhận trách nhiệm fa thủ so sánh với các thủ fướng ỏ các nước láng giềng của ta thì thấy công việc của thủ tướng nước ta bận rộn thế nào

    ( tran doanh )

    Lãi Suất Tăng, Con Nợ Nghèo

    Lãi suất tăng thì người dân vai tiền càng nghèo và khổ thêm, chỉ có những người giàu như chú (Nam) đây mới sướng nhất mà thôi.

    ( Phạm Đức Thành )

    Đúng quy định chưa?

    Vấn đề vị đại biểu quốc hội muốn hỏi ở đây là: “Ai được quyền phát ngôn”.

    ( Nguyen Son )

    Phát triển kinh tế_kiềm chế lạm phát.

    lạm phát đang tăng có nghĩa là ngoài thị trường đồng tiền đang nhiều và đang bị mất giá trị đồng tiền.Muốn giảm lạm phát thì phải rút bớt lượng tiền đang lưu thông ngoài thị trường,NHNN sẽ điều chỉnh lãi suất huy động vốn (lãi suất tiền gửi tiết kiệm) để thu hút lượng tiền mặt ngoài thị trường về có nghĩa là lãi suất huy động vốn sẽ tăng cao sẽ dẫn đến người dân có tiền sẽ không đầu tư kinh doanh nữa mà chuyển sang gửi tiết kiệm vì lợi nhuận cao hơn kinh doanh và không bi rủi ro cao.Vậy thì thị trường sẽ không phát triển,sẽ tạo ra thất nghiệp vì không ai đầu tư nữa.Vai trò của chính phủ là phải phát triển kinh tế,chính phủ kích thích thị trường bằng cách đầu tư vào các dự án công trình quốc gia(CP bơm tiền vào thị trường) nhưng vấn đề phát triển kinh tế sẽ mâu thuẫn với lạm phát.
    Có nghĩa chính phủ muốn đạt được mức phát triển kinh tế thì phải chấp nhận lạm phát ở mức cho phép(kiềm chế được lạm phát).Điều mà chính phủ đang nỗ lực để làm,NHNN đang ổn định giá trị đồng tiền.Nhưng xã hội thì không ai để ý đến phát triển kinh tế của đất nước(điều mà chính phủ đang làm) mà chỉ quan tâm đến lạm phát đồng tiền đang bị mất giá thôi.

    ( Nguyễn Chiến Thắng )

    Phát ngôn mẫu thuẫn xuất phát từ phân công nhiệm vụ

    Phát biểu của ông Lê Đức Thuý bao gồm 3 ý chính: 1) lượng vàng và đô la tồn trữ trong dân là rất lớn (thậm chí theo ông Thuý lên tới 1,000 tấn vàng, sau đó được đính chính lại là số vàng VN nhập siêu trong 20 năm qua, không tính tới các giao dịch xuất/nhập ngầm); 2) Chính phủ có chủ trương để thị trường tự quyết định lãi suất thay vì áp đặt hành chính; 3) NHNN sẽ bơm đô la ra để hạ nhiệt thị trường. Thực tế, sau đó diễn biến thị trường đã theo hướng: giá vàng hạ nhiệt vì NHNN cho phép nhập (một động thái mà theo ông Cao Sĩ Khiêm, một chuyên gia NH được kính trọng thì là đúng nhưng hơi muộn); giá đô la hạ nhiệt nhẹ trong vài ngày, sau đó lại tăng lên tới 21,300VND. Như vậy, rõ ràng trong lúc Chủ tịch UBTCQG phát ngôn một đằng, NGNN hành động một nẻo làm nhiễu thị trường.

    Cá nhân tôi cho rằng việc này xuất phát từ nguyên nhân là UBTCQG không "nối mạng" được với NHNN. Thị trường tài chính VN còn phải chịu những thiệt thòi mang tính chính sách.

    ( Nguyễn Phú )
  5. LHF2D

    LHF2D Thành viên rất tích cực

    Joined:
    May 17, 2010
    Likes Received:
    0
    Các bác giải ngân mạnh quá nhỉ? Thế mà các chiên gia NN cứ nói vứ vẩn:

    http://dvt.vn/20101201063210340p47c...ha-tin-cua-chinh-sach-viet-nam-xuong-thap.htm

    JPMorgan: Giá tăng, độ tin cậy của chính sách Việt Nam xuống thấp

    Thứ tư, 01/12/2010 06:34

    Theo chuyên gia kinh tế của JP Morgan, chính sách tiền tệ của Việt Nam có “tính minh bạch và tín nhiệm rất thấp”.
    (DVT.vn) - Sự thiếu độc lập và độ tin cậy cũng như khuôn khổ chính sách tiền tệ “mơ hồ” của ngân hàng nhà nước Việt Nam đã khiến cho lạm phát tăng nhanh hơn.

    Các chính sách “gây ra biến động giá lớn hơn, kỳ vọng lạm phát xấu đi cùng với sự mất giá của Việt Nam đồng”, nhà kinh tế học Matt Hildebrandt của JPMorgan Chase tại Singapore nhận định trong bài phát biểu tại một hội nghị được tổ chức vào 30/10 tại Tp. Hồ Chí Minh.

    Giá tiêu dùng đã tăng 11,09% trong tháng 11 so với một năm trước đó, tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 3/2009. Tuần trước, Thủ tướng *************** công bố, chính phủ sẽ thực hiện một số biện pháp nhằm kiểm soát sự tăng giá, đặc biệt khi dịp Tết Nguyên Đán đang đến gần, vào tháng 2/2011.

    Ông Hildebrandt nhận định chính sách tiền tệ của Việt Nam có “tính minh bạch và tín nhiệm rất thấp”.

    Ngày 18/8, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh tỷ giá tham chiếu Việt Nam đồng, tăng 2% lên 18.932 VNĐ/USD, đây là lần điều chỉnh khiến tiền đồng mất giá lần thứ 3 trong năm qua.

    Theo đánh giá của ông Hildebrandt, chu kỳ lạm phát của Việt Nam là không hợp lý, một phần bởi lịch sử tăng giá nhanh chóng cho thấy kỳ vọng lạm phát chưa bao giờ được “neo giữ đúng mức”. Trước đây, sự tăng giá tiêu dùng đã đạt đỉnh khoảng 500% trong những năm 1980.

    Các công cụ chính sách phân hóa, thiếu hiệu quả và khó kiểm soát cũng là những yếu tố đóng góp vào tình hình hiện nay.

    “Lãi suất cơ bản là công cụ chính sách chủ yếu trong năm 2008 và đầu 2009, nhưng ít được sử dụng gần đây,” ông Hildebrandt cho hay, “Chính sách hiện nay có nhiều sự phụ thuộc vào biện pháp tác động tâm lý, quy định và quản lý hành chính”

    Theo nhận định của Hildebrandt, Việt Nam có một “Cơ chế điều hành tiền tệ yếu”. “Kết quả là, Việt Nam phải hứng chịu lạm phát cao hơn, biến động giá lớn, chi phí giao dịch tăng cao, phân bổ tín dụng không hợp lý, kém minh bạch và bất ổn cao hơn”.

    Bích Diệp
    Theo Bloomberg
  6. LHF2D

    LHF2D Thành viên rất tích cực

    Joined:
    May 17, 2010
    Likes Received:
    0
    Các bác nghĩ sao về bài này?


    Mô hình tăng trưởng của Việt Nam đang mất dần động lực

    Tác giả: Cao Nhật

    http://vef.vn/2010-12-01-mo-hinh-tang-truong-cua-viet-nam-dang-mat-dan-dong-luc

    (VEF) - "Nếu Việt Nam không vượt qua được cách thức tăng trưởng hiện nay, quốc gia sẽ bị tắc ở mức thu nhập trung bình thấp và phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các nước thu nhập thấp hơn mới trỗi dậy".

    Trong khi đó, việc quá phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài để gia tăng đầu tư nhằm tạo tăng trưởng sẽ tạo ra các mất cân đối vĩ mô nguy hiểm và có thể dẫn tới khủng hoảng.

    Đó là những cảnh báo đáng suy nghẫm từ Báo cáo Năng lực cạnh tranh Việt Nam 2010, do Học viện Năng lực cạnh tranh châu Á (Singapore) hợp tác với Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) thực hiện dưới sự chỉ đạo nội dung của GS. Michael Porter - chuyên gia uy tín trong lĩnh vực cạnh tranh tới từ Trường Kinh doanh Harvard - được công bố hôm qua 30/11.

    3 mất cân đối vĩ mô không thể xem thường

    Theo phân tích của Báo cáo, hiện Việt Nam đang đối mặt với ba mất cân đối kinh tế vĩ mô khá nghiêm trọng.

    Đầu tiên là lo lắng về thâm hụt thương mại đang ngày càng tăng: "Mặc dù được coi là một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, Việt Nam đang nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu một cách có hệ thống".

    Cùng với đó là quan ngại về khả năng trang trải các thâm hụt đối ngoại của Việt Nam ngày càng tăng với mức nợ công tăng lên và dự trữ ngoại hối giảm đi đáng kể, ảnh hưởng tới triển vọng của nền kinh tế.

    Một điểm nữa cũng được nhóm nghiên cứu nhắc đến là tỷ lệ lạm phát của Việt Nam trong những năm qua ngày càng dao động mạnh, với xu hướng tăng lên đáng kể. Những dòng vốn ngoại lớn đổ vào cùng với tăng trưởng tín dụng trong nước đã gây ra áp lực đáng kể đối với lạm phát.

    Vì thế, theo các chuyên gia của nhóm nghiên cứu, "khi Việt Nam vẫn duy trì tỷ giá danh nghĩa ở mức ổn định, lạm phát dẫn tới tỷ giá thực có hiệu lực tăng lên, buộc Việt Nam phải liên tục phá giá đồng tiền".

    "Những mất cân đối này có thể gây ra những hậu quả không thể xem thường, ít ra là chúng tạo ra tâm lý với các nhà đầu tư rằng rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam là rất cao", nhận định đưa ra trong báo cáo.

    Cũng theo báo cáo thì khi niềm tin bị xói mòn và các dòng vốn nước ngoài chảy khỏi Việt Nam, quốc gia sẽ phải trải qua quá trình điều chỉnh rất khó khăn và phải thay đổi hoàn toàn các chính sách về tỷ giá, cắt giảm chi tiêu công và đánh mất đi thành quả tăng trưởng của rất nhiều năm trước đó.

    "Mặc dù những phản ứng chính sách gần đây của Việt Nam đã được quốc tế ghi nhận nhưng cho tới nay Việt Nam vẫn thiếu một chiến lược tổng thể để giải quyết các thách thức một cách toàn diện, hệ thống", báo cáo nhìn nhận.

    Đòi hỏi những cách tiếp cận chính sách mới

    Theo nghiên cứu của nhóm thực hiện, các doanh nghiệp vẫn phàn nàn nhiều về tình trạng không tìm được lao động có kỹ năng đáp ứng nhu cầu và sự thiếu hụt hạ tầng kỹ thuật, logistics và năng lượng.

    Trong khi đó nguồn vốn FDI ngày càng tập trung vào lĩnh vực bất động sản và các ngành sử dụng nhiều lao động, chưa thấy rõ tác dụng lan tỏa tích cực của khu vực FDI đối với khu vực trong nước.

    "Những khó khăn này là dấu hiệu phần nào cho thấy mô hình tăng trưởng hiện nay đang mất dần động lực", báo cáo nhận định.

    Ngoài ra, chính sách kinh tế vĩ mô là một điểm yếu lớn trong những năm gần đây. Cụ thể thời gian qua chính sách tài khóa bị cản trở nhiều bởi các thâm hụt cơ cấu lớn của khu vực nhà nước.

    Thêm vào đó, với những áp lực liên tục lên tỷ giá, tỷ lệ lạm phát cao, cũng như sự phát triển nóng của thị trường tài chính trước khi nổ ra khủng hoảng tài chính toàn cầu là những dấu hiệu về một chính sách tiền tệ còn có vấn đề.

    "Đến nay, trọng tâm của chính sách chủ yếu tập trung vào gia tăng đầu tư, nhất là đầu tư vào DNNN và cơ sở hạ tầng để tạo ra tăng trưởng hơn là dựa trên năng suất và hiệu quả", báo cáo đưa ra nhận định.

    Phân tích cũng cho thấy tăng trưởng hiện tại của Việt Nam đang dựa trên một mô hình kinh tế mà dư địa còn lại không nhiều. Với mô hình này, mức độ phồn thịnh cao nhất mà Việt Nam có thể đạt tới sẽ bị giới hạn bởi mức năng suất mà các lao động sản xuất chế biến, chế tạo.

    Từ những nghiên cứu của mình, nhóm nghiên cứu cho rằng cách tiếp cận chính sách hiện nay vẫn dựa vào việc xây dựng các DNNN trở thành các tập đoàn anh cả của quốc gia, cấp tín dụng cho các công ty riêng lẻ và xây dựng những khu vực có hạ tầng hoàn chỉnh và chuyên biệt.

    Cách tiếp cận chính sách mới cần tập trung vào các cụm ngành thay vì các công ty riêng lẻ, "mục tiêu của chính sách là tăng năng suất chứ không phải chỉ tăng lợi nhuận của một vài công ty đơn lẻ nào đó, Chính phủ cần khuyến khích các doanh nghiệp trong cụm ngành cạnh tranh ở mức độ cao hơn thay vì bảo hộ cho họ tránh khỏi áp lực cạnh tranh".

    Điểm yếu phân cấp và phối hợp thực hiện

    Một vấn đề nữa cũng rất được lưu ý là với quy mô và đặc điểm địa lý của Việt Nam, việc phân bổ hợp lý, hiệu quả quyền hạn và trách nhiệm giữa chính quyền trung ương và các địa phương là vô cùng quan trọng.

    Lý do là vì các công ty bao giờ cũng có cơ sở sản xuất kinh doanh đặt tại một địa phương nào đó, do đó họ sẽ chịu tác động tổng hợp của các hiệu ứng chính sách từ cấp trung ương tới địa phương.

    Nhưng thực tế là cơ cấu phân cấp và phối hợp hiện nay của Việt Nam đang có nhiều điểm yếu, các vùng hay địa phương cần được khuyến khích nâng cao năng lực cạnh tranh của mình dựa trên những lợi thế và định vị đặc thù của địa phương.

    "Thay vì cạnh tranh, cần khuyến khích mạnh sự hợp tác, kết hợp và làm lợi lẫn nhau giữa các tỉnh, nhất là các tỉnh trong cùng một vùng, thông qua các chính sách phát triển cụm ngành", báo cáo đề xuất.

    Cũng theo nhìn nhận của Học viện Năng lực cạnh tranh châu Á, Chính phủ Việt Nam cần xác định được một vai trò mới cho mình, phù hợp với yêu cầu của một nền kinh tế thị trường năng động và đang hội nhập ngày càng sâu rộng.

    Với vai trò này, Chính phủ sẽ đảm nhận những công việc tạo điều kiện và đảm bảo thị trường được vận hành theo nguyên tắc của nó.

    Dựa trên kinh nghiệm thành công của nhiều quốc gia trên thế giới, nhóm nghiên cứu cho rằng Việt Nam cần xây dựng một cơ quan độc lập chịu trách nhiệm cung cấp các thông tin, số liệu minh bạch và chính xác về thực trạng của nền kinh tế và đóng vai trò quan trọng trong việc điều phối và kết nối đồng bộ các chính sách vĩ mô giữa các bộ, ngành.

    Cụ thể hóa nhận định đó là đề xuất thành lập Hội đồng Năng lực cạnh tranh Việt Nam (VCC) với nhiệm vụ chính là để thực hiện những việc trên. Hội đồng này sẽ do Thủ tướng chủ trì và có một Ban thư ký chuyên trách và nguồn lực phù hợp để hoạt động.

    Khi đó, chức năng nhiệm vụ và hoạt động của Hội đồng là định hướng và điều phối các mục tiêu chính sách trung và dài hạn, chứ không chỉ để tìm kiếm các giải pháp tình thế nhằm đối phó và xử lý những khủng hoảng hay vấn đề trước mắt.

Share This Page