1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Chính phủ điều tiết và phát triển thị trường chứng khoán năm 2010 như thế nào?

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi chungkhoanhanghieu, 13/01/2010.

1354 người đang online, trong đó có 36 thành viên. 06:36 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 83469 lượt đọc và 523 bài trả lời
  1. chungkhoanhanghieu

    chungkhoanhanghieu Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    04/06/2006
    Đã được thích:
    2.474
    1 tỷ USD trái phiếu chính phủ vừa bán dự kiến dành phần lớn đầu tư cho dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất cũng là hợp lý. Đây là mặt trận hàng đầu có tính sống còn của VN hiện nay.
    http://www.vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/2010/02/3BA1866D/
    Nhưng điều đó cũng đã được báo trước ngay từ đầu và khẳng định rằng: Đừng trông mong 1 tỷ USD trái phiếu dùng để giải quyết thanh khoản cho nền kinh tế. Con số kế hoạch bán 146 nghìn tỷ đồng trái phiếu năm nay (tương đương 7,9 tỷ USD) vẫn chưa có lời giải vì lãi suất hiện nay đang là vật cản gây thất bại liên tiếp.
    "Khi đầu tư vào trái phiếu, các tổ chức thường nhìn vào triển vọng kinh tế dài hạn. Nếu cho rằng một nền kinh tế có độ rủi ro cao hơn, đương nhiên, phần bù rủi ro trong lợi tức trái phiếu của nền kinh tế đó cũng phải cao hơn để có sức cạnh tranh trên thị trường vốn", ông Vũ Thành Tự Anh nhận định.

    Kết hối gào khản cổ sau 2 tháng, ngân hàng mới thu mua được 450 triệu USD của Tổng công ty và Tập đoàn lớn, chỉ vỏn vẹn bằng 37,5% giá trị nhập siêu 1 tháng đầu năm 2010 (1,2 tỷ USD). :-ss

    Tôi đã thấy rất rõ thị trường chứng khoán đang thực sự bị bỏ lại phía sau, nhường cho những vấn đề cấp thiết hơn của nền kinh tế như bình ổn giá cả thị trường,... Tôi còn thấy rõ ràng có vẻ như các dự án BĐS cao cấp với lượng vốn đầu tư khổng lồ lại đang liên tiếp xuất hiện là dấu hiệu bất ổn trong điều kiện thị trường vốn hạn chế như hiện nay. Liệu có cần xem lại định hướng lúc này, liệu có quá xa rời mục tiêu kích cầu trước đây hay ko?

    Chỉ khi nào trái phiếu chính phủ VNĐ có lời giải rõ ràng hợp lý, tôi mới tin rằng thị trường chứng khoán vào uptrend bền vững. Kể ra ko vì chính sách lệch hướng gần đây thì thị trường chứng khoán đã khởi sắc hơn nhiều rồi.
  2. quycongcong

    quycongcong Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    19/11/2008
    Đã được thích:
    4
    Chị yêu đêm nay đi chơi về sớm thế.  
  3. chungkhoanhanghieu

    chungkhoanhanghieu Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    04/06/2006
    Đã được thích:
    2.474
    Em cũng đi chơi về sớm thế! [:p]
  4. Trovecatbui

    Trovecatbui Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    23/12/2009
    Đã được thích:
    1
    Iêm thấy 2 Người online cùng 1 lúc đấy chớ.:))
  5. chungkhoanhanghieu

    chungkhoanhanghieu Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    04/06/2006
    Đã được thích:
    2.474
    Thanh khoản tiếp tục suy giảm mạnh là tất yếu, không phải vì lượng bán thấp mà lượng mua cũng không mấy mặn mà. Khả năng sizeway đến Tết cũng rõ ràng hơn.
  6. quycongcong

    quycongcong Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    19/11/2008
    Đã được thích:
    4
    Chị lên hô sập cho em an lòng đê
    Làm ơn đừng hô up. Hê hê
  7. chungkhoanhanghieu

    chungkhoanhanghieu Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    04/06/2006
    Đã được thích:
    2.474
    Cái gì đến sẽ đến dù muốn hay không. 20 tỷ USD tiền gửi của tổ chức và cá nhân như chùm nho chín trên cao ngoài tầm với của những chú cáo Ngân hàng. Thanh khoản chưa có lời giải. Chúc mọi người có cái Tết thanh bình, tươi vui và hạnh phúc! @};-
  8. architetto

    architetto Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    15/03/2005
    Đã được thích:
    1.872
    Ngân hàng điện tử và thanh toán Ky thuat so sẽ giải quyết đc bao nhiêu là vấn đề XH [r2)]
  9. chungkhoanhanghieu

    chungkhoanhanghieu Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    04/06/2006
    Đã được thích:
    2.474
    Tôi vẫn giữ quan điểm: tỷ giá hiện tại đang là áp lực lớn với VN, có tính quyết định trong thời gian tới, như thế nào thì đến lúc này, tôi ko còn muốn bình luận gì thêm nữa vì đã nói rồi. Hãy lắng nghe chuyên gia cho khách quan:
    http://cafef.vn/20100204053129870CA33/chinh-sach-ty-gia-tam-diem-vi-mo-2010.chn

    Chính sách tỷ giá: Tâm điểm vĩ mô 2010


    Những nguyên nhân nào làm cho tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán ngày một trở nên trầm trọng?



    Những nguyên nhân nào làm cho tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán ngày một trở nên trầm trọng?
    Năm 2009 có thể coi là năm “tiền tệ” tại Việt Nam. Tỷ giá USD/VND tăng mạnh, nhập siêu cao, lạm phát đứng trước áp lực tăng trở lại vào năm 2010, khan hiếm cục bộ USD, giá vàng sốt nóng, lãi suất ngân hàng lên kịch trần...
    Những hiện tượng này nói lên điều gì? Liệu các hiện tượng trên có lặp lại trong năm 2010? Các cơ quan quản lý cần lưu tâm gì trong chính sách tiền tệ trong năm 2010?
    Tỷ giá chính thức giữa USD và VND trong năm 2009 đã trải qua hai lần điều chỉnh, một lần vào tháng 3 (+2%) do tăng biên độ giao dịch từ 3% lên 5% và lần gần nhất là vào tháng 11 (+3,4%). Mặc dù sau mỗi lần điều chỉnh, tỷ giá chính thức đều lên kịch trần nhưng tỷ giá trên thị trường không chính thức (tỷ giá thị trường tự do) vẫn luôn nằm ngoài biên độ cho phép của Ngân hàng Nhà nước.
    Trên thực tế, điều này đã xảy ra từ đầu năm tới nay, cho thấy thị trường ngoại hối luôn căng thẳng.
    Nguyên nhân của tình trạng căng thẳng tỷ giá
    VND đã chịu sức ép giảm giá so với USD trong một thời gian dài. So với đầu năm 2007, VND đã tăng giá khoảng 20% so với USD tính theo tỷ giá hiệu dụng thực, trong đó nguyên nhân chính là do lạm phát (đo bằng CPI) ở Việt Nam trong hai năm 2007 và 2008 rất cao, lần lượt là 12,7% và 20%.
    Đáng lưu ý là trong năm 2009, mặc dù CPI ở mức thấp (6,52%) nhưng sức ép giảm giá VND vẫn được duy trì, lần này là do thâm hụt cán cân thanh toán. Nhìn vào số liệu, có thể thấy cán cân thanh toán của Việt Nam đã thặng dư lớn trong năm 2007 (+10,2 tỷ USD), tuy nhiên mức thặng dư này đã giảm mạnh trong năm 2008 (chỉ còn + 0,5 tỷ USD), và chuyển sang thâm hụt (-5,7 tỷ USD) trong ba quý đầu năm 2009.
    Câu hỏi cần được trả lời là những nguyên nhân nào làm cho tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán ngày một trở nên trầm trọng?
    Đầu tiên, trạng thái nhập siêu nhẹ trong quý 1/2009 đã chuyển thành nhập siêu nặng trong quý 2 và quý 3 khi các biện pháp kích thích kinh tế được Chính phủ triển khai. Thực ra nguy cơ nhập siêu đã được cảnh báo từ trước khi thực hiện chính sách kích thích, lý do là vì cả hoạt động sản xuất và tiêu dùng của Việt Nam đều phụ thuộc rất nhiều vào nhập khẩu, thêm vào đó VND lại bị định giá cao so với USD nên hệ quả tất yếu (mặc dù không mong muốn) của những biện pháp kích thích tiền tệ và ngân sách là gia tăng nhập khẩu.
    Trong khi nhập khẩu tăng vọt từ mức trung bình 3,9 tỷ USD/tháng trong quý I lên 6,2 tỷ USD/tháng trong quý 3 thì xuất khẩu, kiều hối và các khoản mục khác lại giảm khiến cán cân tài khoản vãng lai chuyển từ thặng dư nhẹ (+0,12 tỷ USD) trong quý I sang thâm hụt nặng trong hai quý tiếp theo (lần lượt là -2,4 và -3,5 tỷ USD).
    Từ số liệu về cán cân thanh toán, có thế thấy rằng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai có thể được bù đắp gần như hoàn toàn bởi thặng dư trong nguồn vốn chính thức và tư nhân (bao gồm FDI, FPI và tín dụng thương mại). Điều này cũng có nghĩa là thâm hụt cán cân thanh toán của Việt Nam là do phần “không cơ bản” trong cán cân tài khoản tài chính gây ra.
    Vấn đề nằm ở chỗ trong phần “không cơ bản” này thì “sai số và thiếu sót” lại quá lớn, khiến việc giải thích tình trạng thâm hụt của cán cân thanh toán trở nên khó khăn. Một giả thuyết khả dĩ lý giải cho tình trạng này là do sự kết hợp giữa chính sách hỗ trợ lãi suất 4% của Chính phủ và kỳ vọng của thị trường.
    Khi doanh nghiệp được hỗ trợ lãi suất 4% thì giá vốn bằng VND đã giảm một cách đáng kể so với USD, khiến các doanh nghiệp thỏa mãn phần lớn nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn bằng việc đi vay VND từ các ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, với lãi suất USD và vàng không thấp, cộng thêm với kỳ vọng giảm giá VND, tình trạng căng thẳng trên thị trường ngoại hối, và việc giá vàng liên tục leo thang khiến các doanh nghiệp càng có thêm động cơ để găm giữ USD và vàng.
    Nói cách khác, chính sách của nhà nước cùng với tâm lý của thị trường làm doanh nghiệp và hộ gia đình chuyển danh mục tiền tệ từ VND sang USD và vàng, được thể hiện rõ qua trạng thái nắm giữ VND giảm và USD tăng trong hệ thống ngân hàng thương mại.
    Hệ quả của chính sách tỷ giá và phản ứng
    Chính sách tỷ giá trong thời gian qua đã dẫn đến một số hệ lụy quan trọng.
    Thứ nhất, việc định giá VND cao so với USD trong một thời gian dài đã góp phần làm giảm năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu, đồng thời khuyến khích nhập khẩu. Điều này được chứng minh bằng một thực tế là nhập siêu của Việt Nam tăng nhanh liên tục trong mấy năm trở lại đây, từ 2,8 tỷ USD trong năm 2006 lên 8,2 tỷ USD năm 2007 và 17,5 tỷ USD trong năm 2008. Dự kiến thâm hụt thương mại của Việt Nam trong năm 2009 cũng sẽ vào khoảng 12-13 tỷ USD.
    Thứ hai, nhập siêu tăng nhanh trở lại trong khi các nguồn thu ngoại tệ chính như xuất khẩu, đầu tư nước ngoài, kiều hối và du lịch đều giảm sút mạnh so với năm 2008; và cùng với việc doanh nghiệp và người dân chuyển sang nắm USD và vàng đã làm cho cán cân thanh toán của Việt Nam thâm hụt nặng.
    Điều này một mặt khiến dự trữ ngoại hối của Việt Nam giảm một cách tương ứng (từ khoảng 23 tỷ USD vào cuối năm 2008 xuống còn hơn 17 tỷ USD vào quý 3/2009), mặt khác khiến áp lực giảm giá VND tiếp tục được duy trì.
    Trong bối cảnh này, chính sách tiền tệ nói riêng và chính sách vĩ mô nói chung cần hết sức thận trọng. Chính sách cần thiết trong giai đoạn sắp tới là thắt chặt chính sách tiền tệ. Một số chính sách gần đây của Ngân hàng Nhà nước (giảm giá VND, tăng lãi suất qua đêm liên ngân hàng và lãi suất cơ bản) vì vậy là một sự chuyển hướng đúng đắn.
    Việc chấm dứt hỗ trợ lãi suất 4% cũng là một chính sách hợp lý vì bên cạnh tác động thắt chặt tín dụng, nó còn khuyến khích các doanh nghiệp có USD chuyển một phần dự trữ USD sang VND để đáp ứng các nhu cầu vốn lưu động, nhờ đó giảm áp lực cho thị trường ngoại hối.
    Bên cạnh đó, việc tác động tới kỳ vọng của thị trường thông qua từng bước điều chỉnh tỷ giá USD/VND sẽ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc cân đối lại cấu trúc danh mục nắm giữ tiền của người dân và doanh nghiệp.
    Cuối cùng, việc lấy lại niềm tin cho Ngân hàng Nhà nước, và nhờ đó lấy lại hiệu lực cho chính sách vĩ mô của chính phủ, là điều mà chính phủ phải đạt được để có thể đưa nền kinh tế vượt qua những thách thức hiện nay.
    Để làm được điều này, một thái độ thực sự cầu thị, một hệ thống chính sách đúng đắn, nhất quán và một cơ chế giao tiếp thông tin chính xác, kịp thời với người dân, với thị trường là những điều kiện tiên quyết.


    Theo TS Vũ Thành Tự Anh
    VnEconomy


  10. chungkhoanhanghieu

    chungkhoanhanghieu Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    04/06/2006
    Đã được thích:
    2.474
    Nhìn lại bài toán lãi suất

    Tâm Dân Thứ Tư, 10/2/2010


    Bài toán lãi suất đang là bài toán khó giải cho các ngân hàng và cơ quan quản lý nhà nước. Ảnh: Lê Toàn.
    (TBKTSG) - Không chỉ hệ thống ngân hàng mà cả nền kinh tế đang ở trong tình trạng “tiến thoái lưỡng nan” trước bài toán lãi suất. Trở ngại trước hết là đầu ra lãi suất cho vay. Với “vòng kim cô” lãi suất cơ bản, những khoản vay thông thường không được phép vượt trần 150%.
    Nhận diện rõ hơn tình hình
    Tuy cơ chế cũng mở một ít khi cho phép thỏa thuận lãi suất đối với những khoản vay tiêu dùng, dư nợ loại này thực ra chiếm tỷ trọng nhỏ. Thực tế, theo lý lẽ của ngân hàng, khi đầu ra bị khống chế chặt, chênh lệch thu hẹp, lợi nhuận suy giảm, buộc họ phải tăng thu phí.
    Với doanh nghiệp thì ngược lại, từ vài tháng nay họ luôn bị ám ảnh bởi viễn cảnh lãi suất tăng dài dài, ngay cả khi được vay theo lãi suất trần vẫn phải bấm bụng chi thêm nhiều thứ phí không rõ ràng.

    Trở ngại tiếp theo là đầu vào huy động vốn. Diễn biến gần đây cho thấy vốn trên thị trường đang thực sự khan hiếm. Nếu cứ mãi đuổi theo cơn lốc nâng lãi suất thì thực sự nguy hại, không chắc tăng được nguồn mà còn làm rối thêm tốc độ dịch chuyển vốn từ nơi này qua nơi khác, khuyến khích tâm lý đầu cơ khai thác chênh lệch “giá ngoài, giá trong”.
    Ngân hàng thương mại hiện nay chỉ được ấn định lãi suất huy động dựa theo mức trần lãi suất cơ bản, không thể chạy theo “tiếng gọi của đầu ra”, càng không thể “nước lên thuyền lên” được. Thậm chí gần đây Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã khuyến cáo và dành quyền ấn định trần huy động buộc các ngân hàng chấp hành.
    Trong điều kiện thị trường vốn có nhiều biến động phức tạp, giá vàng khuynh đảo đã hút một lượng tiền khổng lồ vào dạng cất trữ, các kênh đầu tư bất động sản - chứng khoán còn khát vốn, tâm lý người gửi tiền dao động mạnh... thì cung cầu vốn trở nên mất cân đối không phải là việc khó hiểu.
    Nguồn vốn tiết kiệm dân cư trước đây vốn được mệnh danh là “hòn đá tảng” trong chiến lược cân đối vốn của các ngân hàng, thì nay cũng không tránh khỏi hiện tượng bất ổn thường xuyên. Bài toán lãi suất đang vấp phải nhiều rối ren, đây là thực tế không thể phủ nhận.
    Cân bằng giữa rủi ro và lợi ích
    Xét trên khía cạnh “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, có thể lý giải tình trạng rối ren lãi suất theo hai hướng. Thứ nhất, đối với ngân hàng thương mại, về nguyên lý an toàn mà xét, đầu vào bao giờ cũng là gốc, có vai trò quyết định, là căn cứ để xác định đầu ra. Hay nói khác, đầu ra phải luôn dựa trên chất lượng và tính ổn định của nguồn lực đầu vào.
    Tuy nhiên trong thực tế không phải lúc nào nguyên lý này cũng được tôn trọng đầy đủ. Đã có nhiều trường hợp “mặc áo quá đầu”, cho vay vượt tỷ lệ an toàn vốn, dùng vốn liên ngân hàng bù đắp thanh khoản để mở rộng tín dụng, cho vay trung dài hạn ngoài khả năng cân đối vốn ổn định... Rõ ràng đây là những “gót chân Asin”, nếu để kéo dài sẽ gây tổn thương đến tính an toàn hệ thống.
    Bản thân các ngân hàng thương mại phải thực sự nghiêm túc nhìn lại mình để sớm tự điều chỉnh nếu không sẽ đối diện với nguy cơ bị rút giấy phép hoạt động. Điều này không ai muốn nhưng cũng không thể không làm nếu buộc phải như vậy, không rõ NHNN đã chuẩn bị tâm lý cho tình huống này chưa?
    Thứ hai, rủi ro về cân đối vốn hiện nay chính là hậu quả của chính sách “độc canh về tín dụng”, nếu không muốn nói là sai lầm lớn về chiến lược kinh doanh. Có thể xem rủi ro này như là “phép thử có giá trị” đối với năng lực quản trị của bộ máy lãnh đạo ở các ngân hàng. Cơ cấu thu nhập của ngân hàng thương mại nếu không được cải thiện theo hướng tăng cường tỷ trọng thu dịch vụ, không mở rộng được năng lực cung ứng sản phẩm dịch vụ theo hướng đa dạng, hiện đại, có hàm lượng công nghệ cao... thì tất yếu sẽ không có lối thoát cho tương lai.
    Ngoài ra, các doanh nghiệp trong quá trình tìm kiếm nguồn lực vốn đầu tư phát triển vẫn chưa có lựa chọn nào tốt hơn ngoài tín dụng ngân hàng, không chỉ làm tăng thêm gánh nặng cho tổ chức tín dụng mà bản thân doanh nghiệp cũng vấp phải nhiều hạn chế về cơ hội tiếp cận các nguồn vốn phục vụ mở rộng kinh doanh.
    Trong lúc đó sàn chứng khoán mang tên “chợ cao cấp” chưa được hoàn hảo, đôi khi khó tin cậy vì thiếu vắng khung pháp lý chặt chẽ cũng như bị thao túng quá mức bởi một bộ phận giới đầu cơ, do vậy chưa đạt đến tầm mức trở thành trụ cột tài chính nhằm hỗ trợ đắc lực cho doanh nghiệp.
    Cuối cùng, về vai trò điều hành vĩ mô của NHNN. Hiện nay cơ quan này phải cùng một lúc đảm trách bổn phận thực thi mục tiêu kép “ổn định vĩ mô và duy trì tăng trưởng”. Hai nhiệm vụ này tưởng chừng mâu thuẫn nhau, làm được vế này sẽ ảnh hưởng không nhiều thì ít đến vế kia. Nhưng nhìn toàn cục thì hoàn toàn không phải như vậy, bởi suy cho cùng lợi ích cao nhất của chính sách tiền tệ không có gì khác hơn là bảo đảm tính ổn định và sự phát triển bền vững của đất nước.
    Điều quan trọng chính là nghệ thuật xử lý bài toán lãi suất sao cho thực sự linh hoạt, chọn đúng ưu tiên theo từng thời điểm, có khả năng làm chủ được tình hình, không vì lợi ích riêng rẽ cục bộ nào đó mà hy sinh lợi ích đại cục. Từ đây có thể hiểu được những nan giải, phức tạp mà NHNN đang phải đương đầu.
    Điều hành lãi suất: Lạt mềm buộc chặt
    Trước hết cần làm rõ thêm những tranh luận khá gay gắt liên quan đến vai trò lãi suất cơ bản. Phần lớn ý kiến dư luận đề nghị nên sớm quay trở lại cơ chế điều hành theo lãi suất thỏa thuận nhằm tháo gỡ bế tắc cung cầu vốn hiện nay. Đề xuất này đúng nhưng chưa phải lúc do những yếu tố vĩ mô chưa thực sự chín muồi để cơ chế này vận hành hoàn hảo.
    Trong bối cảnh người đi vay gần như không có sự lựa chọn cho riêng mình, thậm chí “được vay là quý lắm rồi”, thì người gửi tiền lại được trao quá nhiều cơ hội để mặc cả với ngân hàng. Sự bất tương thích này khiến thị trường bị lệch pha, nếu nôn nóng áp dụng ngay cơ chế lãi suất thỏa thuận sẽ như “đổ thêm dầu vào lửa”, đẩy tình hình theo chiều hướng xấu hơn.
    Cần nhìn lại quá khứ một chút, có thể nói hậu quả liên tiếp từ “Cú sốc tiền tệ 2008” với cơn lốc tăng lãi suất lên đến đỉnh điểm 21%/năm, cộng thêm các biện pháp “Giải cứu kinh tế 2009” mang tính tình thế với nhiều hệ lụy sau khủng hoảng đã gần như phá vỡ mọi thành quả của cơ chế lãi suất thỏa thuận đã đạt được từ nhiều năm trước đây. Để lập lại tình hình bình thường quả thực không đơn giản, cần có độ chín về thời gian.
    Lối ra hợp lý lúc này là chọn phương án “Lạt mềm buộc chặt”, trong đó phải xác định đúng vai trò của từng chủ thể có liên quan trực tiếp đến “Ẩn số bài toán lãi suất ”, bao gồm: NHNN - doanh nghiệp - tổ chức tín dụng. Trước hết, NHNN cần phải tiếp tục cầm trịch chính sách tiền tệ bằng công cụ lãi suất cơ bản, nhưng cần sử dụng “sức mạnh vật chất” nhiều hơn thay vì “sức mạnh hành chính”. Nghĩa là phải tối đa hóa hiệu quả các công cụ điều hành như thị trường mở, chiết khấu, tái cấp vốn... nhằm đáp ứng tính thanh khoản thông suốt cho nền kinh tế.
    Cũng cần lưu ý rằng bảo vệ tính thanh khoản không chỉ tối cần thiết đối với hệ thống tài chính - ngân hàng mà còn là tiền đề củng cố lòng tin xã hội vào sức mạnh của đồng tiền quốc gia. Qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho luồng tiền luân chuyển bình thường, hướng hoạt động huy động vốn đi vào ổn định lâu dài chứ không thể mãi chạy đua tăng lãi suất. Làm sao để mọi người dân và doanh nghiệp không phải lo toan phấp phỏng khi muốn “chọn mặt gửi tiền” vào ngân hàng, không “đứng núi này trông núi nọ” vì phải rượt đuổi theo sự cám dỗ của lãi suất?
    Có một thực tế, NHNN không thể nào quán xuyến hết mọi ngóc ngách, và cũng không nên “cầm tay chỉ việc” đối với ngân hàng thương mại, bởi hơn ai hết họ biết phải ứng xử như thế nào đối với tín hiệu thị trường, với khách hàng. Trong trường hợp cần thực hiện định hướng ưu tiên hoặc hạn chế đối với những ngành nghề, lĩnh vực có tính chất nhạy cảm thì hoàn toàn có khả năng sử dụng công cụ vĩ mô kết hợp và các định chế tài chính do Nhà nước chi phối để đảm bảo mục tiêu này.
    Ví dụ muốn hạn chế đầu cơ bất động sản, chứng khoán chỉ cần sử dụng công cụ thuế hoặc quy định mức trích lập rủi ro cao hơn mức bình thường. Tất nhiên khi đã có biên độ lãi suất thì tất cả các ngân hàng thương mại phải tuân thủ “luật chơi”, không được phép vận dụng thu phí tùy tiện, ngoại trừ danh mục phí dịch vụ được NHNN chấp thuận và phải niêm yết công khai minh bạch tại trụ sở giao dịch.
    Đề nghị sớm đoạn tuyệt cơ chế lãi suất thỏa thuận vừa khập khiễng, vừa mang tính nửa vời như hiện nay. Thay vào đó nên áp dụng biên độ trong điều hành lãi suất cơ bản, vừa xóa bỏ “cơ chế hai giá”, vừa cho phép các ngân hàng thương mại chủ động vận dụng lãi suất cho vay tùy theo mức độ tín nhiệm và nguy cơ rủi ro đối với từng loại hình khách hàng nhưng vẫn không thoát ly khỏi tầm kiểm soát chung.
    Lãi suất đầu ra có kèm biên độ không những tạo thuận lợi để ngân hàng yên tâm phục vụ khách hàng, mà còn hướng đến mục tiêu dài hơi hơn là bảo vệ doanh nghiệp khỏi sự “tấn công tự phát” của vấn nạn tín dụng đen, lãi suất cao, hoặc các kiểu phí tổn phi chính thức khác.
    Bên cạnh đó, lãi suất huy động trước mắt vẫn phải kiểm soát chặt chẽ, không cho phép thoát ly quá xa một cách vô lý so với chỉ số CPI, tuy nhiên nên cho phép mở biên độ phù hợp đối với huy động kỳ hạn dài từ một năm trở lên nhằm khuyến khích tăng độ ổn định nguồn vốn.


    http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/nganhang/29633/

Chia sẻ trang này