1. THÔNG BÁO VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT KHI THAM GIA DIỄN ĐÀN

    Đề nghị toàn thể thành viên diễn đàn nghiêm túc tuân thủ Luật Chứng khoán, các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an ninh mạng, giao dịch điện tử và trách nhiệm cá nhân khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên môi trường mạng, bao gồm các quy định tại Nghị định 174/2026/NĐ-CP. xem thêm

Năm mới bàn luận triết lý của đạo Phật (topic này ai đóng góp thì đóng góp chứ đừng spam nha)

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi nano9, 03/02/2008.

1314 người đang online, trong đó có 282 thành viên. 10:39 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1846 lượt đọc và 27 bài trả lời
  1. nano9

    nano9 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    25/06/2006
    Đã được thích:
    333
    Bác Huongthom đang ở bên Pháp à? langmai xa quá nếu không tham gia cũng thích lắm.
  2. hadongsp

    hadongsp Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    07/02/2007
    Đã được thích:
    1
    Lòng ham muốn của con người

    Đối với ?oham muốn? của con người, trong kinh Phật phân càng rõ ràng. Trong "Đại Trí Độ Luận", quyển 21 liệt ra 6 loại: 1. sắc dục; 2. hình mạo dục; 3.oai nghi tư thái dục; 4. ngôn ngữ âm thanh dục; 5.tế hoạt dục; 6.nhân tưởng dục.


    Theo đại học Ohio nước Mỹ nghiên cứu, tất cả hành vi của nhân loại là bị mười lăm loại dục vọng cơ bản và giá trị quan sai sử.

    Tâm hiếu kỳ: Ham muốn học tập
    Thực vật: Ham muốn ăn
    Vinh dự: Ham muốn biểu hiện hành vi mô phạm phù hợp
    Cự tuyệt: Sợ xã hội bài xích
    ********: Ham muốn ******** ngay cả hành vi và ý thức
    Vận động: Ham muốn họat động thể năng
    Trật tự: Qui luật tổ chức cuộc sống ngày thường
    Độc lập: Ham muốn tự động làm chủ
    Tâm báo thù: Ham muốn phản kích lúc bị xâm phạm
    Xã giao: Ham muốn hòa hợp với quần chúng
    Gia đình: Ham muốn cùng ở chung với người nhà
    Danh tiếng xã hội: Ham muốn được vinh dự
    Ghét bỏ tình cảm: Tránh đau khổ và lo nghĩ
    ý thức công dân: Hi vọng phục vụ công chức, truy cầu chủ nghĩa xã hội
    Quyền lực: Ham muốn mình ảnh hưởng đến người khác.

    Theo nghiên cứu cho rằng, tất cả hành vi trong cuộc sống ngày thường của con người, đều không vượt ra ngoài 15 loại truy cầu dục vọng này, đem 15 loại dục vọng ấy phân làm bốn loại lớn: Tính dục, vinh dự, báo thù và thực vật.

    Đối với ?oham muốn? của con người, trong kinh Phật phân càng rõ ràng. Trong "Đại Trí Độ Luận", quyển 21 liệt ra 6 loại: 1. sắc dục; 2. hình mạo dục; 3.oai nghi tư thái dục; 4. ngôn ngữ âm thanh dục; 5.tế hoạt dục; 6.nhân tưởng dục.

    Vả lại, Phật Đà hơn hai ngàn năm trăm năm trước đã chỉ ra những hiện tượng tâm lý vi tế của con người; Thế Thân Bồ Tát ở trong "Bách Pháp Minh Môn Luận" đối với vấn đề này giải thích rất tỉ mỉ. Ngài lấy hiện tượng tâm lý của thế gian và xuất thế gian qui nạp làm thành 5 loại lớn, đó là 100 pháp, bao gồm: 1. Tâm pháp có 8; 2. tâm sở hữu pháp có 51 loại; 3.sắc pháp có 11 loai; 4. tâm bất tương ưng hành pháp có 24 loại; 5. vô vi pháp có 6 loại. Tổng cộng là 100 pháp, cho nên gọi là ?oBách pháp?.

    Trong đó 4 loại đầu tiên là thuộc về hữu vi pháp, bởi vì tất cả pháp hữu vi đều từ nhân duyên mà sinh, cũng từ nhân duyên mà diệt, lấy đây để giải thích tâm có hiện tượng sinh, trụ, dị ,diệt; thân có hiên tượng sinh, lão, bệnh, tử; vật có hiện tượng thành, trụ, hoại, không. Loại thứ 5 là vô vi pháp, tức giải thích về thực tướng ý thức của con người, đó là chân như. Là thực tuớng như thật rời 4 tướng, chẳng phải là bách pháp, chẳng phải do nhân duyên sinh, thường trụ bất biến. Trong trăm pháp bao gồm thần kinh, tinh thần, tâm lý hoạt động của chúng sinh và các loại quan hệ giữa hoàn cảnh vật chất.

    Thế Thân Bồ Tát lại giải thích, do 8 loại tâm vương (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức, a lại da thức) sinh khởi, mà sinh ra 51 loại tâm sở cùng với tâm vương nương tựa vào nhau, duyên vào nhau, cùng lúc,cùng làm việc nhau đồng thời phát sinh. Trong đó, 5 biến hành (xúc, tác ý,thọ tuởng, tư) duyên vào tâm vương mà sinh khởi tâm sở, tâm vương không khởi thì thôi, mỗi khi khởi nhất định có 5 loại biến hành tương ưng cùng khởi. Chúng sinh do sáu căn bên trong tiếp xúc sáu cảnh bên ngoài mà có ra sáu thức, qua phân biệt của thức thứ sáu, suy nghĩ đo lường của mạt na thức thứ bảy, mà lưu lại vào trong a lại da thức thứ tám, trở thành chủng tử vĩnh hằng.

    Đối với ?dục vọng?, Phật pháp có phân tích rất sâu sắc. Trong "Duy Thức Luận", quyển 5 nói: ?ovân hà vi dục? Vu sở lạc cảnh, hi vọng vi tánh, cần y vi nghiệp?. Chúng sinh trong cõi dục chính là vì có ba dục: tham dâm, tham ăn, tham ngủ, cho nên gọi là ?dục giới?.

    Chúng sinh vì tham cầu mà sinh ra hi vọng. Đây chính là nguồn gốc trôi lăn ba cõi, luân hồi sáu nẻo. Trong "Tạp A Hàm" nói: ?dục? sinh các phiền não, ?dục? là gốc của khổ. ?dục? là tham muốn, là chướng ngại lớn nhất để tìm cầu giải thoát của chúng ta. Trong "Kinh Pháp Hoa" nói: ?o chư khổ sở nhân, tham dục vi bổn.?

    Chúng ta vì sao cứ trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi? Cũng là vì tham dục. Do tâm tham dục quá nặng, cho nên sinh ra các loại thống khổ. Trong "Kinh Phật Di Giáo" nói: ?đa dục chi nhân, đa cầu lợi cố, khổ não diệc đa.? Chính là nói rõ chúng ta cứ chạy theo tham dục, truy cầu lợi ích của tự thân, mà tạo tác ác nghiệp cho nên sinh ra vô số khổ não.

    Chúng sinh sở dĩ không thể ngộ đạo, chính là vì lòng ham muốn quá nhiều, lấy sáu căn bên trong chấp trước sáu trần bên ngoài, mà mê hoặc cảnh giới không chân thật, như huyễn như hóa, khiến cho bản tính không thanh tịnh mà có ra các khổ não. Kỳ thật sáu căn của chúng ta đều không rời tâm mà có.

    Phật pháp nói: ?otâm sinh chủng chủng pháp sinh, tâm diệt chủng chủng pháp diệt.? Mỗi khi tâm niệm của chúng ta khởi lên, tức các loại sắc pháp (cảnh giới) đồng thời sinh khởi, đi theo cảnh giới dẫn dắt mà không thể tự chủ, lúc cảnh thuận đến thì vui vẻ, lúc nghịch cảnh đến thì oán hận. Vì bị dẫn dắc theo cảnh giới thuận nghịch này, cho nên tâm địa bị ô nhiễm, tạo tác ác nghiệp, luân hồi trong sáu nẻo.

    Trên đã nói rõ, tất cả vạn vật trong vũ trụ đều do ?tâm? của chúng ta tạo ra, ?tâm? trong quá trình tu hành cực kỳ quan trọng. Đức Phật cũng đã từng dạy chúng ta tu hành là phải từ ?otâm? hạ thủ công phu. Như vậy thì khi cảnh giới đến sẽ không bị nó lay chuyển, hiểu được tất cả các hiện tượng đều do duyên sinh. Có được như vậy thì không quản là lúc thuận cảnh hay nghịch cảnh đến hoặc đi, bạn cũng không bị nó làm mê hoặc, không bị nó dẫn dắt, khiến tâm tự tại, giải thoát.

    Trong "Đại Trí Độ Luận" nói: ?oNhược pháp nhân duyên sinh, thị pháp tánh thật không, nhứợc thử pháp bất không, bất tùng nhân duyên hữu.? Do chúng sinh không hiểu được tất cả sở hữu giữa vũ trụ này đều là do nhân duyên mà có, vì thế nên lưu luyến tất cả sự tướng ở thế gian, lại không biết tất cả trên thế gian này là hư huyễn, vô thường, sẽ có một ngày do nhân duyên không đầy đủ thì sẽ tiêu mất.

    Như thế nào là hạ thủ ?otâm? tu hành nhỉ? Trong "Kinh Lăng Nghiêm" nói: ?oNhất niệm tâm bất sinh, tức như như Phật. ?Tâm của chúng sinh, mỗi một khi động niệm, tức là nguồn gốc luân hồi trong sinh tử. Trong "Kinh Địa Tạng" nói: ?oNam Diêm Phù Đề chúng sinh, khởi tâm động niêm, vô phi thị nghiệp, vô phi thị tôi.?o tức nói rằng, con người mỗi một động niệm đều là tội, đều là nghiệp.

    Các vị có thể nghĩ xem, trong một ngày chúng ta động bao nhiêu niệm đầu, trong một đời động bao nhiêu là niệm đầu, trong đó rốt ráo thanh tịnh không ô nhiễm chiếm tỉ lệ bao nhiêu? Huống hồ gì là từ vô thỉ đến nay đời đời kiếp kiếp động niệm thật là nhiều gấp ngàn vạn ức hằng hà sa số, ác nghiệp vô lượng vô biên.

    Chúng sinh nghiệp chướng nặng nề, nhưng cũng không phải lo lắng, bởi vì Đức Phật bảo cho chúng ta, một tâm niệm không sinh tức có thể ngộ nhập pháp giới chân như của Phật. Tất nhiên, chúng ta một lúc không thể đạt đến cảnh giới ?ovô tâm? , nhưng cũng có thể siêng năng tu? giới, định, tuệ? để ngăn ngừa vọng niệm của chúng ta, đợi đến lúc nhân duyên thành thục rồi thì có thể chứng nhập tri kiến của Phật.

    Nhìn chung, có thể biết đại học Ohio nước Mỹ báo cáo nghiên cứu gọi là 15 loại dục vọng ảnh hưởng đến hành vi của con người, đó chỉ là 15 giọt nước nhỏ trong biển dục của con người chúng ta mà thôi. Chúng sinh từ vô thỉ đến nay có vô lượng vô số dục vọng, tâm của chúng ta giống như đang ngồi ở thuyền chao đảo của dòng xoáy tham dục, rồi sẽ có một ngày bị chìm đắm (tức bị đọa lạc vào trong ba đường ác). Chỉ có Phật pháp mới có thể cứu chúng ta ra khỏi dòng xoáy đó, thoát ly biển khổ của con người.
  3. hadongsp

    hadongsp Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    07/02/2007
    Đã được thích:
    1
    Lợi ích khi lìa bỏ tham dục

    Là con người, ít nhiều thì ai cũng có lòng tham. Nói con người không tham là chưa chính xác. Có nhiều cái để tham, tạm khái quát qua các mặt: tài, sắc, danh, thực, thuỳ. Muốn kềm chế lòng ham muốn không phải dễ, vì hầu như không bao giờ người ta thấy mình đầy đủ. Để có một cuộc sống thanh bạch, nhẹ nhàng, không phiền não, lo âu, sợ sệt, chúng ta cần biết đủ, tức là sống thiểu dục tri túc. Điều này không phải ai cũng làm được, bởi lòng tham vốn không đáy.
    Thế gian, dù có bao nhiêu, đa số mọi người vẫn cứ thấy thiếu. Chỉ có hạng người biết đủ mới không có cảm giác luôn thấy mình chưa đủ và không bị lòng ham muốn dằn vặt mà thôi.
    Cuộc đời Đức Phật là một tấm gương sáng chiếu về vấn đề này. Là một thái tử, ngài có đầy đủ tiền tài, danh vọng, cung vàng, điện ngọc, vợ đẹp, con ngoan?, nhưng ngài sớm nhận biết những thứ đó không làm cho ngài an lạc. Ngài đã vì lý tưởng lớn, vì nhân loại, vì muốn chỉ tri kiến Phật cho chúng sanh tỏ ngộ mà khước từ tất cả hạnh phúc thế gian. Có thể nói, người có quyền lực, tiền tài, danh vọng mà dám từ bỏ, không tham đắm, đó mới là người có ý chí tối thượng. Người đã thiếu mà còn tham thì lại càng thêm khổ. Cũng như vậy, nhu cầu luôn làm cho con người cảm thấy thiếu, mà càng thấy thiếu thì lại càng khổ. Biết mình sống tạm đủ, không bon chen danh lợi thì nhất định sẽ có phần nào an lạc. Trong kinh dạy rất rõ: ?oNếu biết đủ thì nằm đất cũng thấy đủ; nếu không biết đủ dầu ở thiên đường cũng không xứng ý?.
    Do tham đắm nên nghiệp mới lôi kéo con người triền miên trong sanh tử luân hồi. Bản tánh tham đã có trong nhiều đời nhiều kiếp, muốn gột rửa nó thì phải trải qua quá trình tinh tấn tu tập. Đứa trẻ ba bốn tuổi thấy những sinh vật nhỏ bé như: cào cào, bươm ****? nó liền muốn bắt, đó là tập khí muốn chiếm hữu; hoặc khi đưa vật gì màu xanh, màu đỏ nó chụp lấy ngay, không lấy được nó khóc xanh mặt, tánh tham này có từ trong bụng mẹ. Những tánh tham ấy không phải ngày một ngày hai mà lìa bỏ được. Phải kiên nhẫn gột rửa dần dần, như cái áo trắng dính bẩn lâu ngày không giặt, nếu chỉ giặt một lần, giặt sơ sơ thì không thể sạch được, nhưng điều quan trọng là ta thấy được vết bẩn ấy và quyết tâm tẩy nó đi. Tập từ những bước đơn giản, ví như: Tập cho mình tánh giản dị trong cuộc sống, chẳng hạn như bữa ăn hàng ngày không quá cầu kỳ, dưỡng chất, chỉ cần làm sao vừa đủ để nuôi thân. Như vậy, chúng ta không phải lao tâm khổ tứ vì chuyện ăn mặc và có nhiều thời gian để tu tập.
    Có thể nói, trên bước đường tu tập, đường đi lên rất khó còn đường đi xuống lại rất dễ, bởi tiền tài, sắc dục có sức rất mạnh, thường dễ lôi kéo, cám dỗ con người. Do đó, cần phải chế ngự năm căn, không để cho nó sai xử, dẫn dắt, phải biết làm chủ hành động của mình. Nên nhớ, nghiệp cũ chưa dứt bỏ hết thì không nên tạo thêm nghiệp mới; nếu chưa biết hút thuốc thì đừng hút, bởi khi huân tập rồi thì khó mà bỏ được. Cũng như vậy, điều tốt chưa sinh thì khiến nó phát sinh, điều tốt đã có rồi thì làm cho nó phát triển hơn nữa. Bằng sự nỗ lực, mỗi người trong chúng ta cố gắng khắc kỷ và làm hòn đảo cho chính mình, đừng để sóng tham dục nhận chìm, bởi việc tốt thì khó làm mà việc xấu lại dễ huân. Chúng ta hãy giữ vững lập trường, ý chí, không chạy theo ngũ dục, trần cảnh, tự chế ngự thân tâm và thực tập sống với tinh thần biết đủ để an vui. Đức Phật nói người ngu si ám độn thì bị đắm chìm trong buông lung. Người không lấy trí tuệ làm nền tảng của sự nghiệp thì không biết cái nào là phải - trái, tội - phước? Do đó họ có thể làm bất cứ điều gì, để rồi kết quả là đọa lạc trong cảnh khổ nhiều kiếp.
    Người trí không buông lung tham đắm nên họ chẳng lo sợ gì, còn kẻ ngu si luôn ôm nhiều lo sợ. Người có trí giống như người đứng ở trên lầu cao nhìn xuống muôn vật, biết rõ sự tốt - xấu, thấu tỏ người ngu - trí. Trước khi làm việc gì, chúng ta cần suy nghĩ đến hậu quả của nó. Việc xấu cho dù có mang đến danh lợi nhất thời chúng ta cũng không làm. Việc nào đáng nói mới nói, nói cho đúng sự thật, đúng thời và đúng chỗ. Bậc trí là người đứng trên danh lợi, tài sắc, đứng ngoài các tội lỗi của thế gian, thấy những người nghiền rượu, xì ke, biết được hậu quả của nó và không để vướng vào các tệ lậu đó. Người sống trong sự cám dỗ của tham dục khó có thể nhận ra điều dở, xấu của mình. Thế nên, chúng ta phải tập quán sát các pháp thế gian như mộng, huyễn? để thức tỉnh sự tu tập, bởi chỉ có đạo đức và trí tuệ là không bao giờ tan hoại. Trí tuệ, đạo đức phát sinh từ sự tu tập của chính mình, nó là cái không thể mua bán, chiếm đoạt, cũng không thể do một quyền năng nào đó ban tạo mà có được. Ở đời, không để nhiễm dục lạc trần gian là điều rất khó, tuy nhiên, người hiểu biết sẽ không để cuộc sống của mình đắm chìm trong dục lạc. Chúng ta phải sống và tu tập như thế nào để trở thành người cư trần mà không nhiễm trần, luôn phòng hộ các căn không để buông lung. Giống như anh chàng đi tìm thầy học kiếm, tuy không được học kiếm ngay mà phải làm công việc nấu cơm, dọn dẹp, nhưng nó cũng tập cho anh tính kiên nhẫn và sự thuần thục, nhanh nhẹn trong từng thao tác của công việc. Một hôm, trong lúc anh đang nấu cơm, vị thầy đột nhiên xuất hiện và chém gươm xuống, anh ta phản xạ rất nhanh và tránh được nhát kiếm. Từ đó về sau, anh ta luôn tập cho mình sự phòng hộ trong mọi tình huống, bởi vì lưỡi gươm bất cứ lúc nào cũng có thể cướp đi mạng sống quí giá của anh ta. Cũng như vậy, chỉ một phút lơ là đắm nhiễm, ngũ dục lạc thế gian sẽ đoạn mất căn lành khiến chúng ta đời đời đau khổ.
    Tuy nhiên, nói vậy không phải để mọi người chán ghét tất cả mọi thứ thuộc về thế gian mà chúng ta nên hiểu: Những thứ ấy chỉ là phương tiện, không phải cứu cánh. Thế gian này chỉ là tương đối, vì thế, không phải cái gì cũng vừa ý mình, nếu không biết sự giả tạm của nó mà đắm nhiễm vào đó, không khéo sẽ bị khổ không dứt vì tham muốn. Chúng ta cũng không nên để cho sự khắc kỷ đi đến mức cực đoan, ở phương tiện nào chúng ta nên sống theo phương tiện đó, chẳng hạn như khi ăn uống, không phải vì từ bỏ mọi ham muốn mà bỏ đi những thứ ngon tốt, chọn ăn những thứ dở xấu. Làm như thế là thiếu trí tuệ và cố chấp. Tự tạo cho mình cuộc sống thoải mái, đơn giản, không cầu kỳ thì sẽ được an vui cả thân lẫn tâm, sự an vui này là thành quả của việc lìa tham và biết đủ.
    Mỗi ngày, trước khi đi ngủ chúng ta nên suy xét từ sáng đến giờ mình đã làm những việc gì, từ ý nghĩ, lời nói đến hành động, xem việc nào sai trái thì ăn năn, chừa bỏ, việc nào tốt thì cố gắng làm tốt hơn. Trong cuộc sống, điều gì mình không muốn mà nó đến với mình thì nên khắc phục và cố gắng tĩnh tu. Đức Phật từng dạy: ?oBậc trí chăn giữ tâm mình không buông lung như nhà giàu chăn giữ của quí?. Nếu chúng ta cứ để cho trần cảnh và những việc trái ý nghịch lòng mặc sức tạo cơ hội cho tham sân si nổi lên thì việc chế ngự thân tâm rất khó có kết quả. Đối với những chuyện vui buồn, tâm rất dễ chiêu cảm, cho nên chuyện gì cũng thâu tóm vào trong tâm thì chúng ta rất khó có được sự tự tại.
    Trong kinh Pháp Cú Đức Phật có dụ: ?oNhà lợp không kín ắt bị mưa dột, kẻ tâm không tu thế nào cũng bị tham dục lọt vào tàn phá?. Đức Phật thường đưa ra những ví dụ cho chúng sinh hiểu, như trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện, Người muốn đưa chúng sinh từ tam thừa trở về nhất thừa, nên đưa ra dụ ?onhà lửa?, trong đó chỉ có một cái cửa, mà những người con chẳng hiểu gì là nhà, gì là cửa, cũng không biết được sự nguy hại của lửa nên cứ mãi chơi giỡn trong đó, chẳng chịu thoát ra; cũng như chúng sinh trong ba cõi không biết được tham dục là khổ nên chẳng chịu tu. Đức Phật nói khổ trước rồi mói chỉ bày phương tiện sau, bởi Bồ Tát sợ nhân chúng sinh sợ quả. Đức Phật biết tâm chúng sinh sợ đi trên con đường dài xa nên mới đưa ra phương tiện tam thừa như xe dê, xe hươu, xe trâu tuỳ theo sức chở mà đưa chúng sinh đến bờ an vui. Khi chúng sinh đã hiểu, áp dụng được phương tiện, ra khỏi sự nguy hiểm, lúc đó Đức Phật mới chỉ bày ngoài Phật thừa ra không có thừa nào khác.
    Có thể nói, nếu không tỏ được đạo thì chúng ta giống như hình cây, tượng gỗ, hớn hở trong sự phiền não nguy ngập mà không nhàm chán. Vì thế, chúng ta nên luôn luôn tự xét lấy mình, đừng để thâm tâm buông lung đắm nhiễm các dục ở đời.


    Được hadongsp sửa chữa / chuyển vào 11:03 ngày 03/02/2008
  4. happiness7983

    happiness7983 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/04/2004
    Đã được thích:
    0
    choài, nhiều chữ quá, đọc hem có hết
  5. linhlong_vn

    linhlong_vn Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/08/2006
    Đã được thích:
    0
    Vụ đòi tòa khâm: câu chuyện về chiếc giếng cổ và cây thánh giá

    [02.02.2008 09:49]

    Giếng đá cổ chùa Báo Thiên được dùng để thắp nến dâng lên thánh giá
    Sự kiện "cầu nguyện" đòi đất đã tạm khép lại với hình ảnh cây thánh giá bằng sắt tây của Công giáo được dựng lên đằng sau miệng giếng đá cổ của ngôi chùa Phật giáo linh thiêng đang rực cháy lung linh trong sân nhà thờ chính tòa Hà Nội, không biết có mách bảo, thức tỉnh hay báo trước một viễn cảnh gì không?




    Người buộc nút đã cởi nút

    Sau những ngày dầm dề "cầu nguyện" đòi đất, ************* địa phận Hà Nội Ngô Quang Kiệt cuối cùng đã cho người gỡ cây thánh giá được giáo dân cắm vào mảnh đất "Tòa khâm" và chuyển vào Tòa giám mục. Lều bạt mà giáo dân vạ vật cư trú mấy ngày qua cũng được dẹp bỏ.



    Gỡ thánh giá đưa khỏi đất Nhà văn hóa quận Hoàn Kiếm

    Không biết vô tình hay hữu ý, có nhân duyên gì hay không mà cây thánh giá chuyển về từ "Tòa khâm" lại được trồng đằng sau một ?obệ đá? hình tròn, trên đế có cạnh vuông, với hoa văn chạm nổi rất đẹp. Trên ?obệ đá? ấy, giáo dân đã thắp lên hàng chục ngọn nến lung linh, rực rỡ.



    Thánh giá được cắm cạnh bệ đá

    Có lẽ đa số giáo dân tham gia sự kiện trong ảnh và khán giả xem ảnh trên mạng chỉ tập trung vào cây thánh giá bằng sắt cao tới gần 5 mét, mà ít để tâm đến chiếc ?obệ đá? có thắp nến đó.

    Vật chứng còn lại sau gần 1.000 năm

    Chúng tôi xin thưa rõ về lai lịch nguyên ủy của chiếc ?obệ đá?: Đây là miệng của một ngôi giếng cổ trong chùa Báo Thiên có từ thời Lý.

    Tư liệu trên Tạp chí Văn hóa Phật giáo cho biết, giếng đá này vốn nằm ở số 40 phố Nhà Chung, trong con hẻm có nhiều nhà dân. Cách đây hơn 10 năm, người trong ngõ còn dùng nước giếng này để nấu ăn, sinh hoạt, vì nước trong và đủ dùng cho họ. Đây là một giếng cổ khá to bằng đá nguyên khối. Nó hiện lên trước mắt tròn trịa như một cái đỉnh, quanh chân chạm khắc hoa văn hình hai lớp cánh sen lồng vào nhau tuyệt đẹp. Chiếc giếng đá này có ba điểm đặc biệt:

    Thứ nhất, nó nằm trong khuôn viên của đệ nhất danh lam thắng cảnh đời Lý là chùa Báo Thiên. Theo sử liệu, có thể đoán rằng cách giếng đá không xa là bảo tháp 12 tầng, với chóp bằng đồng, vốn là một trong bốn "Đại Nam tứ khí" thời xưa.

    Thứ hai, về mặt tạo hình mỹ thuật và chất liệu, đó là một giếng đá độc đáo của Thăng Long sót lại tới nay. Vì các giếng đề cập trước đây, kể cả hệ thống di tích các giếng của hoàng thành xưa mới phát hiện, có miệng xây bằng gạch và không có bờ giếng, nên mặt đất với mặt giếng bằng nhau. Đằng này, giếng đá cổ nói đến ở đây có bệ hình vuông với mỗi cạnh đo gần 1,5m. Từ bệ lên tới miệng cao 0,60m; vòng bụng chỗ giếng phình ra rộng tới 1m.

    Thứ ba, ngoài nội dung di tích, giếng đá còn là một chứng tích của những giai đoạn lịch sử sóng gió. Vì, như đã nói, cổ tự Báo Thiên là đệ nhất danh lam của kinh thành, song tới thế kỷ 15 bị quân Minh chiếm phá và đập tháp để lấy vật liệu chống đỡ sức tấn công của đại quân Bình định vương Lê Lợi. Đến đời Lê, chùa được trùng tu. Cuối thế kỷ 18, chùa trở nên đổ nát vì chiến sự, rồi được phục dựng lại dưới triều Nguyễn. Thời Pháp lại bị phá lần nữa, mà theo nhà sử học Trần Huy Liệu, đó là "sự phá hoại đáng kể đầu tiên của thực dân Pháp ở Hà Nội.". Sau này giếng bị tách ra khỏi chùa, nằm ngoài khu vực có xây một bức thành ngăn riêng ngõ ra vào của dân.

    Gần đây, năm 2002, giếng vẫn còn, nhưng tiếc là đã bị đổ cát lấp đầy và phần dưới chân sát nền bị tô trát xi măng che lấp gần hết hoa văn cánh sen. Căn cứ vào sổ sách ghi chép và kiểu cách, chất liệu của giếng đá nói trên, được cho là một di tích còn sót lại của chùa Báo Thiên, cần được phục hồi nguyên dạng để bảo vệ.

    Việc này được phát hiện và báo chí đưa tin. Sau khi báo đưa tin các vị thẩm quyền của nhà thờ chính toà Hà Nội đã cho đào giếng cổ ấy lên, đem về đặt trước hang đá bên trong khuôn viên nhà thờ.

    Giếng đá này đã gần 1.000 năm tuổi và được các nhà khảo cổ học đánh giá là giếng đá cổ nhất Việt Nam hiện nay.

    Đặc biệt, căn cứ vào các vết tích người xưa khi dùng dây kéo nước, trên thành miệng giếng hiện còn để lại những rãnh đá mòn lõm sâu, có thể đặt vừa cả ngón tay. Giếng đá cổ được xây bằng những tảng đá nguyên khối, phần cổ giếng được tạo bởi 2 khối đá cao 30cm, đường kính của giếng khoảng 80cm. Dưới bàn tay khéo léo tài tình của những người thợ xưa, giếng đá cổ được xây rất đẹp và vững chắc. Chính vì thế, qua thăng trầm của thời cuộc, giếng đá cổ vẫn tồn tại vững vàng như một biểu tượng về văn hoá, lịch sử của đất Hà Thành?

    Cổ giếng là một khối đá tròn, tạo dáng thắt cổ bồng như lư hương. Miệng giếng hơi bóp vào, đường kính lọt lòng 64cm. Phần thân dưới phình ra, chạm hoa hình cánh sen 2 lớp, đường kính phủ bì 88cm. Bên trong miệng giếng có rất nhiều rãnh mòn do người xưa dùng dây kéo nước tạo nên.

    Cổ giếng đặt khít khao trên một bệ đá tám cạnh nguyên khối. Bệ giật cấp phân ô, có chạm hoa văn rồng và mây ở gờ trên, hoa lá ở eo giữa, chân choãi ra chạm đầu như ý. Chiều cao của giếng cổ là 60cm. Giếng đá cổ độc đáo của chùa Báo Thiên, ai cũng phải thừa nhận nó đạt đến trình độ kỹ thuật lẫn mỹ thuật rất cao, chưa có cái nào khác sánh bằng. Sở dĩ như thế vì đây là giếng đá của một ngôi quốc tự danh tiếng bậc nhất kinh đô. Chùa tháp Báo Thiên là đỉnh cao của mỹ thuật kiến trúc Phật giáo. Theo sử sách ghi chép, ngôi chùa này đặc biệt có rất nhiều tự khí, tượng thờ bằng đá to lớn tuyệt đẹp.

    Trở lại vấn đề, năm 1883, thành Hà Nội bị thực dân Pháp đánh chiếm, sau đó Giám mục Puginier câu kết với Công sứ Bonnal và gian thần Nguyễn Hữu Độ chiếm đoạt chùa Báo Thiên để kiến tạo nhà thờ chính toà Hà Nội. Từ đó, một biểu tượng văn hoá của kinh đô Thăng Long, niềm hãnh diện chung của dân tộc Việt dần dần bị chìm vào quên lãng!

    Trải qua gần 1.000 năm, biết bao biến động lịch sử, ngoại xâm nội chiến, cuồng tín hận thù mà giếng đá Báo Thiên vẫn tồn tại, thật là điều kỳ diệu! Nó xứng đáng được vinh danh là cái giếng đá Việt Nam cổ xưa nhất, đẹp nhất, còn hoàn chỉnh nhất để làm biểu tượng văn hoá, lịch sử của vùng đất thiêng Thăng Long ?" Hà Nội. Đó chính là ?ocủa tin? còn lại của cả dân tộc, chẳng của riêng ai.

    Vô tình, hữu ý hay là do nhân quả xếp đặt

    Không phải ngẫu nhiên mà trong tất cả các lý do, lý luận, văn kiện, lời kêu gọi, thư từ, báo chí của các tổ chức công giáo về sự kiện giáo dân cầu nguyện đòi trả lại tòa khâm sứ lại tuyệt nhiên không đả động gì đến các vấn đề lịch sử. Họ bác bỏ, họ phủ nhận, họ coi thường, họ chà đạp hay họ lảng tránh? Có lẽ là tất cả và hơn thế nữa. Không biết các giáo dân có lương tri, lương năng và lương tâm sẽ suy nghĩ và hành động ra sao khi họ biết rõ các sự thật lịch sử đó?

    Và sự kiện đó đã tạm khép lại với hình ảnh cây thánh giá bằng sắt tây của Công giáo được dựng lên đằng sau miệng giếng đá cổ của ngôi chùa Phật giáo linh thiêng đang rực cháy lung linh trong sân nhà thờ chính tòa Hà Nội, không biết có mách bảo, thức tỉnh hay báo trước một viễn cảnh gì không?

    Với tôi, hình ảnh này là sự vỡ òa của lịch sử và hiện thực. Sự thật cuối cùng đã được bộc lộ. Có thể coi tấn bi hài kịch đã được cởi nút. Năm 1883, Giám mục Puginier và gian thần Nguyễn Hữu Độ chiếm đoạt chùa Báo Thiên để kiến tạo nhà thờ chính toà Hà Nội, thì hôm nay, ************* Ngô Quang Kiệt, lại một lần nữa, lặp lại và diễn tiếp ?ovở kịch? lịch sử, vô tình hay hữu ý đã lấy Giếng đá cổ chùa Báo Thiên linh thiêng của Thăng Long ?" Hà Nội 1.000 năm tuổi dùng làm bệ thờ thắp nến dâng lên thánh giá bên hang đá trong tòa giám mục Hà Nội. Chỉ có điều khác là, bây giờ là năm 2008 và nước Việt và dân Việt chúng ta đã ở một tâm thế khác.

    phattuvietnam.net

    http://www.phattuvietnam.net/index.php?nv=News&at=article&sid=2952
  6. pkNOOB

    pkNOOB Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    17/01/2008
    Đã được thích:
    0
    Kiểu này các bác phải làm cái forum về Phật học chứ các bác giác ngộ hết cả rồi. Vài hôm nữa có khi các bác lên Niết Bàn, em theo không kịp.

    Tôn giáo là tiếng thở dài của nhân loại. Chẳng biết đúng hay sai.
  7. NguyenHuongThom

    NguyenHuongThom Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    06/12/2006
    Đã được thích:
    0

    Nano9 ơi !
    Khoảng cách địa Lý ko có ý nghĩa gì nhiều trong "TÂM LINH" ,xa mà gần "PHẬT TẠI TÂM ,TÂM TỨC PHẬT"
    Quan trọng là biết hướng về Đạo Phật là đủ ,mình cứ vào Làng Mai ,ở đó có nhiều vấn đề để ta được học hỏi !

    "NHỮNG ĐIỀU TA BIẾT CHỈ NHƯ LÁ CÂY TRONG LÒNG BÀN TAY ,NHỮNG ĐIỀU TA CHƯA BIẾT NHƯ LÁ CÂY Ở TRÊN RỪNG VẬY " -Trích lời Phật dạy -

    Nano9 có nhiều bài viết về PTKT rất hay ,những bài về triết lý cuộc sống cũng rất ấn tượng ,chúc bạn luôn hạnh phúc và thành công để ngày càng có nhã hứng đóng góp cho forum nha!
  8. magyar

    magyar Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    11/04/2006
    Đã được thích:
    3.074
    moi cac ban vao xem trang
    chuaphatquang.net
  9. mr_hn_codon

    mr_hn_codon Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    08/12/2006
    Đã được thích:
    0
    Cám ơn Nano9 đã lập ra 1 topic rất hay để chiêm nghiệm. Sau 1 năm lăn lóc mưu sinh, tính toán rồi đo đếm thành quả... Những ngày cuối năm, trong cái bộn bề sum họp ..có những giây phút thảnh thơi, đọc triết lý đạo Phật...ngẫm cũng thật thâm thúy và thanh nhàn...
    Theo triết lý đaô Phật, thì tội lỗi con người phần lớn nảy sinh từ tư tưởng Tham-Sân -Si, sự sa đà vào tư tưởng này tạo ra sự mất cân bằng trong nhận thức, khiến lu mờ hoặc che khuất bàn năng NGỘ trong mỗi con người....Tuy nhiên theo ngu ý của tôi thì chữ Tham chính là 1 phần thúc đẩy sự phát triển XH. Chữ Tham ấy là động lực cho mọi thành quả đạt được....Có thể phân loại thành nhiều luồng tư tưởng THAM, nhưng tựu chung lại, cho dù tích cực hay tiêu cực, không thể phủ nhận vai trò của sự THAM ấy trong guồng máy XH và mỗi con người.....
    Liệu tôi có sai không nhỉ???
  10. nano9

    nano9 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    25/06/2006
    Đã được thích:
    333
    Cám ơn bác đã chia sẻ suy nghĩ của mình. Tác phẩm "Bàn Tay Vô Hình" của Adam Smith có nói giống như bác nói : nếu một cá nhân hành xử trên cơ sở lợi ích riêng của mình thì lợi ích xã hội sẽ được nâng cao. Tuy nhiên chữ THAM của đạo Phật không đơn thuần là ở khía cạnh vật chất như vậy, mà chữ THAM của đạo Phật còn bao hàm những ý nghĩa rộng hơn và dùng để giải thích các phạm trù về tâm linh nữa chứ không đơn thuần là để giải thích sự vận động vật chất của xã hội. THAM là phần tiêu cực của con người nhưng lại là một nửa không thể thiếu của một mối quan hệ ÂM DƯƠNG, nếu không có THAM thì sẽ không có một con người thống nhất, và sự điều chỉnh tỷ lệ cân bằng ÂM nhiều hay Dương nhiều sẽ tạo ra những con người khác nhau. Chúng ta không thể sống mà không THAM, vấn đề là điều chỉnh nên THAM ở mức độ nào mà thôi, ngay cả Đức Phật - người được coi là từ bi nhất cũng vẫn tồn tại lòng tham trong lòng, đó là ham muốn giảm được chữ THAM trong lòng dân chúng, và chữ tham này phải được hướng dẫn bởi đạo đức, bất kể lý thuyết về vị kỷ hay động cơ lợi nhuận có thành vấn đề hay không.

Chia sẻ trang này